Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Thánh Kinh Công Giáo
Lời Chúa Mỗi Ngày
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, GP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Phúc Âm Nhật Ký
KHI CON NGƯỜI ÐẾN

(Mt 24:37-44)

Khi nghiên cứu về Giáo hội Ðại Hàn, người ta ngạc nhiên về sức phát triển vượt bực trong vòng chưa đầy một thế kỷ. Thời gian cam go nhất trong các cuộc chiến thế kỷ 20 cũng là những cơ hội khiến cho người Ðại Hàn bớt tự ái và tự hào dân tộc mà khiêm tốn đón nhận những tư tưởng ngoại lai. Nhờ đó, họ càng dễ chấp nhận Tin Mừng hơn. Nói khác những thất bại chua cay trong thực tế đã làm cho dân tộc Ðại Hàn thức tỉnh trước những giá trị cao cả và giá trị có sức cứu thoát của Chúa Kitô.

Nếu không trải qua những biến cố đau thương đó, chắc chắn không bao giờ con người có thể học được bài học khôn ngoan. Thời gian đúng là ông thày dạy khôn cho nhân loại. Nếu thời gian là ông thày dạy khôn, phải nói sao về Ðấng làm chủ cả thời gian (x. Mt 18:8; Mc 2:28; Lc 6:5)? Hôm nay Chủ thời gian là Chúa Giêsu lên tiếng cảnh giác mọi người về niềm hy vọng lớn lao của con người đứng trước giới hạn của thời gian . 

THỜI GIAN NHƯ MỘT GIỚI HẠN

Thời gian là một giới hạn lớn nhất của kiếp người. Khi nào đụng đầu vào giới hạn đó, con người mới giật mình hoảng sợ. Chính vì thế Chúa muốn nhắc nhở nhiều lần giới hạn thời gian để con người tỉnh thức. Chưa bao giờ Chúa đề cập nhiều lần đến giới hạn thời gian trong một đoạn văn ngắn như Tin Mừng hôm nay. Mở đầu Người nhắc lại lịch sử nhân loại trước thời gian ông Nôe vào tàu tránh nạn hồng thủy. Sau đó, Chúa liên tục nhắc đến ý niệm thời gian như : “ngày” (cc.38.39.42); “bấy giờ” (c. 40); “canh”(c.43); “giờ phút” (c. 44). Những nhắc nhở về thời gian như những chặng mốc cần thiết để thức tỉnh chúng ta về giới hạn của kiếp người. Không để ý giới hạn đó, không thể tỉnh thức.

Nhưng có lẽ ý thức về giới hạn đó cũng chỉ giúp con người phần nào. Thời gian chỉ là cái khung. “Con Người” mới là tất cả nội dung của vấn đề nhân loại phải tỉnh thức ngóng chờ. Thế nên, Chúa phải cảnh giác mãnh liệt hơn khi nói đến “ngày Con Người quang lâm” (c. 39) và “Con Người sẽ đến.”(c. 44) Dù lần thứ nhất hay lần thứ hai xuất hiện nơi trần gian, Chúa đã quả quyết, “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” (Lc 19:10) Bởi vậy, khác với thời gian và vũ trụ, không những Chúa không bị hủy diệt, mà còn đem đến sự sống sung mãn cho muôn loài.

Sở dĩ Chúa kêu gọi mọi người “canh thức” vì không ai biết trước giờ phút Chúa đến. Tất cả diễn ra rất bất ngờ. Như vậy có căng thẳng lắm không? Chúa sẽ đem đến những gì cho cuộc hội ngộ lần cuối đó? Làm cách nào có thể “sẵn sàng” khi “Con Người” đến?

Con Người trở thành trung tâm vũ trụ. Tất cả mọi nỗ lực phải tập trung vào Người. Lý do vì Người đem lại cho vũ trụ và thời gian một ý nghĩa và một hướng sống. Nếu cứ để các giới hạn thời gian, vật chất, kiến thức, của cải v.v. bao vây, chúng ta không thể nào nhìn thấy Người. Dĩ nhiên, sống giữa trần gian, con người khó thoát những hấp lực vật chất. Nhưng Thày sẽ giúp thoát khỏi ma lực ấy, như đã khiến chứng nhân đối đáp khôn ngoan trước bao luận điệu quỷ quyệt trần gian (x. Lc 21:15). Không có Thày, cuộc sống sẽ sống rất căng thẳng. Nhưng có Thày, chúng ta sống bình an.

Có nhiều cách để sống canh thức và sẵn sàng trước giờ Chúa đến. Muốn khám phá cách đúng nhất theo ý Chúa, thiết tưởng chúng ta không thể quên, ngay sau Tin Mừng hôm nay, Chúa kể ba dụ ngôn người đầy tớ trung tín (Mt 24:45-51), mười trinh nữ (Mt 25:1-13) và những yến bạc (Mt 25 14-30). Chúa rất chu đáo khi nói ba dụ ngôn này như ba con đường giúp chúng ta chuẩn bị đón Chúa. Con đường thứ nhất là công bình. Nếu không tỉnh thức trước giờ ông chủ về, chắc chắn người đầy tớ sẽ xử bất công với các đồng bạn. Công bình là một đặc tính của “người đầy tớ khôn ngoan” (Mt 24:45) luôn tỉnh thức đón hạnh phúc lớn lao từ ông chủ. Hạnh phúc ấy lớn đến nỗi “tất cả tài sản” (Mt 24:47) ông chủ đều giao cho anh quản lý.

Con đường thứ hai là trung kiên như các cô trinh nữ chờ đợi mãi tới khuya để đón chàng rể đến. Có trung kiên mới thấy mình phải chuẩn bị những gì và tới mức nào để xứng đáng bước vào phòng cưới. Các nhà chú giải vẫn thấy dầu cần đổ đầy bình là lòng bác ái. Không ai có thể thay ai gánh lấy trách nhiệm sống bác ái và công bình. ÐGH Phaolô VI đã nói : “Tôi kiên quyết kêu gọi tất cả các Kitô hữu hãy hành động ... Mỗi người hãy xét mình xem tới lúc này họ đã làm gì và phải làm gì. Nhắc lại các nguyên tắc, nói lên ý định, vạch ra những bất công và cao giọng tố cáo như ngôn sứ vẫn chưa đủ. Các lời này sẽ không có giá trị thực sự, nếu mỗi người không ý thức mãnh liệt hơn về bổn phận của mình và hành động hữu hiệu.”[1]

Con đường thứ ba là dấn thân đầu tư thời giờ và cuộc sống cho một mục đích duy nhất là Nước Trời. Ðời là một cuộc đầu tư không ngừng để sinh lời. Một thái độ thụ động trước những tiêu cực của cuộc đời sẽ khiến con người trở thành bất công đối với Thiên Chúa và đồng loại. Ðó là một thái độ mê ngủ. Không canh thức, sẽ làm hoang phí bao của cải Thiên Chúa, đáng lý phải được đầu tư để sinh lời, như Chúa Giêsu đã căn dặn : “Chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại.” (Ga 15:16)

Tất cả những nẻo đường công bình, trung kiên và dấn thân đó đều mở ra trước mắt tín hữu. Không đi vào những nẻo đường ấy, không thể gặp gỡ Chúa. Nhưng làm sao khám phá và đi vào ba con đường đó, nếu người ta không muốn gặp gỡ Chúa? Làm sao gặp gỡ Chúa, nếu không tin? Nếu không tin, làm sao tỉnh thức? Nhưng nếu tin, con người sẽ khám phá ra luật công bình, luật bác ái và những công việc phải hoàn thành trên hành trình về gặp gỡ Chúa. Ðó là những quy luật tất yếu giúp con người nuôi hy vọng lớn lao vào cuộc sống hạnh phúc đời đời.  

RANH GIỚI ÐẠO ÐỜI 

Nếu tỉnh thức, người ta sẽ thấy cuộc đời là cơ hội gặp gỡ Chúa. Chúa đang hiện diện từng giây phút trong mọi lãnh vực. Dĩ nhiên, cứu cánh chỉ có một. Nhưng Chúa dùng nhiều phương tiện và cơ hội khác nhau để đạt cứu cánh đó. Chúa mới là điểm nối kết và là cứu cánh duy nhất làm cho mọi sinh hoạt đạo đời thống nhất.

Trong các sinh hoạt và tương quan đạo đời, nếu không tỉnh thức, con người có thể lạc bước và không thể gặp gỡ Thiên Chúa cũng như đồng loại. Không gặp gỡ Chúa, mọi sinh hoạt trở thành vô nghĩa. Trong tương giao muôn mặt hôm nay, Chúa hiện diện như Ðấng Công Chính và đầy Tình Thương. Bởi đó, nếu không đem lại công lý và tình yêu, mọi tổ chức xã hội và Giáo Hội đều vô giá trị. Chính vì vậy, công lý luôn là một đòi hỏi của nhân loại mọi thời mọi nơi. Không dấn thân tranh đấu cho công lý, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội lớn cho Chúa đến viếng thăm trần gian.

Nhìn vào lịch sử nhân loại, nếu không có đức tin, khi tách biệt nhà nước khỏi Giáo hội, nhiều người tưởng có thể xua đuổi Chúa ra khỏi xã hội. Nhưng thật ra Chúa đang hướng dẫn toàn thể nhân loại về một cứu cánh duy nhất. Tuy thế, tương quan giữa nhà nước và Giáo Hội đang gây nhiều nhức nhối và tạo nhiều hỏa mù. Chúa muốn vạch một lằn ranh giữa hai thực thể đó để con người biết tôn trọng và giúp đỡ nhau thi hành sứ mệnh giữa những phương tiện và lãnh vực phức tạp nơi trần thế.  Không phân biệt nổi lằn ranh giữa đạo đời và không nhận ra cứu cánh lớn lao vượt trên lằn ranh đó, không thể canh thức giờ Chúa đến trong lịch sử và không thể đón vua hòa bình.

Căn cứ ngay trên lời Chúa "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."(Mt 22:21), người ta đặt một ranh giới tách biệt đạo đời. “Tách biệt như thế không những ngăn cản được những bước quá đà của nhà nước thần quyền, mà còn cho thấy nguồn gốc quan niệm về giới hạn của nhà nước. Quyền lực nhà nước có giới hạn và phải tôn trọng lương tâm mỗi người.”[2] 

Dinesh D’Souza, một học giả nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Hoover thuộc Ðại Học Stanford, cảnh báo : “Các nhà chủ trương trần tục hóa xã hội muốn lãnh vực công sạch bóng tôn giáo và luân lý dựa trên tôn giáo để họ có thể độc quyền lấy quan điểm riêng  thao túng xã hội. Hậu quả tiến trình này là các tín hữu sẽ bị xếp vào loại công dân hạng hai. Việc tách biệt Giáo hội và nhà nước không được dùng như một thứ vũ khí chống lại Kitô giáo, nhưng phải làm sao để sự tách biệt ấy trở thành nguyên nhân làm cho xã hội được bình an và tôn giáo được tự do.”[3]

Sự tách biệt đó hiện rõ trong lề lối tổ chức và mục tiêu phục vụ con người.  Giáo hội tổ chức làm sao đáp ứng nhu cầu thiêng liêng của tín hữu, trong khi các cộng đồng chính trị tạo thêm mối tương quan và các cơ chế để phục vụ tất cả những gì thuộc công ích đời sống.”[4] Tách biệt để thấy rõ lãnh vực hoạt động và tôn trọng nhau, chứ không nhằm đẩy vào tình trạng thù nghịch hay băng giá. Từ đó, hai bên tìm mọi cách lợi dụng nhau. Trái lại, cả hai đều nhằm phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của con người, mặc dù dưới những danh hiệu khác nhau.

“Vì có bổn phận phải tôn trọng tự do tôn giáo, công đồng chính trị phải bảo đảm cho Giáo Hội có chỗ thực hiện sứ mệnh của mình.”[5] Sứ mệnh Giáo hội chỉ nhằm giúp con người tỉnh thức trước giờ Chúa đến mang ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại mà thôi. Nếu không, con người dễ ngủ mê trước những tranh chấp quyền lực và bả vinh hoa vật chất. Muốn chu toàn sứ mệnh, “chắc chắn Giáo hội có quyền được mọi người công nhận có căn tính riêng về phương diện pháp lý.”[6] 

“Vì mật thiết liên hệ đến nhân loại và lịch sử, nên Giáo hội đòi quyền tự do bày tỏ lập trường đạo đức về thực tại này, bất cứ khi nào Giáo Hội được yêu cầu bênh vực những quyền căn bản làm người hay phần rỗi các linh hồn.”[7] Không phải khi nào nói đụng tới con người, Giáo Hội đều làm chịnh trị. Nói khác, con người không phải là đối tượng duy nhất của chính trị. Chính trị không nắm giữ độc quyền trên con người.

Vì lợi ích thực tế, nên tìm cách giảm bớt những xung đột và dung hòa các quyền lợi giữa Giáo Hội và nhà nước. Nếu không, con người sẽ bị mắc kẹt và thiệt thòi  giữa cảnh “trâu bò húc nhau” đó. Con người phải là mục tiêu tối hậu mọi lãnh vực. Tách biệt đạo đời cũng chỉ vì lợi ích cho con người mà thôi.

Bằng mọi cách phải bảo vệ con người khỏi những áp lực từ mọi phía. Bởi thế, trong lịch sử, “qua việc bảo vệ nhân quyền, Kitô giáo cũng làm nguồn cảm hứng cho các phong trào chấm dứt nô lệ, thực thi dân chủ và cổ động quyền tự trị, cũng như những nỗ lực đầu tiên xây dựng một học thuyết về nhân quyền. Nhiều công cuộc xây dựng nhân quyền có được là nhờ Kitô giáo rất nhiều.” Nếu không có Kitô giáo như một ý thức cảnh giác nhân loại, làm sao con người có được nhân quyền và bình đẳng như hôm nay. Nhưng Kitô giáo là gì, nếu không phải là một niềm tin vào Ðấng đang đến trong lịch sử và hoàn thành những gì Chúa Cha đã lên kế hoạch?

Không thể bảo vệ nhân quyền , nếu không tách biệt lãnh vực và mục tiêu của Giáo hội và nhà nước. Do đó, nếu can thiệp vào lãnh vực tôn giáo, nhà nước đã vượt quá quyền hạn và xâm phạm nhân quyền. Các tổ chức đan chéo và dẫm chân lên nhau khiến các hoạt động tê liệt hay đi sai mục tiêu. Ngược lại, nếu muốn trung thành với Chúa,  Giáo hội không thể tránh xa những con đường tìm gặp Chúa. Phải rất tỉnh thức mới có thể làm cho mọi người, nhất là Kitô hữu, thấy rõ vị trí và niềm hy vọng của mình. Chính vì thấy rõ nhân vị được nâng lên tới chiều kích Chúa Kitô, nên Giáo Hội đã không hề mỏi mệt tranh đấu cho nhân quyền.

Muốn thế, Kitô hữu phải hoạt động để thiết lập công lý trong mọi lãnh vực xã hội. Ðây là lãnh vực đòi họ phải dấn thân và hy sinh rất nhiều. Không thể giản lược sứ mệnh Giáo hội vào công cuộc bác ái và thỏa mãn với những công cuộc phát chẩn hay bố thí. Thực tế, “việc thi hành bác ái và tranh đấu cho công lý phải được coi là khuôn mẫu thường xuyên của Giáo Hội.”[8] Chính vì quá chú trọng tới sinh hoạt bác ái và quên tranh đấu cho công lý, nên cảnh nghèo đói và bất công tràn ngập khắp các nước đang phát triển, đặc biệt tại Châu Mỹ La tinh. Bởi thế, ÐHY Oscar Rodríguez Maradiaga, Chủ Tịch cơ quan Caritas Quốc Tế, lên tiếng báo động : “ Nếu sự phát triển là cái tên mới của hòa bình thì sự kém phát triển tại Mỹ Châu Latin và tình trạng bất công có các đặc điểm khác nhau tại mỗi nước, sẽ gia tăng tình trạng căng thẳng đưa đến nguy cơ cho nền hòa bình.”[9] Ðó là dấu chỉ Giáo Hội không tỉnh thức và không chuẩn bị cho mọi người  mong chờ Chúa đến.

Không tranh đấu cho công lý, Kitô hữu không thể hoàn thành sứ mệnh. Lý do vì “mục tiêu của sự phát triển không phải là chỉ nâng cao mức sống của dân chúng bằng mức sống trong các nước giầu có, mà phải dựa trên căn bản đời sống có được nhân phẩm hơn hay không trong các công việc có tính liên đới, đời sống và óc sáng tạo của mỗi con người có thể tăng lên một cách hữu hiệu, kể cả cái khả năng của cá nhân đáp trả về ơn kêu gọi của riêng mình và do vậy đáp ứng lại lời mời gọi của Thiên Chúa”[10] Không có Giáo Hội, ai sẽ nhắc nhở và hoạt động cho mọi người đạt tới mục tiêu cao cả như thế? Nếu không can đảm đứng tách biệt khỏi nhà nước, không bao giờ Giáo Hội có đủ tư cách và khả năng hoàn thành sứ mệnh của mình.  

ÐƯỜNG NÀO CHO CHÚA ÐẾN 

Cho tới nay, việc phân biệt đạo đời cho thấy điều gì? Rõ ràng tôn giáo bị gạt ra ngoài xã hội và không có một ảnh hưởng gì tới nhà nước. Nhiều người trong Giáo Hội vẫn mơ tưởng dùng đường lối đối thoại hay gương sáng ảnh hưởng tới các đảng viên hay chính sách nhà nước. Nhưng thực tế, sau 32 năm nhuộm đỏ, các tôn giáo ở Miền Nam Việt Nam đã thay đổi được nhà nước, hay ngược lại?

Hợp tác với nhà nước đã đem lại cho GHCGVN những gì? Phải chăng sau bao năm cố gắng tự bịt miệng rồi khúm núm mở miệng dâng kiến nghị “xin,” GHCGVN đã được nhà nước “cho” phép xây các nhà thờ, tòa giám mục, chủng viện, tu viện và truyền chức linh mục hàng loạt v.v. ? Những món quà đó hấp dẫn đến nỗi một số vị lãnh đạo tôn gíao đã bày tỏ công khai sự mãn nguyện!!!

Thực ra, những bổng lộc đó chỉ là những phương tiện giúp nhà nước đẩy Giáo Hội vào  bốn bức tường nhà thờ hay nhà chùa, để họ mặc tình làm mưa làm gió ngoài xã hội. Không những thế, họ còn thọc sâu vào nội bộ Giáo hội để lũng đoạn và chi phối. Ðây là những bằng chứng :

“a- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm 8-6-2007 vừa ký Quyết-định số 83/2007 QDD-TTg chủ-trương sẽ huấn luyện khoảng 22 nghìn cán bộ chuyên trách xử lý các vấn đề liên quan tới các tôn giáo dựa theo chương trình của Bộ Nội vụ và Học viện Chính trị Hành chánh Quốc gia Hồ Chí Minh (hai tổ chức công an mật vụ của đảng CSVN). Mấy chục ngàn cán bộ tôn giáo này có nhiệm vụ chủ yếu là theo dõi, kiểm soát, báo cáo và lũng đoạn các tôn giáo.

“b- Nhà cầm quyền VN can thiệp vào việc bổ nhiệm các chức sắc cao cấp trong GH Công giáo là các Giám mục, chứ Tòa Thánh Vatican không có toàn quyền. Điều đó đã dẫn tới việc tấn phong nhiều Giám mục không hoàn toàn theo tiêu chuẩn của Giáo Hội và Giáo Luật. Hậu quả là có hai giám mục đã xin từ chức khi đang thi hành nhiệm vụ: (...). Trước năm 1975, tại VN không hề xảy ra chuyện từ chức như vậy.

“c- Nhà cầm quyền VN buộc các chủng viện (là nơi đào tạo các linh mục quản xứ tương lai) phải học chủ nghĩa Mác xít, lịch sử đảng CS và pháp luật nước CHXHCNVN và phải thi với hệ số điểm cao. Điểm thi này sẽ là căn cứ để nhà cầm quyền cho chủng sinh chịu chức linh mục hay không. Việc học lý thuyết duy vật vô thần song song với giáo lý nhân bản hữu thần đã làm cho lương tâm các chủng sinh ra tê liệt, chẳng còn biết đâu là sự thật, các chức sắc tôn giáo này chỉ còn thuần túy lo việc lễ nghi, hay nếu có làm việc từ thiện bác ái, thì chỉ cho các nạn nhân của thiên tai, chứ không phải cho các nạn nhân của nhân tai (tức là những kẻ bị áp bức, bóc lột ). Bằng chứng là các linh mục dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền thì rất hiếm!”[11]

Sống trong một xã hội với những cơ chế như thế, làm sao con người có thể tỉnh thức? Chẳng lẽ mục tiêu Giáo hội cuối cùng chỉ còn là những hình thức và những lợi lộc vật chất? Chúa sẽ đến qua ngả nào, khi Giáo hội đang lóa mắt trước những hào nhoáng vật chất và vinh quang trần thế? Nếu không trải qua những thất bại sau bao cuộc chiến, dân tộc Ðại Hàn có tỉnh thức trước giờ Chúa đến với bao hồng ân từ lời Chúa không?  

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống khiêm tốn như dân tộc Ðại Hàn sẵn sàng  đón Chúa đến với tấm lòng khiêm cung. Xin hãy đốt lên  niềm hy vọng để mọi người có thể sống vững mạnh giữa  đêm trường thế kỷ. Amen. 

đỗ lực 02.12.2007


[1] Phaolô VI, A Call to Action (Octogesima Adveniens), 1971

[3] Ibid.

[4] Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, 424.

[5] ibid.

[6] ibid., 426.

[7] x. Luật Giáo Hội, 747, triệt 2; Giáo lý Công giáo, 2246.

[9] ibid.

[10] ibid.

Tác giả:  Phúc Âm Nhật Ký, Lm. Đỗ Lực, op.

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!