Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Francis Assisi Lê Đình Bảng
Tủ Sách CGVN

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Học Hỏi Kinh Thánh

Lớp KT Sr Cảnh Tuyết

Nova Vulgata

Sách Bài Đọc UBPT

LỜI CHÚA LÀ ÁNH SÁNG

GH. Đồng Trách Nhiệm

Video Giảng Lời Chúa

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Vụn Vặt Suy Tư

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Bài Viết Của Francis Assisi Lê Đình Bảng

Đọc thơ tình yêu Lê Đình Bảng - Bùi Công Thuấn

Mời bạn đọc bài thơ

CHUYỆN HOA XOAN MÙA THƯƠNG KHÓ                

Francis Assisi Lê Đình Bảng.

KINH CẦU LỄ TRO MÙA CHAY
Có những lúc, đói lả người, run rẩy
Thèm gié lúa non, bứt trộm ven đường
Vài hạt thôi, cho miệng đỡ nhạt hơn
Chuyện con kiến, quá tầm thường, vụn vặt

HIỆN TƯỢNG LỤC BÁT TRONG THI CA VIỆT NAM
Các nhà nghiên cứu về Việt Nam học, về văn hóa Việt Nam đã có một tiếng nói chung khi đưa ra nhận định khá lý thú này: “Việt Nam là đất nước của thi ca”. Có nghĩa, bẩm sinh người Việt mình đã là thi sĩ (Natus poetà). Một nhận định khác có vẻ căn cơ hơn: “Văn hóa gốc nông nghiệp trọng âm, trọng tình cảm, tất yếu có khuynh hướng thiên về thơ. Văn hóa gốc du mục trọng dương, trọng lý trí, tất yếu dẫn đến khuynh hướng thiên về văn xuôi[1]. Thống kê trên hai tập Từ Điển Văn Học[2] cho thấy, trong 198 mục từ tác phẩm văn học phương Tây thì có 43 thơ và 115 văn xuôi (tỷ lệ văn xuôi 78,3%). Còn trong 95 mục từ tác phẩm văn học Việt Nam thì đã có tới 69 thơ và 26 văn xuôi (tỷ lệ thơ 72,6%). Nói một cách khác, thi ca đã bao trùm, phủ bóng lên dòng văn học Việt Namtừ thể loại dân gian truyền khẩu cho đến lịch triều bác học thành văn. Đại để là các trường hợp: Trê Cóc, Trinh Thử, Nhị Độ Mai, Bần Nữ Thán, Nữ Tú Tài, Bích Câu Kỳ Ngộ, Ngọa Long Cương Vãn, Tư Dung Vãn, Tự Tình Khúc, Ai Tư Vãn, Hoa Tiên Truyện, Mai Đình Mộng Ký, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm, Quan Âm Thị Kính, Kim Thạch Kỳ Duyên, Sơ Kính Tân Trang, Đoạn Trường Tân Thanh, Lục Vân Tiên

TẢN MẠN CHUYỆN RỒNG… RẮN LÊN MÂY
Trong thế giới muôn hình muôn vẻ của “giống má”, có lẽ chỉ có con Rồng là lạ hoắc, chẳng rõ ngọn ngành nó ra làm sao. Khi hư khi thực, lúc ẩn lúc hiện, vừa dữ tợn, vừa hiền khô. Chẳng hiểu Rồng xuất hiện trên trái đất này từ đời thuở nào và đến nay có còn rơi rớt chút gì về tông tích không? Chỉ biết một cách rất ư hàm thụ rằng nó thuộc diện biểu động vật V.I.P-… kể cả lớp hậu duệ bảy mươi bảy đời của nó là “Khủng long” tuyệt chủng từ khuya - những con vật mang hình thù, diện mạo cổ quái, đến nỗi chỉ nghe nói thì người ta đã khóc thét lên. Cũng may, tàn dư hậu tích của chúng chỉ còn là những bộ xương cồng kềnh vô hồn được trưng bày trong các phòng thí nghiệm động vật hoặc giả được máy móc hóa để dàn dựng mua vui cho đám trẻ con hiếu kỳ trong thể loại phim hoạt hình. Đến như sách thánh Khải Huyền mà còn phải đặc tả: “Đó lá một con Rồng lớn, toàn thân đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba tinh tú trên trời mà quăng xuống đất. Rồi con Rồng đứng chực sẵn trước mặt người phụ nữ sắp sinh con, để khi bà hạ sinh xong là nó nuốt chửng ngay đứa con của bà” (KH 12,1). 

BÀI NHÃ CA THÁNG GIÊNG

Đêm nay, nhớ chong đèn, chờ nhau, nhé
Đốt trầm lên, thức trắng, hết canh ba
Bởi đầy trời, rộn rã tiếng hoan ca
Và nhật nguyệt kết đôi vầng sáng rỡ

TỪ SILENT NIGHT HOLY NIGHT … ĐẾN ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG.
Hằng năm, cứ vào độ này, cả đất trời như nhuốm chút gì ủ dột, se se lạnh, rồi gia giá, rét run. Nhìn lá cây đã vàng úa, chanh mơ từ bao giờ; có nơi đã sớm ngả sang màu đỏ điều, vang chát, huyết dụ. Đẹp rực rỡ mà sầu muộn, nói theo ngôn ngữ phù thuỷ của Văn Cao là “buồn tàn Thu”. Trông thấp thoáng tranh sơn dầu Hoa Diên Vỹ của danh hoạ Van Gogh và Phái phố, Hà Nội xưa xa. Chẳng hiểu sao, lòng tôi - trong khoảnh khắc say hương say khói ấy, cứ dâng lên bâng khuâng nỗi nhớ cái khăn len quàng cổ còn thơm bàn tay con gái ai đan tặng hôm nào ngồi với nhau bên lò sưởi, ở một phố huyện ngoại ô miền núi. Thèm đến bồi hồi được sống lại cảm giác long hong, để quên hai tay trong túi quần, lững thững đi xuống những con dốc sương mù bay bay. Rõ ràng có một mùa đông hồi trai trẻ, đương yêu rất lãng mạn. Vâng, sự thật là có những không gian Giáng Sinh: nhỏ bé thôi, như góc phố toả lên mùi cà phê còn hun khói. Mà cũng có nơi chốn Giáng Sinh rộng lớn hơn, như thị xã Phan Rang mịt mù gió cát, ở phía đầu cầu Đạo Long; như tỉnh lỵ Kontum, Ban Mê bồng bềnh và Đà Lạt trăng mờ… Không gian vốn là bến đỗ cho một câu chuyện của hai người diễn ra, của em và của tôi, viết nên một truyện tình. Rồi chẳng ai hẹn hò, một hôm về ngang qua, dừng bước, nhung nhớ vẩn vơ. Nhớ và yêu một chỗ ngồi, một cái ghế mây, một ô cửa sổ mở ra cánh đồng bắp trổ cờ, váng vất lũ chuồn chuồn ngô chấp chới. Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hương.(1) Không lẫn vào đâu được. Tôi nhớ rõ mồn một. Thơ, nhạc, cây guitar thùng, người yêu và Giáng Sinh, như một chuỗi liên kết. Một thời để nhớ, để yêu. Tất cả những dây tơ, bến bờ đầu mối ấy liền lạc chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Cái nọ xê dịch, gợi mở và đẩy đưa, lôi cuốn cái kia, dùng dằng như một dây chuyền cung ứng, hệt như một con tầu kéo theo nhiều toa đang lao về ga cuối, bát ngát, ràng buộc. Đừng khăn chia lìa gối. Thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà, phải tội đàn ông.(2) Trẻ em, con cháu chúng ta ở làng quê xưa, sao vụng dại mà dễ thương đến thế?

BÁO CHÍ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HÀNH TRÌNH THẾ KỶ - MỘT THOÁNG NHÌN

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, để Loan Báo Tin Mừng Cứu Độ (Mc 15,16). Mời gọi và lệnh truyền ấy, đến nay và mãi mãi về sau, vẫn cứ là bản chất của Hội thánh, vẫn cứ là một sứ mạng thiêng liêng và chí cốt của mọi tín hữu.

HÁT TRÊN ĐỈNH TRỪƠNG SƠN
Ta đứng hát
trên đỉnh trời cao ngất
Trường Sơn ơi, bát ngát mấy trùng khơi
Cả đại ngàn
nhuộm thắm máu đang tươi
Và sông suối vỗ tay reo tở mở

KINH SÁCH NGUYỆN GIỖ CẦU HỒN - MỘT DI SẢN ĐỨC TIN VĂN HÓA
Chẳng hiểu mối quan hệ giữa người sống với kẻ chết ở bên Tây bên Mỹ khắng khít, ràng buộc đến cỡ nào. Chứ ở Việt Nam ta, chuyện sống chết, tử sinh, mất còn, âm dương và đời này đời sau, tuy bất thành văn, nhưng vốn dĩ đã vận vào người, đã ghi tâm khắc cốt, đã truyền tử lưu tôn, không cần phải bàn. Ấy là sự tử như sự sinh, nghĩa tử là nghĩa tận.

THIÊN ĐÀNG, ĐỊA NGỤC ĐÔI QUÊ
Thiên đàng, địa ngục, đôi quê

Ai khôn thì về.  Ai dại thì xa

Đêm về, nhớ Chúa, nhớ cha

Đọc kinh, cầu nguyện, kẻo sa linh hồn. . .

THƯ EM TÊRÊSA GỬI CHỊ PAULINE - Kính đâng Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
1.Chị biết đấy,
Chúng mình mồ côi
khi hãy còn trẻ thơ, bé bỏng
Mẹ, nhành lan, nhành quế ngả về non
Tội tình Cha
phận gà trống nuôi con
Như người ta bảo
năm chị em mình, Ngũ Long Công Chúa

BAO GIỜ CHO ĐẾN THÁNG MƯỜI
Tôi từ Phố Hiến xa xôi
Ruổi theo con nước, bãi bồi long đong
Hôm vô tới xứ Đàng Trong
Gặp em ở miệt Ba Giồng mới lên

TỪ KINH NHẬT MỘT “MAGNIFICAT” ĐẾN BÀI THƠ “LA VIERGE À MIDI”... VÀ...
Paul Claudel (1868-1955)... chẳng hiểu vì một động cơ huyền nhiệm nào? Sau khi dự thánh lễ ban sáng, đến chiều, trở lại nhà thờ Đức Bà Notre Dame Paris một lần nữa. Chàng nhớ rõ ràng: “Hôm nay, Thứ Bảy, ngày cuối tuần, kính Đức Mẹ. Vẫn một thói quen, có buổi hát kinh chiều trọng thể kính Đức Mẹ... Tôi vào nhà thờ, dừng lại nơi cột trụ có đặt tượng Đức Mẹ ẵm bồng Chúa Giêsu Hài Đồng, một tác phẩm điêu khắc tôn giáo có giá trị nghệ thuật từ thế kỷ XIV... Khi ca đoàn xướng kinh Magnificat, bỗng xảy ra một biến cố phi thường... Trong giây lát, lòng tôi xúc động khôn tả. Đôi mắt tinh thần của tôi mở ra và tôi đã tin. Ôi, những kẻ có đức tin phúc đức là dường nào! Tất cả trở thành sự thật: Thiên Chúa hiện hữu, Ngài đang có mặt nơi đây. Ngài là Đấng hằng sống. Ngài hiện hữu thật sự, như chính tôi hiện hữu. Ngài yêu thương tôi và kêu mời tôi đến với Ngài... Nước mắt tôi dàn dụa và tôi bật khóc nức nở... 

VĂN CÔI THÁNH NGUYỆT TÁN TỤNG THI CA.

Tác giả - Tác phẩm. Trên đây là tên nguyên thuỷ của bản “kinh vãn” - nghĩa là bản kinh biên soạn theo thể văn vần (thi ca) và để xướng ngâm theo cung giọng vãn ca - được các cộng đoàn dân Chúa thuộc tỉnh Dòng ĐaMinh - Hải Phòng, Bùi Chu (Nam Định), Thái Bình, Bắc Ninh - ngâm ngợi một cách có bài bản, thành thuộc và nhịp nhàng. Nghe phảng phất chút nào đấy cung giọng ngọt ngào của những bài dân ca Bắc bộ: Quan họ, hát chèo, ca trù. Đã thành một thói quen lành thánh, hằng năm cứ vào độ tháng10 dương lịch, có ai về các miền đạo sung túc và thuần thành này ở vùng đồng đất chân quê sông Hồng và sông Thái Bình mà xem. Người người, nhà nhà, thôn trên xóm dưới cứ là rộn ràng thi đua kiệucờ, trống chiêng, tập tành, ca vãn. Không chỉ ở những buổi kinh lễ, chầu tạ chung ở nhà thờ giáo xứ, nhà nguyện của các họ lẻ; mà còn ở ngay trong từng đoàn hội, trong các căn hộ gia đình. Hàng chục, hàng vài trăm người như một. Chẳng ai mà không xướng đọc lên vanh vách, như đã thuộc nằm lòng từ bao giờ những câu kinh bổng trầm, có lúc hân hoan, chộn rộn, có khi sầu muộn, bi thương, nhưng rất mực khoan thai, dịu dàng. “Vườn Rosa bao quanh trái đất Cảnh thiên nhiên thật rất diệu huyền Thử truy cùng cho đến căn nguyên Xem ai đã gây nên vậy tá...

...File kèm Attach file

MỘT CHÚT TÌNH CỎ HOA

Thơ: Lê Đình Bảng
 (Kính dâng Thánh Phanxico Assisi, Bổn mạng)

Như cỏ hát với bình minh, tôi hát
Ngày ra GIÊNG, bông đẫy hạt, man vàn
Cả đồng mùa xanh lục diệp, tràng giang
Và sông suối chảy, đập tràn, hoan hỷ

NHỮNG MÙA TRĂNG TUỔI MỌN
Mấy hôm nay, ảnh hưởng cơn bão Ophilia từ đâu ghé qua, nơi tỉnh lẻ tôi ở cứ sụt sùi, ướt át, lạnh tê, lạnh tái cả ngày. Mất hẳn cái phong vị vào Thu huê tình, lãng mạn của một thuở một thời ngất ngây trong cảm xúc bay bổng, khi ngồi trong lớp, giảng về Truyện Kiều cho học trò, những năm trước 1975 ở Sài gòn:

“người lên ngựa, kẻ chia bào

… rừng phong, Thu đã nhuốm màu quan san”.

Bập bềnh trên sông bao la... rằm trung thu, nhớ Lm - nhạc sĩ Phương Linh
Hôm mới rồi, kẻ viết bài này làm nhiệm vụ - thay cha mẹ nó bận đi làm ăn xa nhà – đón đứa cháu nội đang gửi học lớp chồi bán trú về. Trời Sài Gòn bỗng dưng mưa ào ào, ngập lụt cả sân trường. Ngồi chờ trong lớp, ngó quanh quất, thấy rặt những đồ chơi bằng gỗ, bằng nhựa, đủ kiểu dáng, đủ sắc màu, nom cứ như là chợ trời. Lại có cả súng đạn, gươm đao, xe tăng, hỏa tiễn, siêu nhân, người dơi, người máy nữa... Tìm mãi, chẳng thấy chút bóng dáng gì của thiên nhiên như núi sông, trăng nước, loài vật, cỏ cây, hoa lá, mùa màng. Thầm nghĩ, thế giới trẻ thơ bây giờ cũng đang bị cuốn vào nhịp sống tốc độ vô cảm của đô thị-công nghiệp hóa của người lớn rồi. Hèn chi đám học trò con nít dám đặt bút viết câu mở đầu bài luận văn rất ư là tỉnh bơ thế này "Nhà em có...nuôi...một...ông nội"!

TÔI SẼ LÀM MƯA HOA HỒNG
Trên đây là lời tâm nguyện thiết tha của một cô bé, để rồi sau đó trở thành một nữ tu trẻ dòng kín Cát Minh. Muốn là cơn mưa hoa hồng. Một linh mục truyền giáo phương xa. Một thầy phó tế. Một tiến sĩ hội thánh. Thậm chí muốn được sống những năm tháng cuối đời tại dòng kín Hà Nội xa xăm kia. Tôi muốn nhiều, thật nhiều, muốn tất cả .Đấy là tiếng nói khát yêu của con sơn ca líu lo bên lòng bạn tình Giêsu chí ái. Con chim ấy, trái tim ấy, giọng hót ấy, vòng nguyệt quế và chùm hào quang ấy chính là Thánh Nữ Tê rê sa Hài Đồng Giêsu (1873-1897), quê thành Lisieux, nước Pháp. Tôi mạn phép gọi Nàng là vì sao lẻ loi, hắt bóng lên bầu trời thế giới ở những ngày tháng vụt tàn của thế kỷ XIX.

TÔI CÓ LÀ CHI CŨNG NHỜ ƠN CHUÁ
Tạ ơn Chúa,đã cho tôi được sống
Hít thở no nê sinh khí đất trời
Và thấm nhuần ơn mưa móc sinh sôi
Trong gió lá của bốn mùa suối tưới

CÔNG GIÁO VIỆT NAM VÀ DI SẢN HÁN NÔM
 Xưa nay, người ta vẫn có định kiến - nếu không muốn nói là cường điệu - rằng Công giáo Việt Nam làm gì có Hán Nôm? Cũng vậy, là một tôn giáo của phương Tây, du nhập từ biên cương ngoại lai nào xa lắc xa lơ, Công giáo Việt Nam làm sao sở hữu được kho tàng sách vở, tư liệu viết bằng Hán Nôm? Thậm chí, có người còn kết án là Công giáo muốn tiêu diệt truyền thống văn hoá, khi khai sinh và cổ xuý phát triển chữ Quốc ngữ? Hoặc giả, có chăng, chỉ là những khái niệm vá víu, mơ hồ, vay mượn, cùng lắm, chỉ là vài ba quyển sách nghèo nàn về đạo, về giáo lý; đọc lên, thuần là kinh kệ, phép tắc, lễ nghi, tế tự của nhà thờ nhà thánh; do cha cố ghi chép bằng thứ Quốc ngữ thô mộc mới ra lò, còn phôi thai, hoặc đôi khi pha lẫn ít nhiều ngoại văn rất xa lạ (La Tinh, Bồ, Pháp), để sử dụng tạm thời trong việc hành đạo. Cụ thể, là Phép Giảng Tám Ngày, quyển sách Giáo lý Công giáo đầu tiên (1651) dành cho người Việt đặng vào đạo.(1) Sự thật không hề đơn giản và khô khốc đến thế đâu. Mà một khi đã nói về kinh kệ thì chẳng cứ gì Công giáo. Đạo nào cũng thế thôi, nghĩa là luôn sẵn có đấy một số ngôn ngữ thuộc về một phạm trù rất riêng, trong khuôn khổ kinh kệ. Mà kinh kệ thì thiên kinh vạn quyển, bát ngát mênh mông, kể sao cho xuể. Bởi thế, khi không, tại sao miệng đời có câu “Kinh nhà đạo, gạo nhà chùa.”Cứ lấy trường hợp của kinh sách nhà Phật ở nước ta làm thí dụ. Mấy ngàn năm vào Việt Nam rồi - thậm chí, đã được triều đại nhà Lý tôn làm quốc giáo - xin hỏi chứ, được bao nhiêu người con Phật miệng khấn tay vái mà lòng trí hiểu được ngọn ngành ý nghĩa thâm sâu của các kinh sách ghi chép bằng đủ thứ chữ: Phạn, Pali, Tây Tạng, Hán, Mông Cổ, Mãn Châu, Khotaese, Nhật Bản, Triều Tiên...? Riêng bản thân kẻ viết bài này, đã nhiều phen có cảm giác rơi vào cái mê cung mịt mù không lối ra ấy. Thế thì, ba cái chữ nghĩa... lẻ tẻ La Tinh, Bồ hoặc Pháp ngữ tản mạn gặp thấy đó đây còn sót lại nơi các trang sách kinh của Công giáo Việt Nam có gì phải ca cẩm ầm ĩ cho lớn chuyện? Kinh sách ấy vẫn tồn tại, vẫn được lưu truyền và từng bước được cập nhật, trở thành “của nuôi linh hồn” bao thế hệ người bên đạo. Đặc biệt, kinh qua những thời buổi cấm cách, những cơn chinh chiến, gió bụi, những lúc khốn cùng, cô đơn, cô độc, tuyệt vọng, không biết cậy dựa vào đâu.

[1] 1 2 3 [1/3]

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!