Chuyên mục
“Huế - Sàigòn – Hànội”:
VÂNG LỜI NHƯ BỘ XƯƠNG KHÔ
Riêng tặng anh em Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc:
Congregatio Redemptoris Matris (CRM)
Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt
Kính
mời theo dõi video tại đây:
https://bit.ly/3AEr8h1
Nhớ lại thời còn “ăn cơm nhà Chúa”, trong một ngày cấm phòng,
linh mục giảng phòng đã rất lớn tiếng, hùng hổ hỏi mọi người trong nhà nguyện:
-Anh em hãy xuống hỏa ngục mà hỏi xem quỷ thần và các linh hồn
hư mất, lý do gì mà chúng phải giam cầm trong đó? Câu trả lời là KHÔNG VÂNG LỜI.
Quay vào luyện tội, nhà giảng thuyết hỏi:
-Hãy vào luyện tội mà hỏi xem các linh hồn đang bị giam trong
đó, lý do gì mà giờ này chưa được lên thiên đàng? Câu trả lời là THIẾU VÂNG LỜI.
Rồi hướng lên thiên đàng, ngài lại lớn tiếng và giơ tay chỉ lên
trời:
-Và bây giờ hãy lên thiên đàng mà hỏi xem các thần thánh, lý do
gì mà các ngài giờ này đang được hưởng phúc thanh nhàn, vui vẻ đời đời? Câu trả
lời dĩ nhiên, là ĐÃ VÂNG LỜI.
Sau thánh lễ, trong lúc dùng điểm tâm có mấy “linh hồn” vừa ở
hỏa ngục chui lên, vừa trong luyện ngục ra, và vừa trên thiên đàng xuống đến
gần, vây quanh vị giảng phòng hỏi:
-Ông làm sao mà vào hỏa ngục vậy? Ông ra khỏi đó lúc nào? Ông ở
trong luyện tội bao lâu? Và ông từ thiên đàng xuống hồi nào? Ở đâu mà ông có
những tin tức sốt dẻo như vậy? Thế còn mấy đứa phạm tội lỗi đức khiết tịnh hoặc
đức khó nghèo ông có gặp bọn nó không? Ông có thấy linh hồn nào trong luyện
ngục chưa ra khỏi đó vì những lỗi lầm khác không? Trên thiên đàng mấy thánh
đồng trinh, mấy thánh giữ đức khó nghèo có sáng láng, đẹp đẽ hơn các thánh vâng
lời không?
Bị tấn công hơi kỹ, nhà giảng phòng bực quá bèn phán:
-Tao phải nói mạnh vậy cho chúng mày liệu cái hồn mà đừng cứng
đầu cứng cổ mỗi khi bề trên sai bảo chuyện này, chuyện khác. Còn xuống hỏa
ngục, vào luyện tôi và lên thiên đàng tao đã trải qua đâu mà hỏi lắm thế!
Đại khái là vậy, trong ba nhân đức của đời tận hiến, có lẽ đức vâng lời là một nhân đức
đòi hỏi con người phải nỗ lực nhiều nhất. Tạo sao? Vì để thực hiện được đức này, đòi phải bỏ đi cái “tôi”
(ego) của mỗi người. Mà cái tôi của người nào cũng chính là con người đó. Nói
một cách đơn giản là tôi chịu thua, chịu lép vế, chịu kém, chịu yếu hơn ai đó
để chấp nhận một mệnh lệnh, một quyết định, một lệnh truyền; đặc biệt, khi những điều
ấy xem ra như vô lý, không đủ khả năng thuyết phục, hoặc đi ngược lại với suy
nghĩ và phán đoán của tôi. Điều mà giới tu hành gọi là “trồng cải ngược”.
Trồng cải ngược
Trong đời sống tu trì ở vào những thập niên trước, cách đây
khoảng 50 năm, nhiều thỉnh sinh, tập sinh, khấn sinh, và chủng sinh vẫn thường
bị nhồi sọ về đức vâng lời, đại khái, vâng lời trọn lành là vâng lời tối mặt.
Rồi thêu dệt những câu chuyện, thí dụ, có bề trên nọ bảo các bề dưới mình phải
trồng cải ngược. Những ai có đức vâng lời trọn lành thì cây họ trồng sẽ sống,
xanh tươi và phát triển. Ngược lại, cây của những người không vâng lời sẽ bị
chết, khô héo. Dĩ nhiên, đó chỉ là những câu chuyện ngụ ngôn mang hàm ý giáo
dục, chứ nếu áp dụng thực tế cách thử nhân đức kiểu này, thì từ bề trên đến bề
dưới không ai có đức vâng lời cả.
Vâng lời làm nên phép lạ
Vâng lời theo đúng nghĩa của nhân đức, không chỉ là làm
những gì mình phải làm. Làm một cách máy móc và miễn cưỡng. Nhưng làm những việc mình nhận
làm một cách ý thức, có trách nhiệm và lòng mến. Việc làm này đòi hỏi
phải bỏ đi cái tôi của mình. Cũng chính vì thế mà vâng lời được nâng lên hàng
nhân đức, và có khả năng làm nên phép lạ. Phép lạ rõ ràng nhất là phép lạ ông
Phêrô đã bỏ cái tôi “chuyên nghiệp” về nghề chài lưới khi vâng theo lời Chúa
truyền thả lưới bên mạn thuyền để rồi có một mẻ cá lạ lùng (Gioan 21:6). Nhưng
để được những mẻ cá như của Phêrô, người vâng lời nhiều khi cũng phải rướm máu
con tim.
Con tim nhỏ máu
Gọi đức vâng lời là nhân đức làm rướm máu con tim cũng không gì
là quá, hay cũng không gì là cường điệu. Thánh Luca diễn tả sức mạnh của đức vâng lời
khiến người tuân phục phải đổ máu. Đó
là trường hợp của Chúa Kitô trong vườn Giệtsimani đứng trước chén đắng Chúa Cha
trao. Để tiếp nhận chén này, Ngài đã trải qua một cơn hấp hối, mồ hôi toát ra
như máu nhỏ xuống đất (Luca 22: 43-44). Trong đời sống tu đức, các tu sỹ, các
nhà tu hành trong nhiều trường hợp khi phải chống trả với sức ép của tâm lý,
của tinh thần, con người họ cũng run lên bần bật, hoặc ít nhất cũng toát mồ
hôi.
Bởi vì trong những lần phải vâng lời ấy, cái tôi của người dưới
phải như dẹp bỏ, và hoàn toàn bị chà đạp, nhất là trong những trường hợp mà người trên là một loại người
thích dùng quyền, ưa thể hiện sức mạnh quyền lực. Ngược lại, người dưới là
người có cá tính mạnh mẽ, thông minh, giỏi giang, nhiều khả năng, giầu sáng
kiến. Cái khó trong việc thuần phục một quyền bính mà họ cho là không bằng
mình, hoặc không tâm lý luôn luôn xảy ra những giằng co mãnh liệt. Những trường
hợp như vậy, đòi hỏi phải có đức tin vững mạnh, lời cầu tha thiết, và sự trưởng
thành tâm linh. Nếu không, hành động vâng phục cũng chỉ là “khẩu phục” mà “tâm
không phục.” Kết quả những trường hợp như vậy chỉ làm khổ cho cả bề trên lẫn bề
dưới.
Bộ xương khô
Trong đức vâng lời, Thánh Ignatiô, Đấng sáng lập Dòng Tên đã
nói: “Phải vâng lời như bộ
xương khô.”
Mới nghe qua, nhiều người có thể coi đây là một loại tư tưởng
cuồng tín, xa thực tế. Làm gì có bộ xương khô nào biết vâng lời. Có bề trên nào
đã ra nghĩa trang rồi truyền lệnh cho một tu sỹ đã chết mà nắm xương khô còn
trong huyệt mộ ngồi dậy đi quét xong cái nhà rồi tiếp tục vào nằm trong đó
không? Lịch sử chưa thấy chuyện này xảy ra bao giờ. Nhưng với cái nhìn
tâm linh, thì việc một bề dưới vâng phục bề trên nếu được thực hiện một cách ý
thức, trưởng thành với lòng yêu mến Thiên Chúa, thì tu sỹ ấy phải hành động
tương tự như bộ xương khô vậy. Tư tưởng này có nguồn gốc từ trong Thánh Kinh,
vì Giavê Thiên Chúa đã coi “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Samuel 15:22).
Thánh Kinh đã kể lại, Thiên Chúa đã bỏ Saul mà chọn Đavít. Không
phải vì Saul đã không dâng những lễ vật thượng tiến Ngài sau khi Ngài cho vua
ấy thắng trận, nhưng chỉ vì ông đã không vâng lời. Trong đời tu trì hay tận
hiến, đức vâng lời cũng là những gì Thiên Chúa muốn, và khi một tu sỹ vâng lời
Ngài qua những người mà Ngài đặt thay thế Ngài làm bề trên họ. Những người mà
Ngài biết rõ những yếu đuối và mỏng dòn, những tính mê, tật xấu và giới hạn của
họ. Làm vậy, vì Ngài muốn lợi ích cho cả hai. Cho người trên và cho kẻ dưới.
Đối với những người làm bề trên, Ngài muốn họ hiểu và sống
với tư tưởng của Thánh Têrêxa Avila rằng: “Các bề trên là những người hằng ngày
vẫn được cho uống thuốc độc.” Thánh nữ có ý nói, những lời nịnh hót, những
thái độ a dua, và xua nịnh là những độc dược mà họ rất ưa thích và cũng được
các bề dưới cho uống mỗi ngày. Còn phía bề dưới thì lại ưa dùng cái tôi để lý luận, để phản
đối những mệnh lệnh mà đáng lẽ ra họ phải vâng phục.
Làm cách nào những tu sỹ có thể vâng lời như bộ xương khô?
Mẻ cá lạ lùng bắt đầu với lời tự nhận của Phêrô: “Chúng con đã
vất vả suốt đêm mà chẳng được gì.” Bằng với kinh nghiệm nghề nghiệp, ông đã
trình bày với Chúa về những gì mình đã có và đang có. Một đêm chài lưới không
thu hoạch được gì. Một dân chài lưới chuyên nghiệp nhưng đã thất bại. Nhưng ông
đã thưa với Ngài: “Vâng lời Thầy con thả lưới.” Bộ xương khô thả lưới. Phêrô thì kéo lưới đầy cá.
Ơn cứu độ đến từ sự vâng phục của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu:
“Lạy Cha nếu có thể xin cất chén này xa con.” Chén đắng quá kinh khủng đến nỗi
chỉ đối diện với nó mà Ngài đã toát mồ hôi hòa máu. Dù run rẩy, dù kinh hãi
Chúa Giêsu cũng đã thưa với Chúa Cha, “nhưng đừng theo ý con.” (Luca 22:42) Bộ
xương khô run rẩy dưới sức ép của cuộc khổ nạn, của tử hình thập giá. Nhưng
Đấng Cứu Chuộc đã phục sinh vinh hiển và đem lại ơn cứu độ cho muôn dân.
Theo tinh thần vâng phục trọn lành, người tu hành không bắt buộc
phải trồng cải ngược, hoặc vâng lời “tối mặt”, nhưng là khiêm tốn trình bày
những suy nghĩ của mình về một quyết định của bề trên. Sau đó, nếu bề trên
vẫn muốn mình thi hành điều ấy, thì đó là ý Chúa. Hãy đón nhận quyết định của
bề trên như đón nhận ý Chúa. Và khi đã nhận ra ý Chúa, thì hành động với tất cả khả năng, sự
hiểu biết, tin tưởng, và phó thác. Phép lạ trước hết xảy ra trong tinh thần vâng lời này là người
dưới đã dẹp bỏ, đã chế ngự được cái tôi của mình vì Chúa, vì lòng yêu mến Đấng
đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.
Trần Mỹ Duyệt
Hẹn gặp lại