Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Thánh Kinh Công Giáo
Lời Chúa Mỗi Ngày
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, GP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Phúc Âm Nhật Ký
DUYÊN KỲ NGỘ

(Ga 4:5-42)

Có một tình yêu không bao giờ « vẹn câu thề, » nhưng đã lưu lại những khúc ca chơi vơi như biển tình lai láng.  

Ngày mai em đi
Biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya
Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ…
 [1]
 

Trịnh Công Sơn đứng ở đâu để “gọi bờ cát trắng đêm khuya” mà thấy “sỏi đá trông em từng giờ” ? Riêng Chúa Giêsu đến bên bờ giếng Giacóp để gợi lên những giá trị lớn lao và sâu thẳm trong lòng thiếu phụ Samari. Không phải sỏi đá, nhưng ngay trong tâm hồn em, Thiên Chúa đang trông em từng giờ. Cuộc trao đổi thật kỳ thú và mở ra nhiều chân trời mới.  

TRỞ LỰC PHẢI VƯỢT QUA

Hôm đó, giữa trưa hè nóng cháy, sau một chặng đường dài mỏi mệt, Chúa Giêsu đến bên bờ giếng Giacóp. Lúc này, chắc chắn các môn đệ nhìn Chúa không giống trên núi hiển dung chút nào. Như thế mới thật là “người” chứ ! Không còn cái gì trong thế giới loài người Chúa không chia sẻ ! Càng chiêm ngưỡng Chúa trong thực tại con người, càng thấy Người gần gũi trong những mỏng giòn, lo lắng, đau khổ.

Cơn đói khát càng làm tăng vẻ mệt mỏi. Các môn đệ vội vào chợ mua ít thực phẩm ăn trưa. Giữa lúc môn đệ ra đi, tình cờ một thiếu phụ đến kín nước và bắt gặp Chúa đang ngồi chờ ... Nếu là một chàng thanh niên Do thái khác, Chúa đã phải tránh ra một nơi, trước khi cô ấy đến bờ giếng. Nhưng không, Chúa vẫn ngồi đó như hẹn hò từ lâu.

Mở đầu câu truyện là một lời van xin : "Chị cho tôi xin chút nước uống !" (Ga 4:7) Thật ngược đời ! Chúa là nguồn của mọi nguồn suối lại phải xin một chút nước uống cho đỡ khát. Thiên Chúa không bao giờ đến với chúng ta như một ân nhân. Trước hết Người đến với chúng ta như một hành khất van xin tình yêu. Toàn bộ Tin Mừng đều cho thấy rõ điều đó. Chúa Giêsu không bao giờ có thái độ kênh kiệu như một người có quyền thống trị. Trước những người môn đệ như Giakêu và Phêrô, Chúa luôn tỏ ra nhỏ bé đợi chờ câu trả lời, van xin tình yêu : “Ông có muốn không ?”, “Anh có yêu mến tôi không ?”

Thực tế, trong mối tương giao nhân loại, một tình yêu đích thực bao giờ cũng phải van xin. Chính từ giây phút biết người ta cần mình, một sinh vật mới bắt đầu sống hay sống lại. Chúa Kitô luôn là người ăn mày tình yêu chúng ta. Từ thái độ khiêm tốn đó, Chúa đã đi sâu vào tâm hồn con người. Nhất là khi gặp phụ nữ Samari, một người ngoại bang và tội lỗi, Người cũng không thay đổi giọng điệu hành khất đó, dù biết rõ mình là một người Do thái. Có nhiều hàng rào ngăn cản phụ nữ này tiếp xúc với Chúa. Chính cô cũng lên tiếng cảnh giác Chúa điều đó. Nhưng Chúa vẫn cương quyết vượt qua những rào cản về xã hội và chủng tộc. Nhờ đâu ?

Trước hết, nhờ Thánh Linh, Chúa thấy tất cả những rào cản đó hoàn toàn bất công vì đã bóp nghẹt tự do và sự sống con người trong những truyền thống phi lý. Chúa tuyệt đối tự do, nên không thể chấp nhận những bất công đó. Chính vì muốn mạc khải mầu nhiệm Nhập thể sâu nhiệm, rao giảng sứ điệp tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Ðức Giêsu đã được sai đến với mọi người nam nữ, nhất là những người nghèo khổ, bị tước đoạt, bị mất mát nhiều nhất.

Nếu Chúa Giêsu vượt qua mọi công ước và rào cản, chính vì trước mắt Người, không có ai bị loại trừ. Dù hoàn cảnh xã hội, đạo đức, hay tôn giáo, dù quá khứ có ra sao, ai cũng có thể gặp gỡ Chúa, miễn bằng lòng chấp nhận ân huệ Thiên Chúa đang hiện diện giữa tâm hồn và cuộc sống. Không có gì ngăn trở con người đến với Chúa.

Vấn đề chính yếu là làm sao gặp gỡ Thiên Chúa, khám phá ra tình yêu quảng đại của Người. Nhưng cuộc gặp gỡ này luôn đòi hỏi sự thật. Tình yêu không thủ đoạn. Không thể đóng kịch với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã bắt vào cuộc đối thoại với thiếu phụ Samari và dựa trên những nền tảng sâu xa, vì Người bắt nàng phải nhìn sâu vào tâm hồn. Người nói : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây." Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng." (Ga 4:16.17) Qua cuộc trao đổi này, Chúa không muốn bắt tội để hạ nhục nàng, nhưng muốn giúp nàng lớn lên và biết mở tâm hồn đón nhận sự thật. Từ trước tới nay, nàng sống trong sự dối trá, nên hoàn toàn mất tự do. Dối trá trong cuộc đời tư riêng cũng như trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Sự thật không biết nghiêng về đâu.

Sự thật chưa xuất hiện vì những tranh chấp tôn giáo giữa Do thái và Samari hầu như bất tận. Họ tưởng có thể nhốt Thiên Chúa vào một nơi mình mong muốn. Người Do thái muốn Chúa chỉ ngự trong đền thờ Giêrusalem. Trái lại, người Samari muốn trên núi Garizim. Nơi thờ phượng, Kinh thánh, truyền thống đều khác với Do thái, đến nỗi người Samari bị khinh miệt như dân ngoại đạo và bị loại trừ. Thật là một bất công quá sâu xa.

Làm sao giải quyết mối bất công tệ hại này ? Nếu đứng về phía Do thái, chắc chắn Chúa sẽ bị người Samari căm thù và ghét bỏ. Nếu đứng về phía Samari, người Do thái sẽ không để Chúa yên. Không phải bị giằng co mà Chúa tìm lối thoát qua một lập luận siêu thực. Chúa đã bắt đầu cho nàng biết một sự thật cốt yếu : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa” (Ga 4:11) trong tâm hồn chị, thì chính Thiên Chúa sẽ đến cư ngụ trong chị ! Ðó là điều cơ bản, là khởi điểm và đích điểm của toàn thể cuộc sống.

Như thế Chúa đã đánh thức ý thức chị  về sự hiện diện của Thiên Chúa ngay trong tâm hồn mình và làm cho chị có thể chia sẻ sự hiện diện ấy với người khác bằng một việc thờ phượng đích thực. Người đánh thức chị về ân sủng đã có sẵn trong chị. Vấn đề không phải là nơi thờ phượng, nhưng là phải thờ phượng bằng cách nào. Thờ phượng trong Thần khí và sự thật nghĩa là thờ phượng nhờ ý thức Thánh Linh đang nằm sâu trong con người. Chính Thánh Linh làm cho chị có thể ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa. Thờ phượng đích thực là tôn kính Thiên Chúa bằng cách quảng đại cống hiến tất cả những gì mình đang có cho vị Ðại Ân Nhân của đời chị. Thế là một phép lạ đã xảy đến với chị. Nàng không thể đứng yên. Thoát khỏi những ràng buộc của tâm địa hẹp hòi, nàng đã lao mình vào vòng đam mê cứu rỗi toàn thể nhân loại. Thế là nàng đã chạy vô làng để loan báo cho dân chúng. Chúa đã ném lửa vào tâm hồn nàng. Toàn thể xóm làng đã cháy sáng trong Thần Khí và sự thật !  Từ nay dân làng sẽ trở thành những người thờ phượng đích thực. Tự do tôn giáo chính là đây ! Giêrusalem hay Garizim mất hẳn hấp lực. Từ nay trung tâm thu hút mọi người sẽ là chính Ðức Kitô, như dân làng tuyên xưng (x. Ga 4:42). 

LÀM NGƯỜI TỰ DO

Nhờ gặp gỡ Chúa Kitô, thiếu phụ Samari đã trở thành con người tự do đích thực về ba mặt cá nhân, xã hội và tôn giáo. Nàng không còn mặc cảm làm người phụ nữ Samari nữa. Những tội lỗi quá khứ cũng không cầm chân được nàng. Nàng hoàn toàn làm người tự do, không còn lệ thuộc vào truyền thống, đẳng cấp xã hội và nơi chốn thờ phượng Thiên Chúa nữa. Từ nay nàng sẽ chỉ có một nơi thờ phượng duy nhất là trong Thần Khí và sự thật.

Bình thường, thiếu phụ Samari không dám xuất hiện trước đám đông, vì đời tư không được dân chúng tán thành.[2] Nhưng sau khi tiếp xúc với Chúa, tất cả con người nàng đã thay đổi. Nàng đã có đầy đủ sức mạnh để quy tụ mọi người về bên Chúa. Nàng nhận thức rõ ràng “trong và nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, thế giới và con người nắm bắt chân lý đích thực và toàn vẹn.”[3] Qua cuộc trao đổi, nàng mới nhận ra Thiên Chúa gần mình hơn mình tưởng. Người hiện diện ngay trong tâm hồn con người. “Càng sống hiệp thông với Thiên Chúa, con người càng được tăng cường sức mạnh và được giải thoát ngay trong bản tính đặc biệt và tự do nổi bật của họ.”[4] Nếu không nhờ Người, làm sao nàng có thể nhận ra hồng phúc được hầu truyện với Ðấng Thiên Sai (x. Ga 4:39) ? Làm sao tâm hồn nàng được đánh thức để cảm thấy Thiên Chúa đang hiện diện ? Làm sao nàng được giải thoát khỏi mặc cảm thân phận phụ nữ Samari ? Làm sao nhận ra cách thờ phượng đích thực, không lệ thuộc Giêrusalem và Garizim ? Từ nay Do thái không còn lấy lý do gì áp chế người Samari nữa ! Bất công sẽ chẳng còn !

Muốn đạt đến tình trạng tốt đẹp đó, cần phải nỗ lực nhìn mọi sự trong ánh sáng đức tin. Chỉ đức tin mới cho chúng ta thấy “trong Ðức Kitô, chính Thiên Chúa được mạc khải như một ngươi Cha và phú ban sự sống cho chúng ta. Trong Ðức Kitô, con người lãnh nhận mọi sự như ân huệ từ Thiên Chúa một cách tự do và khiêm tốn. Con người sở hữu vạn vật khi nhận biết và nhờ kinh nghiệm biết vạn vật đều lệ thuộc Thiên Chúa, phát xuất từ Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa.”[5] Phải mất bao nhiêu thời gian và công sức, Chúa Giêsu mới có thể thuyết phục thiếu phụ Samari nhận ra chân lý đó ? Một khi đã thấy rõ thực tại ấy, nàng cảm thấy như bay trên mọi thứ biên giới trần gian. Không còn ngăn trở nào khiến nàng chùn bước trong công cuộc rao giảng Chúa Kitô cho mọi người.

Khi đã nhận ra chân lý đó, những tranh chấp về con người, xã hội và tôn giáo không còn ý nghĩa gì nữa. Chỉ Thiên Chúa mới có quyền trên mọi sự. Chỉ Thiên Chúa mới liên kết tất cả. Sự lệ thuộc vào Thiên Chúa không phá hủy tự do của con người. Nói khác, “vì con người là một thụ tạo, nên không có gì mâu thuẫn giữa tự do và sự lệ thuộc vào Thiên Chúa.”[6] 

Bởi thế, khi được mạc khải về sự thờ phượng đích thực trong Thần Khí và sự thật, thiếu phụ Samari mới cảm thấy hết căng thẳng và nhận ra giá trị cao cả nơi con người Chúa Giêsu và chính mình. Quả thực, tự do tôn giáo là “quyền sống trong sự thật của niềm tin và phù hợp với nhân phẩm cao cả.”[7] Hơn nữa, “sự tôn trọng nhân phẩm đòi người khác phải nhìn nhận chiều cạnh tôn giáo của con người.”[8] Khi áp đặt niềm tin của mình trên người khác, rõ ràng con người không còn tôn trọng “quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo là một trong những điều tốt đẹp nhất của mỗi người.”[9] 

Chính vì lệ thuộc vào truyền thống và đền thờ cũng như Kinh thánh mỗi bên, cả Do thái lẫn Samari không thể thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật. Dựa vào lề luật và phong tục riêng, họ còn định đoạt cái gì tốt xấu cho chính mình và người khác. Trước khi gặp gỡ Chúa, chắc chắn thiếu phụ Samari và dân làng đã sống trong sự hậm hực vì bị người Do thái chèn ép, khinh thị và lên án như loài quỷ sứ xấu xa, mặc dù họ cùng chung một lời hứa về Ðấng Cứu Thế như dân Do Thái. Ðó là một bất công nghiêm trọng nhất.  

KHÔNG HẸN MÀ HÒ 

Nếu không gặp được Ðức Giêsu, thiếu phụ và dân làng Samari mãi mãi sống sau những ranh giới phân chia con người với nhau và với Thiên Chúa. Quanh năm suốt tháng, họ chỉ biết những nhu cầu thường ngày và niềm tin cũ kỹ. Rất may, khi gặp Chúa, họ đã uống được nước “đem lại sư sống đời đời” (Ga 4:14) khiến cuộc sống họ thăng hoa trong thần khí và sự thật.

Bốn thế kỷ sau khi Chúa ra đời, giống như thiếu phụ Samari, thánh Augustinô cuối cùng cũng tìm được mạch nước hằng sống đó. Trong cuốn sách “Tự thuật,” viết giữa khoảng năm 397 và 400, thánh nhân cho thấy “trong ánh sáng Thiên Chúa, nỗi khốn cùng của con người trở thành lời ca tụng và tri ân Thiên Chúa, vì Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận chúng ta. Người biến đổi và nâng chúng ta lên tới Người.”[10] Khác với thiếu phụ Samari, thánh Augustinô không chỉ làm cho một làng gặp gỡ Ðấng Thiên Sai. Thực vậy, “khi qua đời, thánh Agustino đã không để lại gì, ngoại trừ thư viện có rất nhiều thủ bản quý hiếm gồm cả các bút tích của người, mà thánh nhân dặn dò phải bảo trì. Qua các bút tích đó thánh nhân vẫn sống động và hiện diện giữa chúng ta ngày nay và tín hữu thuộc mọi thời đại”[11] để mọi người có thể tìm thấy công lý đích thực cho cuộc sống.

Nếu không phát xuất từ Thiên Chúa và con tim nhân loại, công lý sẽ đánh mất sự ấm áp của tình người và trở thành vô tâm. Chỉ Chúa Kitô mới có thể công bố và thiết lập một nền công lý đem lại ấm no, hạnh phúc cho con người, vì Người là điểm gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Thế mới biết, vì không có Thần Khí và sự thật, bọn Pharisêu chỉ tập trung vào hình thức của tôn giáo và lề luật. Họ đã phá hủy công lý tận nền tảng.

Ngày nay, nhìn vào nền công lý trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy gì ? Công lý đó có đem lại hạnh phúc, ấm no cho toàn dân không ? Qua giọng điệu tiêu biểu của chế độ sau đây, chúng ta sẽ mới thấy công lý bị đảo lộn tới mức nào. “Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Tôn giáo của Chính phủ,- cho rằng dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, tất cả đất đai đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.”[12] Chỉ có xã hội chủ nghĩa mới có thứ công lý như vậy ! Công lý đã bị phá hủy hoàn toàn. Thử bỏ súng xuống xem nhà nước có dám lý luận như vậy không ? Có người còn nói nhà nước là cha mẹ nhân dân, nên có thể phân phát của cải cho ai tùy ý. Nếu đúng thế, “tại sao khi qui hoach đất đai để mở rộng phố xá, đô thị, hay lập khu công nghiệp, chính phủ lại phải bồi thường giải tỏa làm chi? Đất của Nhà nước thì cứ sử dụng như “đất chùa”, đâu cần phải thương lượng với ai!”[13] Thế mới biết khi nào cần, người ta có thể xoay đủ chiều để cho vừa cái bụng tham và củng cố chế độ bất công thối nát của mình, mặc cho dân oan đang đang rên siết khắp nơi. 

Tóm lại, nhờ gặp gỡ Chúa Kitô, thiếu phụ Samari đã được giải oan. Từ mặc cảm tội lỗi, nàng đã tìm được một chỗ đứng trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Những bất công về xã hội và tôn giáo cũng biến mất, vì Chúa đã chỉ cho nàng biết đường lối thờ phượng đích thực chỉ có trong Thần Khí và sự thật. Gặp gỡ Chúa Kitô là gặp con đường giải thoát và đưa tới công lý thực sự trên mặt đất.

Gặp gỡ Chúa Kitô là tìm thấy công lý, “vì công lý xây dựng mối tương quan ngôi vị vững chắc giữa Thiên Chúa và dân Người qua Giao ước và Luật. Nhờ đó, chúng ta biết đường đi nước bước của Thiên Chúa và lòng từ bi của Người. Nhưng công lý cũng thiết lập những mối tương quan vững chắc đó giữa con người, dạy chúng ta biết kính trọng nhau và phát triển những mối tương quan chính đáng đưa đến hòa bình và hòa hợp. ”[14] Chúa Kitô xứng đáng là Ðấng cứu độ toàn thể nhân loại vì đã thiết lập được công lý trên trần gian.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là đi gặp gỡ mọi người, và xác tín rằng họ đang được Chúa Giêsu tìm kiếm, yêu thương và cứu độ, bất chấp hoàn cảnh và lai lịch  họ ra sao.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là không bao giờ thất vọng về tình trạng thù nghịch và xung đột giữa chúng ta, nhưng tin tưởng Chúa Giêsu có thể bẻ gẫy mọi rào cản để quy tụ tất cả trong công lý và tình yêu duy nhất của Người.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là chiêm ngắm Chúa trong hình dạng mệt mỏi, nhưng lại là Ðấng duy nhất có thể củng cố cuộc đời của những ai đang bị thương tổn, đổ vỡ và khai thác. Trên thập giá, một trong lời sau cùng cũng là lời đầu tiên Chúa đã ngỏ với thiếu phụ Samari : “Tôi khát !” Người sẽ ăn mày tình thương chúng ta. Nhưng từ trái tim Người, những mạch nước hằng sống tuôn ra cho tất những ai đang đói khát công lý và tình yêu trên mặt đất. 

Lạy Chúa, ngày nay chúng con đang sống giữa bao nhiêu thành kiến và bất công. Xin Chúa sai Thần Khí đến để sự thật là Ðức Kitô đem lại sự  giải thoát và hạnh phúc đích thực cho chúng con. Amen.

đỗ lực 24.02.2008

 

[1] Trịnh Công Sơn., Biển nhớ.

[2] Bằng chứng nàng đã chọn trưa hè đổ lửa, lúc hoàn toàn vắng bóng người, để ra giếng kín nước.

[3] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội , 45.

[4] ibid.

[5] Ibid., 46.

[6] ibid., 136.

[7] ibid., 155.

[8] ibid., 553.

[9] ibid.

[14] Pinckaers, S., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes, 2005:98.

Tác giả:  Phúc Âm Nhật Ký, Lm. Đỗ Lực, op.

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!