Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Thánh Kinh Công Giáo
Lời Chúa Mỗi Ngày
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, GP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Maria Hồng Hà CMR
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Phúc Âm Nhật Ký
SỐNG

(Lc 20:27-38) 

Cuộc sống đầy biến động, nhưng vẫn chất chứa đầy hy vọng. Bên cạnh những người bi quan, vẫn có những cái nhìn rất kiên trì và sáng suốt về một tương lai tươi sáng của nhân loại. Dù vậy, cuộc sống vẫn đầy bí ẩn. Chính vì thế, con người mới dễ phủ nhận hay hoang tưởng về cuộc sống, nhất là những gì xảy ra bên kia cõi sống.

Một cái nhìn về bên kia cõi sống sẽ có ảnh hưởng lớn với những gì đang diễn ra trong cuộc sống hôm nay. Bởi thế, Chúa Giêsu đã dành thời giờ tranh biện với những người thuộc phái Xađốc để làm sáng tỏ vấn đề. 

GIAO ƯỚC 

Phái Xađốc là một nhóm những người lãnh đạo tôn giáo thủ cựu. Họ không tin người chết sống lại, vì không thấy Ngũ Kinh nhắc tới. Như đã từng dồn nhóm Pharisêu vào ngõ bí, hôm nay họ cũng quyết định gài bẫy Chúa Giêsu trước một vấn đề rất hắc búa. Nhưng cái nhìn đầy giới hạn của họ làm sao có thể phá vỡ được bức tường dầy cộm ngăn cách đôi bờ tử sinh ?

Có thể vì không còn nhận rõ bản chất của sự sống đời này và cũng chẳng biết gì về đời sau, nên nhóm Xađốc mới có những lối lập luận khập khiễng. Họ tưởng đời sau sự sống cũng bị giới hạn bởi cái chết và cũng cần được tái tạo để ngày càng hoàn hảo hơn. Một số lớn Kitô hữu cũng mắc kẹt như thế. Họ tin vào luân hồi là một sản phẩm của trí tuệ, nhằm trả lời những lo lắng trước cái chết và những sự bất mãn về cuộc sống đầy bế tắc. Ðó là một nỗ lực chạy trốn thời gian và thách đố của sự dữ.

Nhưng niềm tin vào sự phục sinh không phải là sản phẩm  của lý trí, mà là kết quả của một mạc khải tình yêu. Nếu Thiên Chúa không yêu thương nhân loại, không bao giờ con người có thể mơ tưởng phục sinh. Ðối với Kitô hữu, đức tin vào sự phục sinh là khởi đầu một mạc khải kiên trì trong lịch sử. Từ thời Cựu ước, dân Thiên Chúa đã cho các dân tộc khác thấy một thái độ độc đáo. Dân Thiên Chúa không tin vào linh hồn  bất tử trước, rồi mới tin vào thân xác phục sinh. Sự phục sinh không phải là linh hồn bất tử phục hồi thân xác. Nhưng trước tiên, chính Thiên Chúa can thiệp vào việc phục sinh. Người ban cho con người sự sống riêng, một sự sống vĩnh cửu, sống hiệp thông với Người. Ðó là nguyên thủy niềm tin chúng ta giữa bao nhiêu niềm tin khác. Ðó là tâm điểm Tin Mừng. Ðó là điều con người không thể tự khám phá hay sáng tạo. Niềm tin vào sự sống lại đích thực khởi đầu một mạc khải lâu dài. Mạc khải này không bao giờ chấm dứt. Chúng ta vẫn tiếp tục đón nhận mạc khải. Phải khiêm tốn nhìn nhận mình không hiểu biết gì về mầu nhiệm ấy. Bởi thế, giờ đây hãy đọc lại bản văn Tin Mừng.

Chúng ta có khuynh hướng lý luận quá duy vật. Một câu truyện nhỏ do phái  Xađốc thêu dệt, tiêu biểu cho khuynh hướng này. Theo TÐCV, họ chủ trương “chẳng có sự sống lại, chẳng có thiên sứ hay quỷ thần.” (Cv 23:8) Những người Xađốc đưa một luật Môsê vào chỗ phi lý. Muốn hiểu rõ câu truyện này, cần phải quy chiếu về những chứng từ cổ xưa nhất trong Kinh Thánh. Từ thời Abraham, người ta đã thắc mắc : con người ta còn lại gì sau khi chết ? Trước hết và trên hết là hậu duệ của họ. Một cách nào đó, cá nhân tồn tại qua những người con. Abraham và Sara bất an khi thấy mình quá già mà chưa có con. Cũng thế, một người độc thân không thể tồn tại qua hậu duệ.

Theo Tin Mừng, lập luận tương tự đã áp dụng vào trường hợp một người chết mà không con. Nếu một người lập gia đình chết trước khi có con, người anh em phải lấy người vợ người ấy để bảo đảm cho người anh xấu số có con nối dõi. Bởi vậy, phái Xađốc mới dựng một câu truyện bảy anh em nối tiếp nhau chết sau một cuộc hôn nhân. Liên tiếp lấy bảy anh em, phụ nữ đó sẽ là vợ ai khi sống lại? Có thể câu hỏi này đã đặt sai vấn đề cơ bản : nghĩ về sự sống vĩnh cửu chỉ là cách kéo dài sự sống hiện tại. Trường hợp này, Thiên Chúa chỉ là một loại ảo thuật gia ban một thứ “siêu sự sống.” Ðó chỉ là kéo dài những mối liên hệ hiện tại, nhất là liên hệ vợ chồng.

Câu truyện của những người Xađốc liên quan tới việc luân hồi cách lạ lùng. Ðáp lại, Chúa Giêsu cho thấy rõ những mối liên hệ đó mau qua. Nếu hôn ước quan trọng, thì Giao Ước với Thiên Chúa còn cần thiết  biết bao. Ðoạn chót Tin Mừng cho thấy sự sống lại đặt nền tảng trên Giao Ước đã ký kết với Abraham, rồi Môsê. “Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” (Lc 20:37-38)

Phe Xađốc đã đề cao một khoản Luật Môsê, mà coi thường Thiên Chúa của Môsê, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Thật là nguy hiểm khi tách biệt Lề Luật khỏi Nhà Lập Luật, tức Thiên Chúa chúng ta. Lề luật không phải là một gánh nặng có tính cách độc đoán và áp đặt. Lề luật được ban hành để hướng dẫn con người xử dụng tự do. Nếu không, tự do có thể bị tiêu trầm trong nhiều đường lối lắt léo của lòng dạ con người. Bởi đấy, Lề Luật là con đường dẫn đến sự sống, sự sống lại. Lề Luật mời gọi chúng ta biến cải sang sự sống đời đời. Nói khác, Luật không làm mất tự do, nhưng cứu vãn và dẫn tới một sự triển nở đích thực.

Ðấng đã ban Luật cho ông Môsê trước tiên là Ðấng đã ký kết giao ước với dân Người. Nói đúng, bản văn nói về việc ban hành Luật trên núi Sinai không nói về những điều răn. Theo bản văn Do thái, cái vẫn gọi là “Mười điều răn” thực ra là “Mười Lời.” Dân chúng đã được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, nhưng họ còn được giải phóng sâu xa hơn. Nói chung, Kinh thánh nói khá ít về tự do, nhưng rất thường nói về giải phóng, nghĩa là nói về một tiến trình chẳng bao giờ hoàn thành. Những giới luật và lề luật là những mặt của một Lời canh tân sâu xa con người, vì phát xuất từ Thiên Chúa kẻ sống. Người không ngừng mời gọi con người hiệp thông với Người. Chỉ có một điều kiện duy nhất là tín thác vào Thiên Chúa. Ðiều kiện này tôn trọng sự tự do con người. Kết quả Giao ước này làm cho con người chúng ta triển nở trong thế giới phục sinh.

Bài đọc thứ nhất chuẩn bị chúng ta đón nhận sứ điệp phục sinh trong một Giao Ước tác sinh. Tầm quan trọng của lệnh cấm ăn uống có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Cả bảy anh em chết vì từ chối ăn thịt heo. Lệnh cấm này thực sự là lệnh truyền tôn trọng Giao ước. Ai trung thành với Giao ước, Thiên Chúa sẽ trung tín với họ. Ngay từ khi mới được loan báo, sự sống lại được coi như kết quả việc liên lạc với Thiên Chúa, với giao ước tác sinh. “Bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.” (Mcb 7:9) Như thế, sự phục sinh coi như một ân huệ Thiên Chúa, mục tiêu lời hứa nhắm tới các tôi tớ trung thành. Sứ điệp ấy mời gọi chúng ta tin tưởng vào Lời Thiên Chúa. Sứ điệp ấy cũng kêu gọi chúng ta ngày càng tin tưởng hơn vào Ðấng đã xuất hiện để tác sinh và sau cùng để phục sinh chúng ta.

Lời mời gọi trung thành với Thiên Chúa kẻ sống vang dội lại trong bài đọc hai. “Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, cho tâm hồn anh em được vững mạnh.” (2 Tx 2:17) Lời cầu nguyện đúng lúc và đúng nơi sẽ làm cho hành động kết quả. Nếu được đón nhận cách chân thành và suy niệm trong tình yêu, Lời Thiên Chúa sẽ tạo sức mạnh cho lời cầu nguyện. Lời Chúa gieo xuống, lớn mạnh và sinh hoa kết quả vào đúng thời đúng buổi. Chỉ cần chúng ta đón nhận chân thành, nghĩa là biết vâng phục, Lời Chúa đem lại nguồn an ủi. Lời Chúa củng cố và bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ.

Ðối với Kitô hữu, sự sống lại không phải là một triết lý hay một niềm tin loài người. Sự sống lại như một gia sản, một của cải truyền lại cho chúng ta, không do công trạng chúng ta. Chỉ vì là con, nên chúng ta đón nhận được món quà tặng này. Món quà này có phần bất ngờ, trong khi chúng ta muốn biết trước tất cả và từng chi tiết. Nhưng chúng ta hãy kiên nhẫn và trung thành. Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, Thiên Chúa của Môsê tự mạc khải là Chúa Cha đầy lòng yêu thương. Người đã tạo dựng nên chúng ta và còn ban cho chúng ta sự sống và sự sống vĩnh cửu của Người. Người cho chúng ta đón nhận Lời Giao ước để có được sự sống ấy . Lời Chúa giúp chúng ta yêu mến trước đã, sau đó sẽ dẫn chúng ta vào thế giới phục sinh. 

ÐƯỜNG VỀ CÕI SỐNG

Sau khi được giải thoát khỏi Ai cập, trên đường về Ðất Hứa, dân Do thái đón nhận được Mười Ðiều Răn Thiên Chúa từ núi Sinai. “Mười Ðiều Răn này không những nói về lòng trung thành với một Thiên Chúa chân thật, nhưng cả về những tương quan xã hội giữa dân Giao ước.”[1] Mười Ðiều Răn gồm những điều dân chúng cam kết trung thành với Thiên Chúa. Ðặc biệt, những tương quan xã hội được quy định bởi “quyền lợi của người nghèo” và những người khách lạ.[2] Như thế, “hồng ân tự do và Ðất Hứa, hồng ân Giao Ước trên núi Sinai và Mười Ðiều Răn liên kết mật thiết với những phong tục quy định xã hội Do thái trên đường phát triển trong công lý và tình liên đới.”[3] Không trung thành tuân giữ cam kết đó, nhiều người Do thái đã ngã gục và không thể tới Ðất Hứa.

Trong xã hội Do thái, những nguyên tắc về công lý và tình liên đới xã hội luôn  được đề cao trong các lệnh truyền về thời kỳ toàn xá và các ngày hưu lễ. “Các lệnh truyền đó không phải chỉ có giá trị cải tạo các thói tục do những tư lợi và mục tiêu ích kỷ chi phối, nhưng đúng hơn, như một lời tiên báo tương lai. Chắc chắn các giới luật đó trở thành những quy luật mọi thế hệ ở Israel phải tuân theo, nếu muốn trung thành với Thiên Chúa.”[4] Thánh ý Thiên Chúa hiện rõ trong Mười Ðiều Răn trên núi Sinai và đâm rễ sâu vào tâm khảm con người trong công cuộc tạo dựng. Chính Thánh Linh sẽ làm cho các nguyên tắc đó ngày càng ăn sâu và thể hiện ra ngoài thực tế nơi các hành vi xã hội, làm cho mọi nơi dần dần có thể chấp nhận những thái độ công bình và liên đới. Thiên Chúa đã thúc đẩy dân Giao Ước phải có thái độ như thế đối với mọi người thuộc mọi dân tộc và quốc gia. Các nguyên tắc ấy trở thành tâm điểm các lời ngôn sứ.

Ðến khi Chúa Giêsu xuất hiện, công lý đã trở thành điểm mấu chốt trong Nước Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu quả quyết : “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.” (Mt 6: 33) Trong thực tế, tìm đức công chính là tìm kiếm và xây dựng công lý trong các mối tương giao xã hội. Không có công lý, không thể có niềm hy vọng. Chỉ khi nào công lý được tôn trọng, con người mới có quyền làm người và phát triển mà thôi. Trong niềm tin vào Thiên Chúa, Giáo hội thấy rằng “lời hứa của Thiên Chúa và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô đã làm các Kitô hữu hy vọng chắc chắn có một nơi cư ngụ mới và vĩnh cửu chuẩn bị cho mỗi người, một đất mới cho công lý ngự trị.” (x. 2Cr 5:1-2; 2 Pr 3:13) Niềm hy vọng đó không khiến họ mơ mộng đến nỗi quên hết những gì đang xảy ra chung quanh. Trái lại, niềm hy vọng càng làm cho người ta quan tâm tới công việc trong cuộc sống hiện tại. Quả thực, “Giáo hội biết rõ không có một thành tựu trần gian nào đồng hóa với Nước Thiên Chúa, nhưng tất cả các thành tựu đó chỉ phản ánh và phần nào báo trước vinh quang Vương quốc, Vương quốc chúng ta ngóng chờ vào lúc lịch sử kết thúc, khi Chúa sẽ lại đến. Nhưng mối kỳ vọng đó không bao giờ có thể là cái cớ biện minh cho ai thiếu quan tâm tới quần chúng trong những hoàn cảnh cá nhân cụ thể và trong cuộc sống xã hội, quốc gia và quốc tế của họ, vì hoàn cảnh cá nhân bị cuộc sống cộng đồng chi phối.”[5] Có hy vọng mới có tất cả.

Trên đường về cõi sống, không có niềm hy vọng đó, Kitô hữu không đủ sức mạnh và hứng khởi thi hành những cam kết giao ước với Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô. “Trong trái tim con người có một mối liên hệ bền chặt với Thiên Chúa và một tình yêu cụ thể quảng đại đối với con người. Con người phải được đối xử như một tha ngã, ngay cả khi họ là kẻ thù (x. Mt 5:43-44). Nói cho cùng, trong chiều kích sâu xa của con người đã có nguồn gốc lời cam kết thi hành công lý và tình liên đới, xây dựng một cuộc sống xã hội, kinh tế và chính trị đáp ứng đúng chương trình của Thiên Chúa.”[6] 

Lời cam kết phát sinh từ và luôn đi theo một giao ước. Chính giao ước làm cho nhân loại sống dồi dào trong đời sống hiện tại và sống lại trong cuộc sống tương lai. Tin như thế không bị thua thiệt, vì “đức tin là nắm men làm dậy lên sáng kiến và sáng tạo.”[7] Cuộc sống luôn biến đổi và đầy thách đố. Nếu không có động lực Tin Mừng, Giáo hội không thể tìm được nguồn canh tân cần thiết cho cuộc sống. 

HƯỚNG VỀ ÐÂU ?

Nếu không được canh tân, sự sống sẽ ngày càng tàn lụi hay biến chất. Nhờ Giao ước, tương  quan với Thiên Chúa và tha nhân ngày càng tốt đẹp. Cũng nhờ giao ước, con người tìm được mạch sống phong phú ngay trong  hiện tại và tương lai. Giao ước chỉ đòi một điều kiện duy nhất là trung thành giữ lời cam kết. Nếu không có đức tin vững chắc, chắc chắn tổ phụ Abraham đã không thể giữ nổi lời cam kết để được hưởng tất cả sản nghiệp và hậu duệ lớn lao như Chúa hứa. Nếu không giữ lời cam kết với Chúa qua Mười Ðiều Răn, dân Chúa sẽ trôi dạt tới đâu?

Bởi đấy, trên đường trần gian, con người không thể sống vô tình trước lời mời gọi của Thiên Chúa và tha nhân. Thiên Chúa kêu gọi con người tìm Chúa trong tha nhân và vũ trụ. Chúa không ngừng thúc đẩy Giáo hội trung thành với Chúa và thành tâm phục con người. Nhưng thử hỏi bao nhiêu người lãnh đạo GHVN hôm nay có một đức tin như Abraham? Có một tấm lòng quả cảm như Môsê? Họ đang đi tìm gì ? Họ có dám từ bỏ những lối mòn suy tư và nghi thức để đi tìm phần đất Chúa chỉ cho không ?

Còn gì hứng khởi hơn khi đọc “Bài học lịch sử về phát triển đất nước” của HY Phạm Minh Mẫn ?! Giữa lúc lòng người hoang mang trước tương lai, sợ hãi trong hiện tại, nuối tiếc về quá khứ, ánh sáng đã bừng lên : “Bí quyết của sự tồn tại và phát triển đất nước cũng như con người không phải là gươm giáo, súng đạn, không phải là bạo lực, chiến tranh, khủng bố, cũng không phải là quyền lực, thế lực, tài lực, song là niềm tin vào chân lý và công lý, lòng quý trọng đối với tình huynh đệ và hoà bình. Đây là những giá trị nền tảng đồng thời định hướng cho đời sống con người và xã hội.”[8] Ai cũng biết HY đang nhắm tới ai khi viết lên những dòng như thế. Nhưng thử hỏi những kẻ đang nắm trong tay đủ mọi phương tiện đàn áp có khả năng và thời giờ để suy tư và lắng nghe tiếng nói của lương tâm không? Ngay trong GHVN, liệu đã có niềm tin và sự quý trọng như thế chưa? Tuy không có súng đạn, nhưng liệu những nhà lãnh đạo GHVN có thoát khỏi cơn cám dỗ của quyền lực, thế lực và tài lực không?

Giữa lúc nhiều người say mê dùng mọi phương tiện bạo lực dẹp tan mọi tiếng nói dân oan, còn gì an ủi hơn khi nghe HY vạch mặt chỉ tên kẻ thù của công lý : “Công lý đòi hỏi mọi người ý thức tôn trọng sự sống, nhân phẩm và sự bình đẳng giữa mọi thành phần trong cộng đồng xã hội. Công bằng xã hội đòi hỏi giới hữu trách tạo cơ hội đồng đều cho mọi người giàu nghèo phát huy tiềm năng và phẩm giá của mình. Đồng thời tạo thuận lợi cho mỗi người học biết tôn trọng chân lý, đạo lý và lẽ phải. Có được những cơ hội thuận lợi đó, con người sẽ phát huy được khả năng sống trung thực, lương thiện, phục vụ cho công ích. Nhờ đó con người sẽ vượt qua thái độ chỉ biết làm theo mệnh lệnh, hoặc chỉ biết chạy theo cơm áo gạo tiền bằng mọi giá và mọi cách, như dốí trá, lừa gạt, bạo lực…, là những cách tạo thêm bất công và gây ra bất ổn trong xã hội.”[9]

Càng đọc càng thấy HY nói đúng : “Thiên hạ trong trời đất xưa nay đều ý thức và xác tín rằng sự sống và nhân phẩm là bẩm sinh, là thiên phú. Dân gian gọi đó là của Trời cho. Tín đồ các tôn giáo tin rằng đó là quà tặng của Đấng Tạo Hoá Chí Tôn trao cho loài người để quản lý vũ trụ tạo vật vì sự sống, phẩm giá và hạnh phúc của con người. Đó là chân lý về sự hiện hữu và tự do của loài người trên trái đất, chân lý về nhân quyền và sự bình đẳng giữa người với người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc. Các bản Hiến Chương, Hiến Pháp, Tuyên Ngôn trên thế giới xưa nay đều đã ghi nhận chân lý khách quan đó.”[10]

Ðặc biệt, HY còn nhắn nhủ giới truyền thông : “Chức năng của truyền thông xã hội là thông truyền trung thực chân lý và sự thật, nhằm mở đường cho mọi người tin tưởng, liên kết với nhau, và hợp tác xây dựng. Tính trung thực sẽ giúp cho truyền thông tránh biến chân lý và sự thật từ điều phản ánh thực tại thành điều có lợi riêng, là điều thường gây ra mâu thuẫn và sự nghị kỵ lẫn nhau.”[11] 

Nhưng xin hỏi, trong vụ án linh mục Nguyễn văn Lý, các nhà lãnh đạo GHVN đã tôn trọng chân lý và công lý tới mức nào? Chân lý và công lý ở đâu khi các ngài im lặng hay chấp thuận cho các linh mục giáo phận tham gia sinh hoạt chính trị tại quốc hội và mặt trận, nhưng lại lên án người anh em tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo?

Trong kỳ đi thăm Giáo Hội Trung Quốc cuối tháng 9.2007 vừa qua, HY Phạm Minh Mẫn và TGM Ngô Quang Kiệt có thành công lắm không? Thành công về phương diện nào? Các ngài thăm Giáo Hội nào, quốc doanh hay hầm trú? Xin mượn lời chất vấn tổng thống Bush của Dân Biểu McCotter thuộc đảng Cộng Hoà để hỏi các ngài : “Ông có đến thăm 5 vị Giám Mục và 15 Linh Mục đang bị chính quyền bỏ tù không?”[12] Nếu không, các ngài đến Trung Quốc để liên đới với ai? Ðể ủng hộ cho công lý hay quyền lực áp đảo công lý?

Nói tóm, công lý và tình liên đới vẫn là những nguyên tắc đòi hỏi những ai muốn trung thành với giao ước, một giao ước đã từng làm cho dân tộc Do thái thoát khỏi ách nô lệ Ai cập và còn đưa mọi người vào cõi sống và hằng sống.

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã giao ước với chúng con trong máu Chúa Kitô. Xin giúp chúng con luôn nhận ra hạnh phúc lớn lao này. Xin ban cho chúng con sức mạnh Thánh Linh để thực hiện những nguyên tắc giao ước đó đòi hỏi. Amen.

đỗ lực

11.11.2007


[1] Toát Yếu Giáo Lý Giáo Hội về Xã hội, 23.

[2] ibid.

[3] ibid.

[4] Ibid., 25.

[5] Gioan Phaolô II, Sollicitudo Rei Socialis, 1987, số 43.

[6] Toát Yếu Giáo Lý Giáo Hội về Xã hội, 40.

[7] ibid., 86.

[9] Ibid.

[10] Ibid.

[11] Ibid.

Tác giả:  Phúc Âm Nhật Ký, Lm. Đỗ Lực, op.

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!