Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng

BBT CGVN YouTube
Thánh Kinh Công Giáo
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Học Hỏi Kinh Thánh

Lớp KT Sr Cảnh Tuyết

Nova Vulgata

Sách Bài Đọc UBPT

GH. Đồng Trách Nhiệm

Video Giảng Lời Chúa

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm Phêrô Huỳnh Văn Hai
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, HKK
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. GB. Trương Thành Công
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Đồng Đăng
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phan Quang Trí, O.Carm.
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, TGP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Nguyễn Văn Hinh (D.Min)
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nữ tu Maria Hồng Hà CMR
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phêrô Phạm Văn Trung
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  GH. Đồng Trách Nhiệm
BÂY GIỜ LÀ THỜI ĐIỂM CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN

 

 NGUYỄN HỌC TẬP  

(Viết theo các tư tưởng của Cha Bartolomeo Sorge S.J., nguyên Viện Trưỏng Viện Đào Tạo Chính Trị Pedro Arrupe - PA (Istituto di Formazione Politica Pedro Arupe - PA), góp ý với Đại Hội Công Giáo Toàn Quốc Verona (2006, Ý Quốc )  

 Khám phá lại tính cách chính đáng và trong sáng khởi thủy nhân chứng Ki Tô giáo.

(Để tránh cho bài viết quá dài, người viết tạm bỏ qua phần đầu, liên quan đến bối cảnh tôn giáo và xã hội ở Ý Quốc nói riêng và ở Âu Châu nói chung, và chỉ ghi lại những góp ý của Cha Bartolomeo Sorge về những động tác có liên quan đến người tín hữu giáo dân).  

Bởi vì "nhân chứng " Ki Tô giáo đồng thời là "hiện diện " và " trung gian điều giải ", bởi đó nếu muốn nhân chứng cho thế gian về Chúa Giêsu phục sinh, cần khám phá ra trở lại  tính cách chính đáng và trong sáng khởi thủy, mà Chúa Giêsu đòi buộc phải có cho sự hiện diện và tác động của các tín hữu Chúa Ki Tô.

Với sự hiện diện và tác động đó, Chúa Giêsu đã so sánh các môn đệ của Người như là   "muối đất ", như là "thành được xây trên núi " và như là "ánh sáng thế gian ".

Điều vừa kể có ý nghĩa gì trong bối cảnh xã hội ngày nay ?

Dĩ nhiên các lời Phúc Âm vẫn luôn luôn như vậy và có giá trị bất cứ ở đâu.

Tuy nhiên tiến trình lịch sử đưa đến những hoàn cảnh mới, bởi đó một đàng những bối cảnh mới đó đòi buộc cần phải được chú giải dưới ánh sáng Lời Chúa, nhưng đàng khác cũng:

   - làm cho chúng ta hiểu biết Lời Chúa một cách sâu đậm hơn

   - và phải có cách diễn tả chính xác hơn bằng những ngôn từ mới.

Hành động như vậy, chúng ta làm cho nhân chứng đức tin trở thành chính đáng và sự trong sáng khởi thủy đó tháo gở đi những lớp bợn thời gian đóng lớp lên khô cứng bên ngoài.

Đó là những gì phải là kết quả của Đại Hội Công Giáo Verona,

   - tức là nhắc lại với những cách diễn tả mới nhân chứng Chúa Phục Sinh trong xã hội ngày nay, bằng cách khám phá ra trở lại ý nghĩa Phúc Âm của "căn tính ", " sự hiện diện thấy được " và "đặc tính trần thế " của người tín hữu giáo dân,

   - sau khi đã tháo gở đi các lớp bợn nhơ đóng khô lên chồng chất  bên ngoài, trao trả lại vẻ đẹp trong sáng và chói rạng khởi thủy. 

  a) Ý nghĩa Phúc Âm của "căn tính" Ki Tô giáo

Muốn nói lên một cách nghiêm chỉnh về nhân chứng cho Chúa Phục Sinh ngày nay trong xã hội, chúng ta phải bắt đầu bằng cách khám phá ra ý nghĩa chính đáng căn tính Ki tô giáo, bởi lẽ đó là yếu tố chính yếu khởi thủy của mỗi nhân chứng Phúc Âm:

   - " Anh em là muối đất. Nếu muối mà lạt đi, thì lấy gì mà muối cho thức ăn mặn lại. Nó đã trở thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta đạp thôi " ( Mt 5, 13).

Những lời nói vừa kể của Chúa Ki Tô có ý nghĩa gì cho Giáo Hội hiện đại ? 

Trước hết những lời nói đó cảnh tỉnh cho biết rằng, muốn đem niềm hy vọng Chúa Phục Sinh cho xã hội đang thất vọng của thời đại chúng ta, chúng ta cần phải khởi sự từ chính chúng ta: 

   - " Nếu chúng ta không tác động đủ giữa trần thế, không phải vì chúng ta là người tín hữu Chúa Ki Tô, mà là vì chúng ta không có đầy đủ tư cách là người tín hữu Chúa Ki Tô " ( Consiglio Permanente della CEI, La Chiesa italiana e le prospettive del Paese (1981, n. 13).  

Như vậy, truớc than phiền rằng xã hội xa lìa Phúc Âm và số người thờ ơ hay bỏ đạo gia tăng, chúng ta cần tự vấn mình điều đó có tùy thuộc vào cách sống không chính đáng của người Ki Tô giáo hay không, tức là:

   - trong khi tuyên xưng mình là người tín hữu,

   - tại sao mình lại có cách sống "như không có Chúa " ?.

Biết bao nhiêu lần chính người Ki Tô hữu bằng thái độ lăng nhăng, không chính đáng của mình làm cho mờ ảo đi và khó tin được nhân chứng đức tin !

Bởi đó có lẽ chúng ta cần khởi đầu lại bằng cách "xét mình lại, duyệt xét lương tâm lại " để nhận thức được các trách nhiệm của mình, sợ sệt và chậm chạp, làm cho căn tính Ki Tô giáo của mình trở nên mờ ảo và bị các lớp bợn nhơ đóng cứng lên bên ngoài, khiến cho không ai thấy được căn tính trong sáng nguyên thủy bên trong. 

Nhưng làm thế nào để giữ được vị mặn của muối Phúc Âm, trong khi chúng ta đang phải nhồi bột trong văn hoá và trong các thử thách thời đại, để có thể muối mặn được thế gian?

Làm thế nào có thể là người tín hữu Chúa Ki Tô chính đáng, mà không rơi vào trạng thái quá khích chủ nghĩa (integralismo)  hay tương đối chủ nghĩa (elativismo)?

Cần phải giữ vững được hai phương diện biểu thị tính chất của căn tính Ki Tô giáo.

   - Phương diện đầu tiên, đó là phương diện đối nội, (ad intra), thông hiệp đời sống với Chúa Ki Tô, đồng dạng hoá với Người, niềm hy vọng của chúng ta: 

   - " Đó chính là Chúa Ki Tô đang sống giữa anh em " ( Col 1, 27). 

Đức Thánh Cha Benedictus XVI cũng nhấn mạnh đến điều mà Đại Hội Công Giáo Verona phải lưu ý:

-" Như vậy ở Verona, trước tiên cần phải tập trung quy hướng vào Chúa Ki Tô và như vậy đến sứ mạng trước tiên của Giáo Hội là sống trước sự hiện diện của Người và làm cho ai nấy cũng đều thấy được sự hiện diện nầy" (Benedetto XVI, Discorso alla 50° Assemblea della  CEI, Roma 18.5.2006, in Notiziario della Conferenza Episcopale italiana, 4( 31.05.2006), 103s). 

Phương diện thứ hai, đó là phương diện đối ngoại (ad extra), có liên hệ chặt chẽ với phương diện đầu, bao gồm cả cuộc sống thường nhật, riêng tư và công cộng, và đó là những gì được thể hiện bằng tình yêu thương huynh đệ:

- " Người môn đệ Chúa Ki Tô, nhờ Chúa Thánh Thần, tạo được cho cuộc sống mình diện mạo "con cái" của Chúa Giêsu và nhận lấy tất cả những đường nét của Chúa Con. Chính Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên tự do: tự do có khả năng chuẩn định và hoán chuyển cuộc sống của chúng ta, mở rộng cửa ra cho tình huynh đệ" (Traccia, n. 7).  

Như vậy, niềm hy vọng Ki Tô giáo có bản tính tôn giáo và thiêng liêng, không có nghĩa là không liên hệ gì đến trần thế.

Sự cứu rổi mà Thiên Chúa đã hứa cho chúng ta trong Chúa Ki Tô phục sinh bắt đầu đươc thể hiện giữa các biến cố trong cuộc sống con người:ơn Chúa ban cho 

   - " cần phải làm cho chúng ta được hướng dẫn theo trong dòng lịch sử, để hoàn toàn được thực hiện đầy đủ trong ngày sau cùng, lúc Chúa Ki Tô đến " (ĐTC Phaolồ VI, Evangelii nuntiandi (1975, n.9). 

Nhận thức vừa kể là yếu tố cần thiết để hiểu được căn tính Ki Tô hữu và giải thoát căn tính đó khỏi các lớp nhơ bợn đóng lớp lên bên ngoài :  

   - " Việc tiếp xúc sống động với Chúa Ki Tô là điều trợ lực quyết định để giúp mình luôn ở trên con đường ngay chính: không làm cho chúng ta rơi vào trạng thái kiêu căng khinh thị con người và không xây dựng không tưởng trên không trung, nói đúng hơn là hủy hoại, cũng không buông tha mình vào thái độ chán nản buông tay đầu hàng , khiến cho mình bị cản trở, không để cho tình yêu hướng dẫn và thiết thực  phục vụ con người" (ĐTC Benedictus XVI, Deus caritas est, n.36). 

Niềm hy vọng vào Chúa Ki Tô phục sinh

   - không những không khiến cho chúng ta trốn tránh khỏi chuyên cần dấn thân lịch sử thiết thực,

   - mà còn thúc đẩy hành động: không phải là thuốc phiện ru ngủ, như ý thức hệ không tưỏng nào đó chủ trương,

   - mà đúng hơn là một sức mạnh đòi buộc

   - " phải có bổn phận loan báo cuộc giải thoát hàng triệu con người ( ...), bổn phận phải giúp cho việc giải thoát đó được phát sinh, phải nhân chứng và làm cho cuộc giải thoát được thể hiện hoàn tất " (ĐTC Phaolồ VI, Evangeli i mundi, n. 30). 

Người tín hữu Chúa Ki Tô sẽ là những người giả hình nếu che giấu niềm hy vọng đang làm cho mình sống động bên trong và mình phải luôn luôn sẵn sàng nói cho mọi người biết lý chứng của niềm hy vọng đó nơi mình.

Tuy vậy, đức tin Ki tô giáo không thể bị thu hẹp lại vào việc dấn thân dân sự trần thế, như một vài kẻ  "vô thần nhiệt tâm " nào đó trong thời đại chúng ta. Chính Thánh Phaolồ đã nghiêm khắc cảnh cáo: 

   - " Nếu chúng ta hy vọng vào Chúa Ki tô chỉ vì đời nầy mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người " (1 Cor 15, 19). 

Thật vậy, niềm hy vọng vào Chúa Ki tô phục sinh giả định trước tiên là sự giải thoát khỏi tội lỗi, là điều ác căn cội làm cho con người tách rời Thiên Chúa.

Chỉ có sau đó, như là hậu quả, như là thời điểm bổ túc cho việc hoán cải nội tâm, niềm hy vọng Ki Tô giáo, được thể hiện ra như là yếu tố góp sức quyết định cho việc xây dựng xã hội con người và nhằm tạo được công ích.

Đây là một bổn phận mà người Ki Tô hữu được kêu gọi cùng đương đầu giải đáp với các người đồng công dân khác của mình, không với yêu sách áp đặt đức tin tôn giáo hay luân lý của chính mình. 

Bởi đó người tín hữu Chúa Ki Tô, trong khi chuyên cần xây dựng ngôi nhà dân sự chung,

   - sẽ phải đối đầu trước những thử thách nguy hiểm và phải thực hiện những chọn lựa như bất cứ ai khác,

   - cùng chia xẻ với người khác những gì bấp bênh không chắc chắn trong nghiên cứu tìm hiểu, ngay cả những sai lầm có thể xảy đến.

Dầu vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô vẫn sẽ luôn luôn cố gắng giữ vững phong cách chính đáng của chính mình, đó là nhằm hướng về việc xây dựng một nền văn minh tình thương, cần được xây dựng

   - trên sự kính trọng phẩm giá con người và các quyền bất khả nhượng của con người,

   - trên nguyên tắc liên đới hỗ tương, bảo vệ và phát huy tính cách pháp lý, công bằng và bác ái.

Tất cả những điều đó được thực hiện trong tinh thần tuân thủ

   - lề luật dân chủ,

   - đặc tính trần thế của lãnh vực trần thế

   - và nguyên tắc dân chủ đa nguyên, bằng cách ý thức rằng mình sẽ không phản bội lại căn tính Ki Tô hữu của mình, nếu trong một vài phương diện luật pháp,

   - mình phải chấp nhận "inter mala, minus malum " (giữa những cái xấu, phải chọn cái xấu nhỏ hơn),

  - cũng như phải tùy thuộc vào tính cách tuần tự trong động tác  "trung gian điều giải" (médiation) ra thực tế những giá trị không thể giảm thiểu, chuyển nhượng được.

Đồng thời, người tín hữu Chúa Ki Tô không bao giờ che giấu căn tính của mình và vẫn sẽ tiếp tục tranh đấu  để bảo vệ những giá trị bất khả nhượng mà tin, nhằm đạt được điều tốt lành lớn hơn bao nhiêu có thể bằng cách dùng mọi dụng cụ dân chủ có được.

Việc khám phá ra trở lại căn tính của chính mình, cùng chung với cách hành xử chính đáng và có trách nhiệm, cho phép người tín hữu Chúa Ki Tô đối thoại một cách thành thực với những thành phần thuộc các nền văn hoá và tôn giáo khác.

Thật sự ra nếu Phúc Âm không áp đặt lên bất cứ ai, nhưng cũng là điều chính đáng mà 

   - "chúng ta đừng sợ rằng Phúc Âm có thể tạo nên những gì làm tổn thương cho căn tính của người khác, trái lại Phúc Âm là loan báo tin mừng một hồng ân cho tất cả, được trình bày với lòng trọng kính trọng đại tự do của mỗi người: đó là nói lên hồng ân mạc khải Thiên Chúa -Tình Yêu (...) mà chúng ta có bổn phận phải loan báo " (ĐTC Gioan Phaolồ II, Nuovo millennio ineunte ( 2001), n. 56). 

Việc khám phá ra trở lại căn tính Ki Tô giáo chính đáng nầy ngày hôm nay là điều cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, để cho việc nhân chứng Chúa Phục Sinh là động tác tổng hợp trưởng thành giữa "hiện diện" và "trung gian điều giải ". 

   b) Đi tìm một sự hiện diện thấy được đổi mới.

Việc khám phá ra trở lại căn tính chính đáng Ki Tô giáo có liên hệ chặt chẽ với một đời sống Ki Tô giáo làm cho người khác thấy được trong thế giới ngày nay: 

   - " Một thành xây trên núi, không thể nào che giấu được " ( Mt 5, 14). 

Đức tin không thể nào vẫn nằm án binh bất động trong khuôn viên lương tâm riêng tư. Điều đó nói lên tại sao đặc tính "làm cho thấy được"  (visibilità )  của người tín hữu Chúa Ki Tô cần phải được giải thoát khỏi nhũng lớp nhơ bợn và trả lại tính chất trong sạch khởi thủy.

   - Trước tiên, cần phải nhận thức rõ rằng căn tính và đặc tính làm cho người khác thấy được của người tín hữu Chúa Ki Tô là

    * "để tránh hiểu lầm, không phải trùng hợp với những chương trình hành động văn hoá, xã hội hay chính trị mà các tín hữu giáo dân, riêng rẻ cũng như phối hợp thành tổ chức, hiệp hội, nhằm đạt được. Đặc tính làm cho thấy được đó trái lại, được đặt nền tảng trên đức tin và luân lý Ki Tô giáo, với lời nhắc nhở chính xác về lời huấn dạy trong lãnh vực xã hội. Người tín hữu Chúa Ki Tô sống thông hiệp trong Giáo Hội và luôn luôn trung thành đối chiếu mình với Lời Chúa, được đọc lên trong Giáo Hội " (Consiglio Permanente della CEI, La Chiesa italiana e le prospettive del Paese, n. 25). 

Người tín hữu Chúa Ki Tô không áp đặt lên người khác quan niệm đời sống mà mình đang có, mặc dầu mình có quyền và bổn phận, với tư cách là người công dân, phải đưa ra những đồ án chính đáng.

   - Kế đến, tính cách làm cho thấy được không đồng nghĩa với việc chồng chất thêm lên các phương thức trung gian điều giải, cũng không phải là phô trương quyền lực trước công chúng.

Việc làm cho người khác thấy được hệ tại nhứt là ở việc nhân chứng trong mọi lãnh vực của cuộc sống hằng ngày niềm hy vọng vào Chúa Ki Tô phục sinh bằng lời nói và bằng việc làm ( ĐTC Benedictus XVI, Discorso alla 56° Assemblea Generale della CEI, cit. 104).

Thật vậy

   - "niềm hy vọng, hôm nay cũng như hôm qua, được thông báo cho nhau nhờ động tác "thuật lại" cho nhau, trong đó chứng nhân nói cho biết mình đã để cho được uốn nắn thế nào trong việc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh, cuộc gặp gỡ đó đã làm đầy tràn đời sống của mình như thế nào và thế nào ngày qua ngày mình trở thành người tín hữu Chúa Ki Tô (Christifidelis) " ( Traccia, cit. n. 10). 

   - Và phương diện thứ ba là đặc tính làm cho mình thấy được của người tín hữu Chúa Ki Tô, không phải chỉ hạn hẹp vào việc nhân chứng cá nhân.

Các tín hữu Chúa Ki Tô cần phải làm cho mình thấy được với tư cách là cộng đồng đức tin (" thành xây trên núi "),

   - bền vững trong kinh nguyện,

   - trong động tác lắng nghe và loan báo Lời Chúa,

   - trong động tác bẻ bánh Thánh Thể,

   - trong hiệp nhứt huynh đệ. 

Nhân chứng công cộng cho trạng thái hiệp thông, hiệp nhứt giữa những người và những ý kiến khác biệt, là điều căn bản làm cho người khác thấy được và khả tin mầu nhiệm Ki Tô giáo trong một thế giới, như thế giới chúng ta, đã bị rách nát và bị đánh dấu sâu đậm bởi ích kỷ chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa.

Đàng khác, chính vì thế giới đã thay đổi, để làm cho ai nấy cũng thấy được ý nghĩa nguyên thủy của nhân chứng Chúa phục sinh, niềm hy vọng cho thế giới, cần phải có những con đường mới, nếu muốn đánh động được tâm hồn những con người thời nay.

Một cách đặc biệt, con đường bắt buộc mà qua đó nhân chứng Ki Tô giáo phải lưu tâm đó là, như ĐTC Phaolồ VI đã xác quyết một cách rõ ràng,

   - "sự đối thoại" (ngoài ra nhân chứng không thể thay thế được bằng đời sống), Giáo Hội cần phải đối thoại với thế giới, trong đó mình đang sống. Giáo Hội hãy lên tiếng, Giáo Hội phải nói lên sứ điệp, Giáo Hội phải trao đổi, nói chuyện với thế giới " ( ĐTC Phaolồ VI, Ecclesiam suam ( 1964, n. 129).  

Đối thoại với thế giới có nghĩa nhứt là diễn tả bằng từ ngữ trần thế các lý lẽ của nền nhân chủng luận (antropologia) được soi sáng bằng các giá trị Phúc Âm. Như vậy làm cho các lý lẽ, giá trị đó có thể hiểu được và chấp nhận được đối với những ai thành tâm thiên chí, ngay cả đối với những người không tin hay những tín hữu của những tôn giáo khác với Ki Tô giáo mình.

Điều đó giải thích tại sao

   - " một căn tính Ki Tô giáo được nhiều người chấp nhận là nền tảng cho cuộc đối thoại cả đối với tín hữu của các tôn giáo khác và với những ai thành tâm thiện chí " ( Traccia, n. 14).

Đây không phải chỉ là phương thức. Lãnh vực đối thoại là trung tâm điểm của mạc khải Ki tô giáo và như vậy là của việc loan truyền Phúc Âm

- " Mạc khải, tức là mối tương quan thiêng liêng mà chính Thiên Chúa đã có sáng kiến thiết lập nên với nhân loại, có thể được biểu tượng như là một cuộc đối thoại, trong đó Ngôi Lời Thiên Chúa giải thích chính mình trong biến cố nhập thể và như vậy trong Phúc Âm ( ...). Chúng ta cần luôn luôn ý thức đến mối liên hệ tuyệt vời và rất thực tế này, được Chúa ban cho và thiết định cho chúng ta ( ...) để cho chúng ta hiểu được mối tương quan nào chúng ta, tức là Giáo Hội, phải tìm cách thiết lập nên và phát huy triển nở thêm lên với nhân loại " (ĐTC Phaolồ VI, Ecclesiam suam (1964, n. 193s).  

Giờ đây khám phá ra đối thoại là hình thức làm cho mình thấy được của Ki Tô giáo, điều đó có nghĩa là khám phá ra vai trò không ai có thể thay thế được của người tín hữu giáo dân.

Thật vậy, phận vụ cá biệt của người tín hữu giáo dân là soi sáng từ trong nội bộ của các thực tại trần thế, không những chỉ bằng nhân chứng qua đời sống cá nhân của chính mình và đời sống cộng đồng tập thể các người tín hữu Chúa Ki Tô, mà nhứt là bằng cách tham dự và đối thoại .

Đối thoại là phần quan trọng của hiện diện và trung gian điều giải.

Điều đó có nghĩa là người tín hữu giáo dân phải đứng sát gần bên, tham dự từ bên trong, vào tất cả các nền văn hoá (và cả vào các tôn giáo khác), với thái độ kính trọng của con người, ý thức rằng mình có một vài điều gì có thể nói hay phải nói, mà còn cả những gì mình có thể lắng nghe và đón nhận đuợc:

  - "Xã hội trong đó chúng ta đang sống phải được hiểu biết trong cấu trúc và năng động tính của nó, cũng như nền văn hoá cần phải được hiểu biết theo các khuôn mẫu tư tưởng và động tác của văn hoá, trong khi cần lưu tâm đến cả phương thức theo đó những thực thể vừa kể được kiến tạo và hoán chuyển. Nếu những điều vừa kể không được định giá chính đáng hay biết đến, nhân chứng Ki Tô giáo có nguy cơ bị kết án là một việc thực hành vô hiệu lực " ( Traccia, n. 11).  

Những gì vừa kể cho thấy tại sao đặc tính làm cho mình thấy được của Giáo Hội có tính cách phổ quát , như phổ quát của cuộc đối thoại:

   - " Đời sống Ki Tô giáo không thể bị đóng kín trong chân trời của một nền văn hoá và của những cơ chế được thiết định " (Traccia, n. 13).

Ki Tô giáo không thể được đồng hoá với một nền văn hoá xác định nào đó, cả đến nền văn hoá tây phương cũng vậy.

Người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt là người tín hữu giáo dân, được mời gọi

   - hãy đối chiếu mình ngay cả đôi khi phải thẳng thắng trực tiếp đụng chạm  với tất cả các nền văn hoá,

  - ngay cả với "tư tưởng độc đoán" đang hành quyền, loại trừ mọi tư tưởng khác và cả Đấng Tối Cao, thượng đẳng hoá cá nhân chủ nghĩa hay đảng phái chủ nghĩa, tự cho mình là "đội ngủ tiền phong của công nhân, nông dân và nhân dân...lãnh đạo xã hội và đất nước...".đặt mình và phe nhóm của mình thượng đẳng hơn cả công ích.  

Vấn đề được đặt ra ở đây là "tính cách làm cho mình thấy được " (và vấn đề đối thoại) của người tín hữu giáo dân trên phương diện xã hội và chính trị.

Đây là vấn đề đang được chú ý một cách đặc biệt ở các Quốc Gia Tây Phương (và có lẽ cũng trên khắp các Quốc Gia khác), từ một vài thập niên qua đã được đặt thành vấn đề, nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách giải quyết thoả đáng.

Đặc tính thấy được nào cần tồn giữ?

Đối thoại chính trị với ai, để cho việc cộng tác của các Ki Tô hữu không  trở thành vô nghĩa ?

Có những lúc, trong đó thành phần tín hữu Chúa Ki Tô chiếm đa số trong xã hội dân sự, nhứt là trong lãnh vực chính trị.

Hiện nay thành phần Ki tô giáo trở thành thiểu số. Nhưng không có gì phải than khóc, nuối tiếc quá khứ.

Trở thành thiểu số, không có nghĩa là bi loại ra bên lề xã hội. nếu nhân chứng và việc phục vụ của người tín hữu Chúa Ki Tô không phải đặt nặng trên lượng số, cho bằng trên phẩm chất và trên kinh nghiệm của Chúa Thánh Thần và sức mạnh của Người.

Đến đây thì vấn đề đối thoại và đặc tính làm cho mình  thấy được đương kết mật thiết với vấn đề "đặc tính trần thế " ( ndole secolare). 

   c ) Một "đặc tính trần thế" chính đáng.

Yếu tố thiết yếu thứ ba của nhân chứng Ki tô giáo mà chúng ta cần phải khám phá ra trở lại ngày nay trong tính chất trong sáng và nguyên thủy của nó, đã được Chúa Ki Tô chỉ dạy cho chúng ta trong Bài Giảng Trên Núi qua hình ảnh ánh sáng: 

   - " Chính anh em là ánh sáng cho thế gian ( ...) Chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên đế, để đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà " ( Mt 5,14-15). 

Ngoài ra phận vụ tiên khởi và đương nhiên của ánh sáng là hướng dẫn những ai đang đi đứng, chúng ta còn có thể chú ý được một đặc tính khác của ánh sáng.

Ánh sáng không thay thế cho các sự vật mà mình chiếu sáng cho, nhưng vẫn luôn luôn tôn trọng căn tính của mỗi sự vật, hình thể, thực thể, làm cho mỗi người đều thấy được chúng với màu sắc và những đặc tính cá biệt của chúng.

Cũng vậy,

   - đức tin chiếu sáng cho chúng ta dòng lịch sử hay thực thể trần thế (trong đó có chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học),

   - nhưng đức tin không thay thế cho những thực thể đó.

Đức tin vẫn tôn trọng đặc tính tự lập, mục đích, lề luật thể thức, các dụng cụ trong lãnh vực của những thực thể đó. bởi lẽ các phương tiện, dụng cụ đó không thuộc về lãnh vực tôn giáo, mà là thuộc lãnh vực " trần thế ", theo đồ án được Thiên Chúa tạo dựng nên. 

Hiểu như vậy, "đặc tính trần thế " là một giá trị Ki Tô giáo, có nền tảng trong thần học về các sự vật và sự việc trần thế.

Người tín hữu Chúa Ki Tô phải biết tôn trọng các sự khác biệt và tự lập của chúng.

Kết qủa thực tiển của những nguyên tắc vừa được đề cập có liên quan đến đời sống nội tại trong Cộng Đồng Giáo Hội và đến các mối tương quan hiện có đối với các tổ chức, cơ chế công cộng chưa đưọc coi là thoả đáng, mặc cho những lời dạy bảo rõ ràng của Công Đồng Vatican II.

Đối với những gì có liên quan đến đời sống nội tại trong Giáo Hội, sự kiện là cấu trúc của Giáo Hội, như thánh ý của Chúa Ki Tô, gồm có việc phân chia thứ bậc và phận vụ giữa Hàng Giáo Phẩm và giáo dân

   - " nhưng điều đó không có nghĩa là có một vùng dành cho động tác của các Vị Chủ Chăn và một vùng dành cho động tác của giáo dân ", sứ mạng là một sứ mạng duy nhứt. Sứ mạng đó được thực hiện trong Giáo Hội hiệp thông, dưới sự dẫn dắt của Giám Mục, với các bổn phận khác nhau, nhưng hổ trợ cho nhau giữa các mục tử và các tín hữu giáo dân; thực sự đến nỗi "mặc dầu động tác mục vụ trong lãnh vực trần thế cũng được đồng tham dự giữa các thành phần trong Giáo Hội, mặc dầu đó là lãnh vực chuyên biệt của các tín hữu giáo dân " ( Lettera, cit. n. 6).  

Điều cần thiết phải có hôm nay, đó là cần phải định chuẩn lại sứ mạng của người tín hữu giáo dân trong chính đời sống nội tại ( ad intra ) của Giáo Hội.

Không có hàng tín hữu giáo dân trưỏng thành, không thể có được một nhân chứng gương mẫu của Cộng Đồng Ki Tô giáo. 

Kế đến là những mối liên quan giữa Cộng Đồng Ki Tô giáo và xã hội dân sự - Quốc Gia, Giám Mục cũng như giáo dân cần có được một lương tâm trưởng thành về các giá trị của " đặc tính trần thế ". 

Một cách thực tế, không phải các Giám Mục có bổn phận phải " trung gian điều giải " các giá trị Ki Tô giáo trong những chọn lựa hành động và luật pháp:

   - " Khi các vị chủ chăn, được các nguyên tắc Phúc Âm thúc đẩy, can thiệp vào xã hội bằng lời giảng dạy và bằng ngôn từ, nhưng không kỳ vọng có quyền áp đặt một nền luân lý chung cho mọi công dân, các vị mời gọi được lắng nghe, cho biết ý kiến, khuyên bảo phải thận trọng canh chừng, nhưng các vị không kỳ vọng lề luật Phúc Âm phải được thiết giải thành luât pháp có hiệu lực bắt buộc đối với mọi người, nếu không phải là khi lương tâm của tất cả đều đồng thuận đòi buộc phải có như vậy. Giáo Hội chấp nhận một cách bình thản đi vào động tác và hội nhập vào " agorà " (Hy Lạp, cộng đồng) với các lời đề nghị của mình, bằng phưong thức dân chủ làm cho các đồ án của mình có giá trị, làm cho mọi người thấy được tính cách tích cực về phương diện nhân loại luận (antropologico) các đồ án đó, nhưng không có tham vọng cho rằng đó là tiêu chuẩn duy nhứt đặt nền tảng cho cuộc sống dân sự " (Bianchi E., La differenza cristiana,Einaudi, Torino 2006, 73).   

Dĩ nhiên các Giám Mục có thể và phải phê phán các chương trình và luật pháp có thích hợp hay không đối với Phúc Âm và với giáo lý của Giáo Hội, nhưng bổn phận của chính người tín hữu giáo dân một cách có trách nhiệm và với lương tâm được Phúc Âm soi sáng, phải thực hiện các động tác "trung gian điều giải " đối với những gì có tính cách kỷ thuật, xã hội, chính trị và kinh tế.

Đó là điều Công Đồng Vatican II đã xác định rõ:

   - " Người tín hữu giáo dân cần phải đảm nhận việc thiết lập trật tự trần thế như là bổn phận của chính mình và trong đó, được ánh sáng Phúc Âm và tu tưởng của Giáo Hội hướng dẫn, được thúc đẩy bởi đức bác ái Ki Tô giáo, họ hãy trực tiếp hành động và một cách thiết thực " ( Apostolicam Actuositatem, n. 7). 

 Chính ĐTC Benedictus XVI cũng xác nhận rõ điều đó:

   - " Bổn phận trực tiếp phải hành xử cho một trật tự chính đáng trong xã hội, trái lại, đó chính là bổn phận của người tín hữu giáo dân . Như là công dân của Quốc Gia, người tin hữu giáo dân được kêu gọi như là người tiên phuông tham dự vào đời sống công cộng ( ...) Sứ mạng của người tín hữu giáo dân là tạo nên khuôn diện chính đáng cho đời sống xã hội, bằng cách tôn trọng đặc tính tự lập và cộng tác với các công dân khác theo thẩm quyền mình có và dưới trách nhiệm của chính mình " ( ĐTC Benedictus XVI, Deus caritas est ( 2005), n. 29).

 Bây giờ là thời điểm của người tín hữu giáo dân. 

Trong Giáo Hội , ở tầm mức Quốc Gia cũng như địa phương, cần tạo nên nơi gặp gỡ, để các vị chủ chăn và tín hữu giáo dân có dịp gặp nhau, lắng nghe tiếng nói của nhau , bàn thảo với nhau về những vấn đề hệ trọng, nhứt là những vấn đề có liên quan đến luân lý công cộng, học hỏi nhau phương thức để " trung gian điều giải " các lời dạy bảo của Phúc Âm và của Hàng Giáo Phẩm thành ngôn từ nhân loại luận trần thế, nghĩa là mọi người đều hiểu được và chấp nhận được.

Với phương thức đó, người tín hữu Chúa Ki Tô, giáo sĩ cũng như giáo dân, cho mọi người biết Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội cống hiến cho nhân loại môt công tác phục vụ cho tự do, cho phẩm giá con người và cho phẩm chất đời sống xã hội.

Điều lo sợ có thể gây những hiểu lầm và khó khăn, không cản trở Giáo Hội hành xử quyền chuẩn định phán đoán của mình. Ví dụ như tại sao không suy nghĩ lại tường tận hơn " dự án văn hoá " được Đại Hội Công Giáo ở Palermo đề nghị thành " nơi chốn và cơ hội định chuẩn về cuộc sống thiêng liêng và văn hoá " ?

Một khi đã chuẩn định phương hướng để thực hiện dự án vừa kể, kế đến là bổn phận của người tín hữu giáo dân,

- một khi đã được giáo dục chính đáng phải có,

- có thể tự do quyết định và với trách nhiệm của mình

     * làm thế nào cho người khác có thể nhìn thấy được mình,

    * có cần và phải làm thế nào tổ chức đời mình trong cuộc sống xã hội và chính trị,

- chính đáng với Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội,

- trong khi tôn trọng " đặc tính trần thế ", luật lệ dân chủ và tính cách đa nguyên.

Tác giả:  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!