Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Thánh Kinh Công Giáo
Lời Chúa Mỗi Ngày
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, GP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nữ tu Maria Hồng Hà CMR
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Chứng Nhân Chúa Kitô
ĐỐNG GỖ CÔ HỒN

 

 

Bạn thân mến,

 

Hạnh phúc nội tâm trong sứ vụ Linh Mục là tinh thần vâng phục và sự liên tục phục vụ Cộng Đoàn Dân Thánh Chúa, nơi đó tôi có dịp tiếp cận, làm quen, và gặp gỡ biết bao mảnh đời nổi trôi.  Họ là những con chiên bị thương tích, bị tê liệt, và đôi lúc kiệt quệ vì đã bị những cơn sóng vô hình quật ngã trong dòng đời vội vã.  Qua những cảm nghiệm về thần linh trong đời sống tâm linh, họ thường bị các vong linh đến quấy phá, làm hư hại tài sản vật chất, tâm lý bị hoảng loạn, và sinh hoạt gia đình trở nên khốn đốn.  Sau những ngày tháng sống trong sự cô đơn, đau khổ, tiều tụy, bị khủng hoảng tâm linh, kinh hãi, lo sợ, và họ không thể làm ngơ trước những hình ảnh quái lạ vẫn đang diễn ra trước mặt, rất thực tế, và đáng khiếp sợ.  Cuối cùng họ cũng phải đối diện với sự thật là tìm cách thoát thân.  Họ phải giải quyết các vấn nạn, và họ đã mạnh dạn trỗi dậy để đi tìm cho mình một lối thoát, và đó cũng là sự giải thoát cho cuộc đời mình!

 

Trong lần gặp gỡ hôm nay, tôi sẽ kể lại cho bạn nghe về một câu chuyện Ma, đã và đang xảy ra trong một gia đình người Mỹ.  Họ là người Mỹ trắng, theo Đạo Tin Lành, siêng năng đọc Kinh Thánh, nhưng thỉnh thoảng họ mới tới nhà thờ.  Điều này có nghĩa là họ lạnh nhạt với việc tế lễ phụng thờ, và thờ ơ trong các sinh hoạt “nhà thờ, nhà thánh.”  Gia đình của họ gồm có 3 người: hai người lớn khoảng 35-40 tuổi, và một cậu con trai 14 tuổi.  Hai người lớn là bố mẹ, nhưng họ không cưới hỏi mà chỉ ăn ở với nhau giống như đôi vợ chồng, nghĩa là họ chỉ chung sống với nhau vậy thôi; còn thằng con thì to lớn, bảnh bao, nhưng tính nết và tâm trí của nó thì lại hơi bất thường vì hội chứng Đao (Down Syndrome).  Gia đình của họ thuộc tầng lớp nghèo, nhưng ông chồng may mắn được thừa hưởng căn nhà từ người mẹ đã chết để lại; bên cạnh đó nhà họ còn có xe hơi, có phương tiện, và có điều kiện để mưu sinh.  Căn nhà của họ thuộc loại nhỏ, nằm bên vệ đường trong một thành phố cổ.  Căn nhà đó rất chật trội và eo hẹp, gồm 2 phòng ngủ, 1 phòng tắm, 1 phòng khách, 1 ngăn chứa đồ, và chỗ nấu ăn.  Căn nhà này tuy đã có tuổi, nhưng nó được xây cất bằng gạch đá nên khá vững chắc; vì thế, người ta vẫn còn có thể ở tạm thời trong một thời gian ngắn.  Tuy nhiên, hiện trạng bên trong căn nhà cần được tu bổ, sửa chữa, dọn dẹp, lau chùi, và tổng vệ sinh bởi vì bàn ghế để ngổn ngang, đồ đạc rất bề bộn, không gian lại có mùi, và phòng ốc thì dơ dáy, tối tăm.  Có lẽ đó là kết quả của sự bê bối nơi người vợ, sự lười biếng của ông chồng, và những sinh hoạt thiếu ý thức của thằng con.  

 

Qua những lần gặp gỡ đầu tiên thì tôi được biết là ở trong gia đình đó thì chỉ có ông chồng là người đi làm.  Tướng tác ông mập mạp, râu ria xồm xoàm, tay chân to chắc, và ông lại làm ca đêm cho nên ít khi nhìn thấy ánh sáng mặt trời.  Ngược lại, ban ngày thì ông lại vô phòng nằm ngủ, và ông cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy tia nắng ban mai; vì thế, căn phòng của ông lúc nào cũng được che kín, làm cho không gian đen tối và ngột ngạt đến nỗi một tia sáng nhỏ cũng không thể lọt qua.  Ông biến căn phòng của mình thành màn đêm để dễ dàng ngủ nghỉ.  Bà vợ của ông trông có vẻ giống như người nội trợ, quần áo quê mùa, và lúc nào cũng quanh quẩn ở nhà bởi vì bà phải bận rộn chăm sóc cho thằng con.  Ngày nào nó đi học thì bà đỡ vất vả và thảnh thơi, còn ngày nào nó ở nhà thì bà thật là khốn khổ với nó!  Tôi đã đến thăm gia đình họ nhiều lần vào nhiều thời điểm khác nhau, nhưng tôi chỉ gặp thằng bé có một lần vào dịp cuối tuần.  Nó trông rất mạnh khỏe, đô con, và cao lớn hơn tôi, nhưng cách suy nghĩ và hành động của nó có vẻ như là một đứa con vẫn còn non trẻ; tuy nhiên, nó lại hoạt bát, và di chuyển liên tục; nó đứng lên ngồi xuống, đi ra đi vào, cầm cái này lấy cái kia, và không lúc nào tay chân nó yên nghỉ, nghĩa là nó luôn hoạt động, đứng ngồi không yên, giống như biểu hiện của một người điên vừa bị chạm điện.

 

Sở dĩ tôi được cơ hội đến thăm gia đình đó là vì nguyên do thế này.  Cách đây không lâu, bố của cậu bé đó gọi điện thoại cho tôi, nói rằng: “Nhà của con liên tục xảy ra những sự kiện lạ; con không biết ai đã làm ra, và phải giải thích thế nào.  Xin cha đến chứng giám, và giúp cho gia đình con tìm lại sự bình yên.”  Thật ra, khi mới bắt điện thoại, tôi không biết ông là ai, dáng vóc thế nào và tuổi tác ra sao, vì chúng tôi chưa một lần tiếp cận.  Lúc đó tôi cũng không rõ ông xuất thân từ đâu, và hoàn cảnh gia đình thế nào?  Ngoài ra, tôi cũng không biết ông đã gặp vấn nạn này từ bao giờ, và gia đình ông đã làm gì để giải quyết những hiện tượng lạ kỳ đó?   Khi nói chuyện qua lại với ông trên điện thoại, tôi cảm thấy ông hiền lành, nhẹ nhàng, thân thiện, và gần gũi giống như con chiên thuộc xứ đạo; hơn nữa, ông ăn nói từ tốn, tính cách lịch sự, và khí phách luôn tỏa ra một sự chân tình, cho nên ngay từ phút giây ấy, tôi biết được việc mình cần phải làm, và tôi đã tự hứa với mình là tôi cần phải đến thăm và chăm sóc cho con chiên hiền từ này!  Bên cạnh đó tôi còn suy nghĩ thế này: nếu như ông đã gọi điện thoại cho mình thì dĩ nhiên ông cần đến mình; thôi thì, mình cứ tới nhà ông xem sao, vì dù sao đi nữa thì đây cũng là một cơ hội tốt để mình đến gần với chiên, mang Chúa đến cho chiên, và ân cần phục vụ chiên qua sự hy sinh và tình bác ái.  

 

Trong lúc đàm thoại với ông, lòng tôi luôn cảm thấy rạo rực, giống như nó đang được Thần Khí Chúa thôi thúc để thi hành một việc làm ý nghĩa; vì thế, tôi đã chuẩn bị tâm trí và sau đó đi thẳng đến nhà ông để ông không phải ngóng đợi; hơn nữa, tôi cũng muốn có mặt ở hiện trường càng sớm càng tốt, để tôi được tận mắt chứng kiến những sự kiện lạ vẫn đang tiếp tục xảy ra trong gia đình ông.  Nếu như những gì tôi thấy mà hiểu được nguyên do thì sau đó tôi sẽ chỉ dạy, khuyên răn, và giúp cho ông tìm ra phương cách giải quyết.  Còn nếu như những điều tôi thấy mà không hiểu, hoặc chưa hiểu thấu vấn đề, thì tôi chỉ nói cho ông biết những gì tôi hiểu, sau đó tôi sẽ tiếp tục suy gẫm và cầu nguyện để xin Chúa trợ giúp.  Hy vọng tôi sẽ không phải chọn điều thứ hai bởi vì tôi luôn tin rằng: một khi Chúa gởi tôi đi thì Ngài đã lo liệu tất cả.  Vả lại, Ngài sẽ ban cho tôi những ơn cần thiết để tôi biết mình phải làm gì và làm thế nào để Danh Chúa luôn được chúc tụng ca khen.  Tôi nghĩ đây không chỉ là công việc đặc biệt của người mục tử, nhưng còn là sứ mệnh cao cả của Chúa; vì thế, tôi không thể làm ngơ trước những công việc được giao phó.  Ngoài ra, tôi sẽ không ái ngại khi phải đáp lại tiếng chiên kêu cứu.  Tôi biết Thiên Chúa của chúng tôi là Đấng Nhân Lành và hay thương xót.  Ngài sẽ không bao giờ quên sót những con chiên trót dại.  Ngài sẽ không ngần ngại giải vây cho những con chiên đang lên tiếng cầu cứu.  Khi chiên bị thương tích thì Chúa sẽ băng bó, chữa lành; Ngài sẽ vác chiên trên vai, và đem chúng về nơi tịnh dưỡng.  Vì thế, tôi cũng sẽ bắt trước gương lành và hành động giống như Chúa để lắng nghe và đáp lại tiếng kêu cứu của chiên mình.

 

Ngày xưa giáo dân thường gọi các Linh MụcThầy Cả bởi vì các ngài được chia sẻ Thiên Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô.  Câu Kinh Thánh làm nền tảng cho chủ đề này được tìm thấy trong Thánh Vịnh 110: “Con là linh mục đời đời theo phẩm hàm Men-ki-xê-đê” (Ps 110:4), và câu này thường được các ứng viên chọn để làm bình phong cho ngày đại lễ, làm lời nguyện để cầu cho ơn gọi, và làm phương châm cho sứ mệnh phục vụ trong suốt cuộc đời.  Ý nghĩa của câu Kinh Thánh này không chỉ nói lên Tình Yêu cao thượng và sự quảng đại của Chúa dành cho nhân loại, mà nó còn liên kết sự kiện quá khứ với hiện tại, biến con người phàm trần trở thành khanh tướng, khiến bùn đất hư vô trở thành sinh linh bất tử, và sự vinh hạnh đó chắc chắn sẽ tồn tại cho đến thiên thu vạn đại.  Trong tâm thức của các tân chức, câu Kinh Thánh này không chỉ là lời hứa vững bền cho một cuộc tình vĩnh cửu, mà nó còn là lời mời gọi chân tình dành cho những ai đang khao khát đáp lại tiếng Chúa gọi.

 

Trong dòng lịch sử thời Giáo Hội sơ khai, giáo dân vẫn thường gọi các Linh Mục là Thầy Thượng Phẩm hay Thượng Tế bởi vì chức vụ Tư Tế của các ngài được biểu lộ nơi Bàn Tiệc Thánh.  Tuy rằng, Thiên Chức Linh Mục không được đầy đủ và trọn vẹn ý nghĩa như Hàng Giám Mục, nhưng các ngài cũng nhận được đầy đủ ơn thánh và quyền hạn, để các ngài dâng lễ, giải tội, xức dầu, và cầu nguyện cho đoàn chiên.  Vì thế, ở nơi các xứ đạo Linh Mục còn được gọi là Mục Tử, người chăn dắt đoàn chiên, và ngài luôn có bổn phận hướng dẫn, bảo vệ, chăm sóc, và thánh hiến đoàn chiên qua việc cử hành các Bí Tích.  Bên cạnh đó Linh Mục là vị tư tế duy nhất được cất giữ Mình Thánh Chúa bởi vì trên tay ngài luôn cất giữ chiếc chìa khóa mở cửa Nhà Thờ, Nhà Tạm, và trách nhiệm của ngài là dâng lễ, trông coi Đền Thờ, và canh giữ Mình Thánh Chúa với đôi tay được thánh hiến.  Mỗi khi đến thăm con chiên đau yếu bệnh tật trong xứ đạo, ngài đem Mình Thánh Chúa đến cho họ như của ăn đàng, một loại thuốc có thể mang đến sự trường sinh bất tử!  

 

Kinh nghiệm bản thân cho thấy, các Linh Mục Á Châu cũng như ở Tây Phương đều mang Mình Thánh Chúa theo mỗi khi đi thăm bệnh viện, đi xức dầu cho kẻ liệt, hay mỗi khi ghé thăm người già ở các nhà dưỡng lão bởi vì ở những nơi đó luôn có những con chiên ngoan đạo, và lúc nào họ cũng ao ước được rước Mình Máu Thánh Chúa, nhất là lúc họ cần có Chúa để được nâng đỡ ủi an.  Mỗi khi đến thăm những con chiên thân tàn ma dại, bị bại liệt kiệt sức, bị tù tội lưu đày, bị giam cầm kìm hãm, tôi cũng thường mang Mình Thánh Chúa đến cho họ bởi vì tôi biết trong số những người tôi sẽ gặp, thế nào cũng có người ngày đêm khao khát Chúa; họ  cần Chúa và đang chờ đợi Chúa.  Vì thế, được mang Chúa đến cho những người đau yếu bệnh tật thật là một diễm phúc bởi vì đó là lúc Chúa đến thăm và gặp gỡ dân Người!  Trong những khoảng khắc linh thiêng huyền nhiệm ấy, người bệnh không những được tiếp cận với Chúa, mà họ còn được đón nhận chính Chúa, và nguồn ơn thánh Chúa sẽ làm cho những tâm hồn lạnh giá được hồi sinh.  Bên cạnh đó, tôi còn được diễm phúc nhìn thấy những tia sáng hy vọng bừng lên trong ánh mắt, những giọt lệ ăn năn chảy dài trên gò má, và những lời kinh cám tạ vang lên từ con tim của những tâm hồn tin yêu phó thác.  Và đối với tôi thì đó là những ấn tượng để đời bởi vì tôi cảm nhận được sự hiện diện của Chúa với những rung động của một con tim hạnh phúc, nhất là trong lúc phục vụ, tôi được Chúa luôn bảo vệ, yêu thương, an ủi, và cùng đồng hành!

 

Trở lại câu chuyện về gia đình người Mỹ, sau khi dò hỏi địa chỉ và tìm được hướng đi ở trên màn hình của máy vi tính, tôi hối hả ra xe đề máy, bắt đầu bằng Chuỗi Mân Côi, rồi sau đó tôi ung dung lái xe đến nhà của ông già Mỹ, và tôi đã đậu xe ngay trước cửa nhà chỉ sau 10 phút lái xe.  À, thì ra căn nhà của ông không xa nhà thờ cho lắm, nghĩa là nhà của ông rất gần khu vực nhà Chúa, và thậm chí rất gần Bàn Tiệc Thánh nơi tôi cử hành Thánh Lễ để ăn Bánh và uống Rượu thánh mỗi ngày.  Khi còn ngồi ở trong xe để chuẩn bị tinh thần và để kết thúc những câu kinh còn đang dang dở, tôi đã nhìn thấy ông mở cửa và một mình bước ra khỏi nhà để đến với tôi.  Thấy vậy, tôi cũng lập tức bước ra khỏi xe, và nhẹ nhàng đến bắt tay ông với cung cách chào hỏi lịch sự theo kiểu Mỹ Đen: “Hey, What’s Up!” nghĩa là “Này anh bạn, anh vẫn khỏe chứ!”  Sau vài câu thăm hỏi xã giao, tôi bước theo ông để đi vào nhà.  Nơi tôi dừng chân đầu tiên là phòng khách, và rảo mắt nhìn chung quanh, tôi thấy khung cảnh rất bề bộn, và ông có vẻ bối rối khi chia sẻ với tôi thế này: “Cha thấy không, đây là những bức tranh và hình ảnh mà con đã treo trên tường; thế nhưng, cứ mỗi buổi sáng con lại thấy chúng nằm ngổn ngang dưới đất.  Thấy vậy con lại nhặt lên và treo vào chỗ cũ.  Tuy nhiên, ngay sáng hôm sau thì các thứ này lại rơi xuống đất.  Có ngày thì con thấy chúng bị trao đổi vị trí, có khi thì bị cất dấu: cái thì bỏ ở trên bàn, cái thì nằm ở ghế sa-lông, cái thì úp mặt trên thảm, cái thì dựng vào vách, cái thì nằm dưới ghế, cái thì kê dưới nệm…, nói chung là ngày nào con cũng phải bỏ công tìm kiếm, thu lượm, dọn dẹp, và trang trí lại như cũ.  Vì thế, mỗi ngày con phí tổn rất nhiều thời gian, và con cảm thấy làm như vậy quá phiền phức.”  

 

Khi nghe ông diễn tả như thế, tôi mới đặt câu hỏi: “Chuyện này đã xảy ra lâu chưa, và nó bắt đầu từ khi nào?”  Ông từ tốn đáp: “Dạ thưa, chuyện này xảy cách đây hơn một tháng, kể từ khi con sửa lại cái sàn nhà gỗ này.”  Dừng lại trong khoảng khắc, ông kể tiếp: “Cách đây không lâu, khi đang lái xe rảo quanh phố, con thấy có một đống gỗ mà người ta vứt bỏ ở ven đường để chờ công ty rác đến thu dọn và mang đi tiêu hủy.  Lúc đó con mới dừng xe lại và bước xuống xem.  Con thấy gỗ vẫn còn tốt, cho nên con hốt mang về để thay thế cái sàn nhà cũ.  Sau khi tu sửa và làm mới lại cái sàn gỗ này, con thấy rất nhiều sự kiện lạ xảy ra trong gia đình con cả ngày lẫn đêm.  Thỉnh thoảng con nghe có những âm thanh tiếng động giống như tiếng gõ cửa, nhưng khi mở cửa thì chẳng thấy ai. Có lúc con thấy cửa phòng, cửa tủ trong bếp tự nhiên mở tung ra, rồi sau đó có lúc thì để nguyên, có khi thì khép lại.  Những cái ly, cái hộp, bao thư, sách báo, dao, kéo, và các vật dụng trong nhà thường xuyên biến mất, và ít ngày sau đó thì con lại thấy chúng xuất hiện ở chỗ này chỗ kia.  Có lẽ đặc biệt nhất là tất cả những bức tranh này, vì chúng bị di dời ra khỏi vị trí mỗi ngày.”  Nói xong, ông chỉ cho tôi xem những bức tranh, bức ảnh, rồi sau đó dẫn tôi đi rảo quanh các phòng để cho tôi thấy nơi đồ đạc bị mất hay bị cất dấu, nghĩa là vật dụng ở phòng này lại tìm thấy trưng bày ở phòng khác, nhất là ở những chỗ không ngờ, tuy đơn sơ nhưng lại khó hiểu!  

 

Hôm ấy, một câu chuyện khác tình cờ xảy ra khi tôi đang trò chuyện với ông ở phòng khách.  Tự nhiên, tôi nghe thấy một tiếng loảng choảng rất lớn từ căn phòng phía sau, giống như âm thanh xoong chảo và chén đĩa đổ bể cùng một lúc.  Sau đó, tôi nghe tiếng bà vợ thét lên, chân tay run rẩy, và bà chạy ra phòng khách, mặt mũi tái xanh, vừa khóc vừa lau nước mắt, nói rằng: “Nó ném em!  Nó chọi em!”  Thấy vậy, ông chồng liền dang tay ôm lấy vợ với lời lẽ nhẹ nhàng và cử chỉ âu yếm như đang muốn dỗ dành, trấn an.  Bà vợ nói tiếp: “Em đang ngồi nghỉ ở ghế, tự nhiên đồ đạc cứ bay vèo vèo qua mặt; có cái thì lại lao thẳng vào người em.  Sợ quá, cho nên em vụt đứng dậy, rồi vắt chân lên cổ bỏ chạy!”  Sau đó bà cho tôi xem những vết thương, đường cứa, vết thẹo, vết bầm nằm rải rác trên da thịt của bà.  Đó là kết quả của người đàn bà “bị ném đá,” mà kẻ chủ mưu thì lại dấu tay, không xuất hiện, và ông chồng còn tiết lộ cho tôi biết là bà đã bị tấn công như thế nhiều lần.  Điều đáng nói ở đây là cả 3 người đang sinh sống trong căn nhà này thì chỉ một mình bà là người luôn bị dọa nạt, tấn công, và bà là người duy nhất nghe thấy tiếng lạ phát ra từ trong nhà, và hầu hết là trong cái đầu của bà.

 

Sau khi đi khảo sát một vòng quanh nhà và vào các phòng, tôi thấy không có điểm nào đáng lo ngại, ngoại trừ đồ đạc nằm ngổn ngang, và trong nhà thiếu ánh sáng.  Lúc đó, tôi mới nói với hai ông bà thế này: “Nhà của ông bà cần có nhiều ánh sáng để các nơi được thông thoáng; vì thế, hãy mở to các cửa để ánh nắng chiếu qua và gió mát tràn vào.  Hãy làm cho bầu khí trong nhà thay đổi.  Tôi dám chắc rằng gia đình ông bà đang bị “thằng đen” quấy phá, và tôi nghĩ rằng “Nghi Thức Làm Phép Nhà” sẽ giúp cho ông bà.”  Thật ra lúc đó tôi chưa nhận thức rõ là nhà đó đang có “ma” hay là “quỷ” bởi vì đối với tôi sự kiện này quá mới mẻ, và tôi cũng chưa có đủ các dữ kiện để hiểu biết câu chuyện.  Tuy nhiên, tôi biết chắc một điều là cả “ma” và “quỷ” đều có thể làm được những việc quái lạ như thế!  Để giải quyết vấn đề này, tôi quyết định làm phép nhà và nói với ông một câu ngắn gọn thế này: Chút nữa, tôi sẽ làm phép nhà để trừ tà và xua đuổi ma quỷ; hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp, và gia đình ông bà sẽ sớm tìm lại sự bình yên.  Sau đó, tôi lần lượt chuẩn bị các dụng cụ cần thiết và đọc lời nguyện để làm phép nước, phép dầu, và muối.  Tiếp đến, tôi làm phép nhà, và đi rảo quanh các phòng để rảy nước thánh trộn chung với muối.  Tôi đã sử dụng dầu để ghi dấu Thánh Giá trên các bức tường, cửa phòng, cửa ra vào, và ngay cả các đồ dùng cũng được khắc ghi dấu ấn của Chúa.  Trước khi ra về, tôi còn dạy cho ông bà cách đọc kinh, cầu nguyện, và lần chuỗi mân côi.  Tôi cũng biếu tặng cho hai ông bà mỗi người một cỗ tràng hạt đã được làm phép, 1 cuốn sách kinh thường đọc, vài mẫu ảnh Thánh Giá, và một số tranh ảnh các Thánh.  Tôi cũng khuyên hai ông bà là hãy siêng năng lần chuỗi, đọc kinh lòng thương xót, và kinh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae.  Sau đó, tôi chúc lành cho hai ông bà rồi ra về với hy vọng là gia đình này sẽ thay đổi, và ông bà sẽ nhận được những điều họ luôn mong ước.  

 

Sau 3 ngày biển yên lặng sóng, ông chồng lại gọi điện thoại cho tôi, nói rằng: “Thưa cha, trong mấy ngày qua gia đình của con rất bình an; tuy nhiên, không biết tại sao tối hôm qua đồ đạc trong nhà lại bị di chuyển giống như cũ, nghĩa là các bức tranh treo trên tường đều bị lấy xuống, và sáng nay con thấy tranh ảnh đều nằm vương vãi trên nền gỗ.  Những tấm hình gia đình được trưng bày trên kệ sách, trong tủ kiếng, trên mặt bàn, đều bị úp mặt xuống, và tất cả sách vở, phong bì, thư từ, tài liệu đều nằm tung tóe trên sàn nhà.  Tất cả các vật dụng khác đều bị di dời, và hình như hành động của một ai đó có vẻ rất giận dữ.”  Cũng như lần trước, sau khi nhận được tin, tôi lập tức lái xe đến gia đình ông để tận mắt chứng kiến những sự kiện và hiện tượng quái lạ.  Trước tiên tôi muốn biết về những sinh hoạt thường ngày của gia đình ông trong mấy ngày qua, để xem họ làm gì và tâm trí ra sao; họ có tôn thờ Chúa và đọc kinh cầu nguyện như tôi đã chỉ dạy hay không.  Họ trả lời rằng: “Thưa cha, chúng con luôn chú tâm và chăm chỉ cầu nguyện.  Chúng con cũng thường xuyên mở sách kinh và lần chuỗi mân côi như cha đã chỉ dạy.”  Câu trả lời chân tình, chất phác, và dứt khoát về sự cầu nguyện của họ đã làm cho tôi thêm đắn đo và khó hiểu về những sự kiện vừa xảy ra.  Tôi thầm nghĩ rằng: Nếu như căn nhà đã được làm phép thì “ma quỷ” sẽ phải bỏ đi, và dĩ nhiên chúng sẽ biến mất ngay tức khắc bởi vì chúng không thể nào đối diện với sự thánh thiện của Chúa!  Mặt khác, nếu như ở căn nhà đó luôn có người đọc kinh cầu nguyện thì nơi ấy sẽ trở thành nơi thánh, và cho dù ma quỷ có đông, có mạnh, thì chúng cũng phải e dè và tránh né nơi thánh bởi vì ở đó có sự hiện diện của một Thiên Chúa toàn năng, oai hùng, dũng mạnh, Đấng chí thánh, chí tôn!

 

Không dấu gì bạn, trước đó vài tháng tôi đã gặp một số trường hợp tương tự, nghĩa là ma quỷ cũng ra sức quậy phá các gia đình, nhưng mỗi trường hợp đều riêng tư cá biệt.  Tôi đã đến thăm họ, và sau đó tôi cũng làm phép nhà và chúc lành cho họ.  Tôi đã sử dụng cùng một nghi thức và đọc chung một lời nguyện; tuy nhiên, ở những nơi đó thì cả ma quỷ cũng đều lần lượt bỏ đi.  Còn ở đây, trong căn nhà của hai ông bà này, tôi thấy có một điều khác lạ: Không biết tại sao ma hay quỷ lại không chịu đi mà cứ ở lại để gây thêm phiền phức cho gia đình?  Ngoài ra, tôi cũng hơi thắc mắc và cảm thấy do dự khi tự mình chất vấn: Không biết ở căn nhà này có điều chi bí ẩn, và hai ông bà đã làm gì sai mà ai đó lại phải giận dữ như vậy?   Để tiếp tục theo dõi và học hỏi, tôi vẫn giữ nguyên tâm ý và ý chí cầu nguyện, nghĩa là không thay đổi hướng đi, vẫn giữ nguyên lập trường, và sẽ không chùn bước.  Bên cạnh đó, tôi còn miệt mài suy tư về những vấn đề này để mong sớm tìm ra nguyên do và sự giải đáp.  Thật ra, cho tới thời điểm đó, tôi còn có nhiều tâm sự muốn nói.  Thứ nhất, tôi chưa biết phải giải thích thế nào về những hiện tượng lạ vừa mới xảy ra bởi vì những cái tôi biết thì ít, còn những cái tôi không biết thì lại nhiều.  Thứ hai, tôi chỉ nghe biết về những sự kiện đã qua, nhưng lại không thể đoán ra mục tiêu kế tiếp.  Thứ ba, tôi chỉ có thể nhìn thấy hào quang bên ngoài, nhưng lại không thể nhìn thấu những cái xấu đang ẩn náu bên trong.  Điều này cũng có nghĩa là: những điều tôi trông thấy chỉ là chi tiết mặt nổi, còn những điều tôi không nhận ra lại là một tảng băng chìm.  Vì thế, tôi phải nhẫn nại để Chúa dẫn đường chỉ lối.  Tôi phải chờ xem chương trình của Chúa thế nào, Ý Muốn của Chúa ra sao, và khi nào thì Ngài mặc khải cho biết. Tôi thiết nghĩ rằng: Mọi sự trên đời này đều nằm trong quỹ đạo của Chúa; vì thế, chúng ta hãy đặt niềm tin vào Chúa, hy vọng vào tình yêu Chúa, và nhất là luôn phó thác vào sự quan phòng của Chúa.

 

Sau vài phút lặng yên suy nghĩ, tôi mới nói với hai ông bà thế này: “Phép nhà tôi đã làm hôm nọ cũng mang đến kết quả; mặc dù không mấy khả quan, nhưng ít ra thì ông bà cũng đã được hưởng 3 ngày bình yên.  Vì thế, hôm nay tôi sẽ làm phép nhà cho ông bà một lần nữa, rồi sau đó chờ xem kết quả và sự khả quan.  Mục đích của chúng ta là tìm ra nguyên do để giải quyết các vấn đề hệ trọng, bắt đầu là ở trong ta, và sau đó là ở căn nhà.  Có thể tôi sẽ phải làm phép nhà nhiều lần, và tôi sẽ thử nghiệm bằng nhiều cách để tìm ra giải pháp tốt nhất.  Ông bà hãy cùng hiệp ý với tôi qua nghi thức làm phép nhà hôm nay.  Ngoài ra, ông bà hãy tiếp tục cầu nguyện, đọc kinh lòng thương xót, và lần chuỗi mân côi mỗi ngày.”  Sau khi mọi sự đã chuẩn bị sẵn sàng, tôi đọc lời nguyện để làm phép nước, phép nhà, và rảy nước thánh các nơi, các phòng.  Bên cạnh đó tôi cũng sử dụng dầu và muối đã được làm phép.  Dầu thì tôi xức trên các vật dụng, còn muối thì rảy tung tóe khắp nơi, cả trong nhà ngoài ngõ, cả sân cỏ lẫn sân vườn, ở đằng trước cũng như đằng sau.  Trước khi ra xe để lái về nhà, tôi còn chúc lành cho hai ông bà và nhắn gởi lại: “Khi có chuyện gì thì gọi báo cho tôi biết.”  Họ vui lòng gật đầu đồng ý.  Sau đó tôi trở về nhà với một tâm trạng suy tư, nhưng tâm hồn vẫn nhẹ nhàng và êm ái.

 

Thời gian êm đềm lại tiếp tục trôi qua, và cả một tuần lễ sau đó, ông chồng lại gọi điện thoại cho tôi, bảo rằng: “Cha ơi, hôm nay nhà con lại có chuyện.  Không biết cha có thể đến nhà con ngay bây giờ được không?  Con muốn cha được nhìn thấy hiện trường sáng nay!”  Tôi trả lời rằng: “OK, tôi rảnh.  Tôi sẽ đến ngay.”  Thế rồi tôi lập tức lái xe đến nhà ông mà không cần nghĩ gần nghĩ xa.  Tôi chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra mà ông có vẻ vội vã, và giọng nói có vẻ nghiêm nghị.  Khi tôi vào tới nhà thì cả hai ông bà cũng đang có mặt ở phòng khách.  Họ bắt đầu chỉ cho tôi thấy đồ đạc trong nhà bị phá hủy.  Tủ kiếng trưng bày bị đập nát.  Các mảnh kiếng vụn văng tứ tung trên sàn gỗ.  Các bức tranh và hình ảnh cũng không còn treo trên tường.  Quần áo bị lục lọi, bị lôi ra khỏi tủ, và bị quăng tùm lum trên giường ngủ, trên kệ, dưới đất.  Các cửa phòng bị cạo sơn trầy trụa, vách thì bị xé rách từng mảnh, và lạ thay họ còn nhặt được những viên đá màu rất xinh mà ma hay quỷ đã ném vào nhà, nhất là ném vào người đàn bà đau khổ!  Hèn chi trên người của bà toàn là vết thương, vết máu, và bà nói rằng: “Con cảm thấy rất đau và khó chịu; tuy nhiên, chỉ sau vài ngày thì tự nhiên nó biến mất.”  Hôm đó tôi còn thấy hình ảnh một cái tô-vít sắt cắm sâu vào tường đá, và cả kìm sắt cũng đâm ngược đầu vào cửa gỗ.  Thật ra, đây không phải là những hình ảnh dễ thương, nhưng là một khung cảnh bạo động.  Điều này cho thấy tâm trạng của một ác nhân nào đó đã ra tay một cách dữ tợn, giận đến nỗi muốn đập phá và hủy đi tất cả!  Chuyện gì đã xảy ra cho gia đình, và tại sao lại như thế?  Tôi tiếp tục suy nghĩ hồi lâu và cầu nguyện, xin Chúa mở rộng tâm trí, ban nhiều Thần Khí và ơn thông hiểu. Điều mà tôi không thể ngờ là ngay chiều hôm ấy, Chúa đã cho tôi nhìn thấy mấu chốt của vấn đề, và Ngài đã gởi cho tôi món quà là ơn mặc khải và sự giải đáp!
 

Thật ra, nguyên nhân chính yếu ở căn nhà đó bắt nguồn từ cái sàn gỗ bởi vì thứ gỗ mà ông chồng lấy về từ một đống rác không phải là đồ quý, nhưng là đồ quỷ bởi vì đống gỗ ấy là tài sản thuộc về một người đã chết, mà người đó không muốn buông ra, không chịu buông tha, và không muốn cho đi.  Tuy rằng đám gỗ ấy vẫn còn tốt và vẫn có thể sử dụng được, nhưng bản chất của nó lại có vấn đề, cho nên nó đã bị người nhà tẩy chay, cạy lên, và quăng vào thùng rác!  Đống gỗ ấy tuy đã bị vứt bỏ, nhưng nó vẫn còn phụ thuộc vào quyền sở hữu của người chết.  Tuy rằng thân xác người ấy đã chết, cuộc đời trần gian đã hết, nhưng linh hồn người ấy vẫn tiếp tục sống giống như thần linh.  Tôi gọi thần linh ấy là ma bởi vì ma là linh hồn người chết, và linh hồn ấy không muốn cho ai sử dụng đám gỗ mà người ấy đã một thời làm chủ; vì thế, những ai muốn sở hữu nó thì phải mua chuộc lại!  Đối với linh hồn người chết thì việc mua bán, giao dịch, hay chuyển nhượng tài sản không thể tính toán bằng hiện kim hay bằng tiền mặt, nhưng bằng công đức, ơn thiêng, và ân sủng.   Mặt khác, đám gỗ mà ông chồng lấy về để sửa sàn nhà không phải là loại vô tri, vô giác, nhưng là một khối tài sản có chủ, một đống gỗ có hồn, và linh hồn người đó là có thật, vẫn đang sống, và vẫn còn tồn tại.  Hơn nữa, linh hồn người đó luôn đi chung với sàn gỗ bởi vì “của đâu, người đó,” và dựa vào số gỗ duy nhất còn sót lại trên mặt đất, linh hồn người đó có lý do để “trở lại” trần gian, và rất có thể người đó đang sử dụng đám gỗ đó để làm khó dễ người thế tục!  Có thể đống gỗ ấy là một trong những kỷ niệm hay kỷ vật mà người đó đã mua, sử dụng, tích trữ, và giữ lại trong ký ức của mình khi còn sống, và sau khi chết đi thì linh hồn người đó vẫn tiếp tục làm chủ và sở hữu đám gỗ đó cho đến bây giờ.  Vì thế, linh hồn người đó vẫn có quyền trên đám gỗ, và số tài sản ấy đã trở thành gánh nặng cho người còn sống, nhất là những người đang bị lũ ma quậy phá và hành hạ.

 

Thu gom gỗ vụn từ một đống rác để đem về sửa chữa nhà cửa không phải là một cái vạ hay cái tội, và cho dù sự việc đó có xảy ra hay là đã hoàn tất, thì hành động và cá nhân người ấy cũng chẳng có lỗi gì, ngoại trừ hơi bất cẩn, có tính trục lợi, có chút tham lam, thích vơ vét của cải, nhưng lại không biết tìm hiểu cặn kẽ về căn nguyên, lý do, và nguồn gốc của nó trước khi vơ lấy đồ dơ mà lại tưởng là của bở.  Nên nhớ là ở Mỹ thì chẳng có gì là FREE, vì cái gì “cho không, biếu không” thì cũng có cái quai, cái móc, và thể nào cũng có người bị mắc hóc!  Dĩ nhiên, những người bị hóc sẽ phải trả một cái giá đắt đỏ, và có khi họ còn phải trả bằng cả xương máu và mạng sống của mình.  Có lẽ ông chồng cũng không thể nào ngờ rằng: “Một quyết định sai trái có thể mang đến tai hại cho cả gia đình.”  Hay nói một cách khác: “Một sự quyết định tai hại sẽ làm cho cả gia đình bại hoại,” và ở ngay tại nhà ông thì ý nghĩa câu nói này đã trở thành hiện thực, một sự thật không cần chứng minh, một bằng chứng không thể chối cãi!

 

Tôi thiết nghĩ rằng: Linh hồn người chết luôn có mặt trong căn nhà, nhất là ở sàn gỗ, và linh hồn người đó cố ý làm cho người khác đau khổ bởi vì linh hồn ấy hiện nay cũng đang đau khổ.  Chắc chắn linh hồn ấy cũng đang khắc khoải, trông chờ, và cậy nhờ vào sự trợ giúp của người khác bởi vì linh hồn ấy đang cần ơn Chúa, đang khao khát Chúa, đang chờ đợi Chúa, và đang phát khùng phát điên vì chưa được diện kiến Thiên Nhan Chúa.  Vì thế, linh hồn người đó đã ở lại để quậy phá hai ông bà Mỹ, không phải để đòi lại đám gỗ, nhưng để thổ lộ cho hai ông bà biết là mình đang tuyệt vọng, đang khốn khổ cô đơn, và đang lên cơn nghiện.  Thật ra, thứ mà linh hồn ấy cần không phải gỗ, không phải số tài sản, hay của cải vật chất, nhưng là ơn thánh Chúa và là chính Chúa bởi vì Ngài là cánh cửa mà mọi người phải đi qua, là nơi mà mọi người phải tới, và chính nơi ấy cả thế giới thần linh cũng như các bậc sinh linh mới thật sự được yên nghỉ.  Ý tưởng này không phải xa lạ, và cũng chẳng có gì mới lạ bởi vì cả nghìn năm qua nó thường được “nhắc đi nhắc lại” qua lời chỉ dạy của Thánh Augustinô: “Linh hồn con sẽ không yên nghỉ cho đến khi nghỉ yên trong Chúa.”  Sở dĩ linh hồn ấy rất giận dữ, bạo động, và ra sức tàn phá đồ đạc trong nhà là để tạo ra áp lực, cố ý đè nặng trên vai hai ông bà, và nhất là gây sự chú ý, để hai ông bà nhanh chóng hành động, lên tiếng cầu cứu, kiếm người trợ giúp, và tìm sự giải thoát càng sớm càng tốt.  Bên cạnh đó, hai ông bà còn phải nhận thức rằng đây là một sự việc hết sức quan trọng, rất cần thiết, và cần kíp, cho nên hai ông bà phải đi làm ngay, cần thực hiện gấp, để người còn sống không bị tổn thương, tài sản không bị phá hoại, và người chết cũng không cần trở lại để gây thiệt hại cho bất cứ ai.  

 

Chúng ta biết rằng của cải vật chất, tất nhiên, chỉ có thể tồn tại ở trần gian này bởi vì mục đích của chúng là để phục vụ mạng sống con người.  Một khi đã nhắm mắt lìa đời thì họ phải rời xa của cải vật chất, nghĩa là phải bỏ lại tất cả bởi vì những thứ ấy không thể mang theo, và chúng cũng không thể nào tồn tại ở thế giới bên kia bởi vì nơi đó là một thế giới thần linh khác biệt, một thế giới cách biệt, cho nên chúng ta sẽ không có điều kiện, không có phương tiện, và không có cách nào để chuyên chở các thứ cồng kềnh ấy về quê trời, nơi được gọi là nước trời hay thiên đàng; vì thế, tất cả của cải vật chất phải vất bỏ lại sau lưng.  Hơn nữa, của cải vật chất không có công dụng trước mặt Thần Thánh, không thể sử dụng bởi các bậc sinh linh, và ngay cả các thánh linh cũng không thể sử dụng vật chất vào bất cứ việc gì, trừ khi là chúng đã được biến đổi qua dạng ơn phúc.  Quả đúng như thế, linh hồn người chết chỉ có thể sử dụng của cải vật chất khi chúng đã được biến đổi, chuyển dạng, nhất là từ dạng hư mất qua dạng bất tử, từ vật chất biến thành ơn lành, nghĩa là mình làm ơn, làm phước, và bố thí khi vẫn còn sống, để những cái mình cho đi sẽ trở thành những thứ mình hấp thụ, và những cái mình hấp thụ là phúc đức, tức là của cải thế gian đã biến hóa thành thứ tài sản muôn đời nơi thiên quốc. Chỉ có tài sản thiêng liêng là nguồn ơn phúc thì linh hồn người chết mới có thể sử dụng được.  

 

Việc biến chuyển của cải vật chất thành nguồn ơn phúc cũng cần được áp dụng ở gia đình hai ông bà Mỹ bởi vì số gỗ mà ông đã lấy về cần được biến đổi qua dạng ơn phúc thiêng liêng, để linh hồn người đó có thể sử dụng.  Trước tiên, linh hồn ấy muốn hai ông bà chuộc lại số gỗ, nghĩa là ông bà phải trả tiền cho việc sử dụng số gỗ bất hợp pháp, vì hai ông bà không phải là thân chủ, cũng không phải chủ nhân của đám gỗ.  Vì thế, ông bà phải “trả tiền chuộc” để mua lại chủ quyền.  Sau đó, linh hồn ấy còn nhờ cậy hai ông bà giúp đỡ: hãy dùng số tiền đó để “xin ơn, chuộc đức,” tức là ơn phúc thiêng liêng, vì thứ mà linh hồn ấy đang cần là ơn sủng cũng là sự chúc lành của Chúa.  Thực ra, đây là một trong những giải pháp cần thiết để giúp cho linh hồn người chết; dĩ nhiên, đây cũng là một sự lựa chọn mà hai ông bà Mỹ có thể làm hay từ chối.  Điều tôi muốn nói ở đây là quyền tự do và sự lựa chọn, vì ngay cả khi gặp trường hợp rắc rối hay lúc tâm trạng bị bối rối, hai ông bà Mỹ vẫn có sự tự do để quyết định: giúp hay không giúp!  

 

Có thể nói rằng: gia đình ông bà đã rơi vào một tình huống khó sử bởi vì 2 ông bà đã lỡ sử dụng “đống gỗ có ma” để làm sàn nhà.  Như vậy, đống gỗ ấy bây giờ không còn là đám gỗ vụn mà ông có thể đem đi vứt bỏ hay trả lại chỗ cũ, nhưng nó đã trở thành sàn nhà mà ông cũng không lỡ tháo ra bởi vì nếu phá bỏ đi thì ông bà sẽ phải làm lại cái mới, và nếu làm lại cái mới thì họ sẽ không với tới bởi vì gia đình ông bà sẽ không có đủ khả năng để mua gỗ mới.  Hơn nữa, nếu làm lại sàn mới thì họ còn phải chi phí thêm cho những công cụ và nhiều dịch vụ khác.  Chỉ nghĩ tới đây thôi là ông đã điên cái đầu bởi vì “tiền ở đâu ra để mà sửa nhà và làm sàn mới!”  Hơn nữa, ông còn mắc kẹt đủ thứ, đủ điều bởi vì nếu ông không chuộc lại số gỗ để “mua lại chủ quyền” thì linh hồn người đó sẽ tiếp tục quậy phá và làm khổ đến mọi người trong gia đình ông.  Nếu ông không giúp đỡ thì chắc chắn linh hồn ấy sẽ mạnh tay tàn phá nhà cửa, đồ đạc, tài sản, và làm cho gia đình ông thêm điêu đứng.  Mặt khác, nếu như ông đồng ý giúp đỡ thì ông không biết phải bắt đầu từ đâu, làm gì, và làm thế nào để đạt được 5 mục tiêu này: 1. Chuộc lại đám gỗ một cách hợp lý để chính thức trở thành chủ nhân mới.  2. Bảo vệ khối tài sản, nhà cửa, đồ đạc, và các vật dụng trong nhà.  3. Tìm lại sự bình an trong tâm hồn và trong gia đình.  4. Ngăn cản sự phá hoại trong tương lai và đem lại hạnh phúc cho mọi người trong gia đình.  5. Và phần quan trọng nhất là giúp cho linh hồn người chết, vị chủ nhân cũ của đám gỗ, được siêu thoát và được toại nguyện!

 

Để giải quyết các vấn nạn mà ông bạn Mỹ đang tận tâm tìm kiếm, tôi mới ngỏ ý với hai ông bà thế này: Tôi biết gia đình ông bà đang gặp khó khăn về nhiều mặt, cho nên tôi rất cảm thông và tận tình giúp đỡ. Bây giờ ông bà cần nhanh chóng giải quyết các vấn đề và giải quyết từng bước một, bắt đầu là việc chuộc lại số gỗ nếu như không muốn tháo gỡ sàn nhà.  Như vậy, ông bà sẽ dùng tiền Đô để trả cho số gỗ, và đây chỉ là một số tiền nhỏ với ý nghĩa tượng trưng; sau đó, ông bà sẽ chuyển số tiền ấy tới tay người bán là thân chủ cũ của đám gỗ. Bởi vì linh hồn người ấy không lấy tiền Đô, cũng không sử dụng tiền mặt, nhưng chỉ nhận “ơn phúc và ân sủng,” cho nên ông bà phải đổi số tiền đó qua dạng thiêng liêng bằng việc xin lễ bởi vì Thánh Lễ là Hy Tế của Đức Kitô trên cây thập tự giá, là sự hy sinh dâng hiến thân mình, là nguồn ơn cứu độ, và là nơi tuôn đổ hồng phúc vô biên!  Một điều rất tế nhị mà tôi muốn chia sẻ để mọi người hiểu hơn về việc Xin Lễ. Thứ nhất, tôi khẳng định rằng: Thánh Lễ là của lễ vô giá mà tiền bạc không thể mua, và ơn sủng không thể bán!  Thế nên, việc Xin Lễ không thể là một cuộc giao dịch đổi chác, cũng không phải là việc “buôn thần bán thánh,” nhưng là dấu chỉ của sự hy sinh và tình yêu vô vị lợi.  Thứ nhì, Luật Hội Thánh không bắt buộc ai xin lễ, cũng không khuyến dụ ai phải xin lễ, nhưng buộc các Linh Mục phải yêu thương, quảng đại, và không quản ngại nhận ý lễ cũng như làm lễ cho tất cả những ai xin, bất kể là người đó thế nào và hoàn cảnh ra sao.  Thứ ba: Giáo Hội có những quy định rất rõ ràng về việc Xin Lễ, để người dâng lễ, người xin lễ, và người nhận ý lễ dễ dàng hoàn tất công việc bổn phận. Nếu cứ làm theo quy định và sự chỉ dẫn của Giáo Hội thì người đến xin lễ sẽ biết trước mình cần phải làm gì, và người đó sẽ không cảm thấy ngượng ngùng, đắn đo, bối rối.  Bên cạnh đó, người tiếp nhận ý lễ sẽ không còn lý do để giải thích mập mờ, ý lễ sẽ dễ dàng ghi vào sổ sách, và người đó sẽ là nhân chứng của sự minh bạch.  Ngoài ra, người làm lễ sẽ vô tư thi hành bổn phận, không bị phân tâm, không bị nhầm lẫn, hay bị vu oan, nghi ngờ… Thứ tư, người xin lễ sẽ phải “chi trả” cho ý lễ mình xin, vì theo lẽ công bằng thì ai làm việc cho mình thì mình trả công cho người đó, và khoản tiền “chi trả” chỉ là dấu chỉ tượng trưng cho sự hy sinh của mình trong việc đóng góp công sức và tài trí của mình vào của lễ tiến dâng trên bàn thờ.  Của lễ ấy to hay nhỏ thì còn tùy thuộc vào sự quảng đại của người xin, nhưng không phải vì thế mà Thánh Lễ sẽ giảm bớt đi nguồn ơn sủng bởi vì Tình Yêu Chúa lúc nào cũng ngập tràn như biển cả.  Sau cùng, chỉ có Linh Mục hay Giám Mục Công Giáo mới được phép dâng lễ để hoàn tất những ý nguyện và ước vọng của người xin. 

 

Việc xin lễ của ông bà Mỹ chỉ là sự “chi trả và đền bù thiệt hại” cho đám gỗ mà ông đang sử dụng bất hợp pháp.  Hơn nữa, việc xin lễ của ông là một hành động bác bái, vì ông đang dùng số tiền “chi trả” để chuyển qua dạng ơn phúc, và ông làm theo ước nguyện của vị chủ nhân cũ để giúp cho linh hồn người đó. Như vậy, ông bà đã hoàn thành trách nhiệm trong việc chuộc lại đám gỗ, và ông bà đã trả “số tiền đó” không phải bằng đô la, nhưng là bằng Hy Lễ.  Ông bà đã xin lễ cho linh hồn người chết, và như thế có thể nói rằng: ông bà đã chính thức trở thành vị chủ nhân mới của đám gỗ một cách hợp pháp, hợp tình, và hợp lý.  Nhưng điều khó nghĩ và khó giải thích ở đây là ông phải xin bao nhiêu lễ và xin bao nhiêu lần cho đủ?  Số gỗ đó đáng giá bao nhiêu?  Và bây giờ linh hồn người chết đòi bao nhiêu?  Có khi nào đám gỗ ấy lại có giá trị khác biệt giữa người còn sống và kẻ chết? Có khi nào ông bà nghĩ một đường còn linh hồn người chết thì lại suy nghĩ một nẻo hay không?  Công nhận vấn đề này quá sức rắc rối, vì càng suy nghĩ thì càng thấy sự nan giải. Để giúp cho hai ông bà Mỹ giải quyết vấn đề, tôi đề nghị ông bà đi đến Nhà Thờ Công Giáo, vào gặp bà thơ ký, và xin 3 ý lễ đặc biệt để cầu cho linh hồn người chết.  Thật sự tôi không biết đám gỗ có giá trị như thế nào, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu bằng 3 Thánh Lễ.  Nếu như linh hồn ấy thấy chưa đủ, hay chưa mãn nguyện thì chúng ta sẽ trả thêm cho đến khi sự việc êm dịu.  Để tiếp tay trong công việc này, tôi sẽ giúp cho hai ông bà chi trả số tiền đó, nghĩa là bắt đầu từ hôm nay tôi sẽ làm 3 lễ trong 3 ngày liên tục để cầu cho linh hồn người đó.  Tôi sẽ dâng 2 lễ ở nhà thờ và 1 lễ ở đây, để hai ông bà và cả linh hồn người chết cũng có thể tham dự.  

 

Lý do tôi muốn dâng lễ ở căn nhà ảm đạm này bởi vì nó liên quan đến việc giải quyết các vấn nạn về đường dài lẫn chiều sâu.  Trước tiên, tôi muốn tạo cơ hội cho hai ông bà để họ có dịp làm quen với Giáo Hội Công Giáo, để họ bắt đầu học hỏi về các Bí Tích trong Đạo, để họ nhận biết Thánh Lễ có nhiều uy lực và sức mạnh, và để họ có những cảm nghiệm nội tâm về sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi Bàn Tiệc Thánh. Bên cạnh đó tôi muốn cho họ được nhìn thấy, nghe, và biết được Thánh Lễ ra sao và được cử hành như thế nào.  Ngoài ra, tôi muốn đem ánh sáng Tin Mừng vào căn nhà tăm tối, và để Thánh Thể Chúa chiếu dọi ánh vinh quang trên các linh hồn đang còn vất vưởng hoặc đang mắc kẹt đâu đây.  Hơn nữa, tôi còn muốn cho hai ông bà biết rằng: Bí Tích Thánh Thể là khí cụ độc nhất vô nhị, giúp chúng ta trị bệnh, trừ tà, tha tội, kín múc ơn Chúa, và chỉ có ở trong Đạo Công Giáo thì người ta mới có thể tìm thấy Chúa Giêsu Thánh Thể để mà giao tiếp, gặp gỡ, diện kiến, và chiêm ngưỡng Thánh Nhan Ngài.

 

Bởi vì cả hai ông bà không phải là người Công Giáo, cho nên họ không hiểu nhiều về truyền thống của người Kitô Giáo; vì thế, tôi phải giải thích cặn kẽ về Giáo Lý Công Giáo và các Bí Tích, đặc biệt là nguồn ơn sủng mà người sống cũng như kẻ chết được thừa hưởng từ việc tham dự Thánh Lễ cũng như cử hành Thánh Lễ.  Ngoài ra, tôi còn định nghĩa, miêu tả, và diễn giải thế này: Thánh Lễ Misa là một Phép Lạ huyền diệu nhất, là Bí Tích tuyệt vời nhất, và là sợi dây liên kết thắt chặt tình đoàn kết bởi vì tất cả chúng ta đều là Chi Thể của Đức Kitô.  Thánh Lễ là sự cứu độ của Chúa Kitô dành cho nhân loại trải dài theo năm tháng.  Thánh Lễ có thể trừ ma diệt quỷ, tẩy xóa tội lỗi nhân loại, dập tắt lửa luyện tội, và giải thoát các linh hồn khỏi chốn lầm than.  Vì thế, Thánh Lễ Misa là ơn cứu độ và là sự giải thoát dành cho kẻ sống cũng như kẻ chết, kể cả quá khứ lẫn tương lai.  Vì thế, lời khuyên của tôi dành cho hai ông bà là như thế này:  Ông bà đừng có ngần ngại khi quay lại với Giáo Hội Công Giáo, và đừng cảm thấy ái ngại khi trở lại sinh hoạt với người Kitô Hữu.  Hãy đăng ký tham dự các lớp Giáo Lý Tân Tòng ở Nhà Thờ Công Giáo, sau đó gia nhập Đạo Chúa Kitô để trở thành công dân nước trời.  Chỉ có ở trong Đạo Công Giáo thì ông bà mới có thể gặp gỡ Chúa Giêsu Thánh Thể để nhận lãnh nguồn sống vĩnh cửu, vì Ngài đã phán: “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống.  Ai ăn Bánh này sẽ sống đời đời, và Bánh Ta ban chính là Thịt Ta để cho thế gian được sống” (Jn 6:51). Thế nên, ông bà hãy siêng năng tham dự Thánh Lễ, ăn uống nơi Bàn Tiệc Thánh, và thành tâm yêu mến Thánh Thể.  Tôi nghĩ rằng bây giờ cũng chưa có trễ để hai ông bà làm lại từ đầu, để bắt đầu một cuộc đời mới, khởi đầu cho hành trình mới để hai ông bà cùng nhịp bước với Chúa Giêsu Thánh Thể.  Ngài là Vị Mục Tử tốt lành, Đấng sẽ chăn dắt, bảo vệ, và dẫn đưa ông bà tới chỗ nghỉ ngơi.  Chắc chắn ở nơi đó, cả hồn và xác của ông bà sẽ được no thỏa, như lời Chúa Giêsu đã khẳng định: “Ta là Bánh trường sinh.  Ai đến với Ta sẽ không hề đói, và ai tin vào Ta sẽ không khát bao giờ” (Jn 6:35).  

 

Sau cùng thì tôi cũng hoàn tất công việc đã hứa với một giáo dân bất đắc dĩ, vì ông đã vô tình mang “đống gỗ cô hồn” về nhà.  Thật ra, ông là người vô tội và rất đáng thương bởi vì chính ông cũng không biết gì về chuyện “đám gỗ có ma,” và như thế ông đã vô tình “đem ma về nhà” để giày xéo căn nhà và làm khổ gia đình.  Ông đã vô tình tạo ra các vấn nạn, và rốt cuộc ông trở thành “người bạn bất đắc dĩ” của một vị thân chủ, mà linh hồn người ấy đã cố tình biến ông thành vị “ân nhân” của mình.  Tình yêu nối kết tình yêu, và điều mà ông không thể ngờ là cuộc tình ấy vẫn còn tồn tại, và có thể kéo dài đến tương lai.  Tôi nghĩ rằng: món nợ trả ơn hay trả nghĩa cho “vị thân chủ” cũng đã tạm đủ; tuy nhiên, chuyện bất thường cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và quả nhiên câu chuyện tiếp đó đã xảy ra đúng là thế!  Ông Mỹ trắng kể lại rằng: “Sau khi cha đã dâng 3 lễ để cầu cho linh hồn người ấy thì gia đình con được bình an đúng một tháng.  Sau đó gia đình con lại bị linh hồn người ấy đến quấy rầy.  Bây giờ con không biết phải làm gì, xin nhờ cha tiếp tục chỉ dẫn.”  Lần này, tôi cũng lái xe đến thăm gia đình ông, nhưng tôi không làm phép nhà giống như mấy lần trước bởi vì tôi biết việc làm này giờ đây không còn cần thiết.  Thay vào đó, tôi nói nhỏ và ngỏ ý với ông thế này: “Ông hãy tiếp tục xin lễ để cầu cho vị chủ nhân ấy bởi vì sự khao khát của linh hồn ấy vẫn chưa được thỏa mãn, vẫn chưa mãn nguyện!”  Khi nói đến đây thì tâm trí tôi nghĩ ngay tới hình ảnh của “một con nghiện đang ghiền thuốc phiện.”  Một khi người ấy lên cơn nghiện, nghĩa là lúc chưa đủ đô hoặc khi chưa đủ độ, thì bất chấp mọi thủ đoạn, người ấy sẽ tìm mọi cách, làm đủ mọi kiểu để kiếm cho được số thuốc cần thiết, miễn sao là thỏa mãn được cơn nghiện!  Hiện tượng này cũng giống như một người nghiện rượu, người ấy sẽ không làm chủ được bản thân, và người ấy lúc nào cũng cần có rượu để uống.  Cho dù người ấy có say, chưa say, hay đã sỉn, người ấy vẫn tiếp tục uống, uống cho say, uống cho đã; và khi rượu đã giã, đã qua cơn say, người ấy lại nghĩ ngay đến bầu rượu, vì tửu lượng đã vơi đi, và cơn nghiện lại hiện đến!  Nếu như con nghiện không vượt qua khóa cai nghiện và triệt để tận gốc, thì người ấy sẽ không tìm thấy lối ra, sẽ không qua khỏi cơn khát, và sẽ không được giải thoát, nghĩa là cứ khát mãi không thôi!

 

Tôi luôn nhắc nhở để hai ông bà Mỹ hiểu điều này: Giúp cho linh hồn người ta là giúp cho chính mình bởi vì nếu như con nghiện có được sự mãn nguyện thì những chuyện đau đầu sẽ không xảy đến với mình nữa.  Hay nói một cách khác: Nếu như sự khao khát của con nghiện được thỏa mãn, thì chắc chắn người ấy sẽ không còn đến để làm phiền gia đình ông.  Như thế, ông bà cần phải tiếp tục giúp đỡ cho những linh hồn đang lên cơn nghiện, nhất là những linh hồn đang thiếu thốn phương tiện để kiện toàn bản thân.  Vì thế, ông bà hãy tiếp tục xin lễ cho họ, để những ơn phúc tuôn đổ trên họ sẽ giúp đem họ đến gần với Chúa.  Một hạt giống khi gieo thì cần nhiều nước để được nảy mầm.  Một thân cây non trẻ cũng cần được tưới nước thường xuyên, vì nó chưa có khả năng tự cung ứng nguồn sống cho chính mình.  Hơn nữa, nó cũng chưa có đủ điều kiện để thực hiện ước mơ; vì thế, nó cần được nâng đỡ và trợ giúp trong một thời gian ngắn nhất định.  Đây cũng chính là trường hợp của một linh hồn đang còn lưu luyến với gia đình ông bởi vì linh hồn ấy thật sự chưa có hướng đi, chưa tìm được lối thoát, nghĩa là chưa tìm được Chúa là nguồn suối yêu thương, chưa gặp được Chúa là thiên đường hạnh phúc; vì thế, linh hồn ấy đi hoài vẫn chưa tới, với hoài cũng không sao ôm được cái phao hạnh phúc, và uống mãi vẫn chưa đủ, chưa đầy, chưa đã khát.  Vì thế, ông bà hãy gởi cho họ những món quà là Của Lễ Hy Sinh, và chỉ có Chúa là Tình Yêu muôn thuở mới có thể đem linh hồn ấy về quê hương vĩnh cửu.  Nơi ấy, mọi người sẽ được no thỏa, và tất cả các thần linh sẽ không còn thèm khát gì nữa!  

 

Theo ước nguyện của ông bà Mỹ, tôi đã dâng Lễ để cầu nguyện theo ý chỉ của họ, đặc biệt là ý chỉ cầu cho linh hồn một vị chủ nhân, mà người ấy đang “ẩn thân” trong gia đình họ.  Việc hai ông bà xin lễ cho một linh hồn không quen biết quả là một hành động quảng đại, bác ái, yêu thương, chan chứa tình người.  Điều đó chứng tỏ hai ông bà có tâm hồn sống đạo, rất thành tâm, rộng lượng, và trưởng thành.  Họ còn nói với tôi rằng: Mỗi khi cha dâng một Thánh Lễ để cầu cho linh hồn người đó thì cả gia đình con được bình yên một tháng, sau đó con lại thấy có những dấu chỉ bị quấy rầy.  Một khi gia đình họ bị “ma” quấy rầy thì tôi cũng bị họ quấy rầy, nghĩa là tôi bị vạ lây; vì vậy, tôi muốn họ đến Nhà Thờ Công Giáo để xin lễ cho cả 3 tháng, nghĩa là mỗi tháng 1 lễ.  Thế là cả 3 tháng ấy gia đình họ sống bình yên, và cũng từ ngày ấy tôi không còn thấy sự quấy rầy của họ nữa.  Thật ra đó là một tin vui, một chuyện đáng mừng bởi vì các vấn nạn trong căn nhà và gia đình của họ tạm thời đã được giải quyết; tuy nhiên, chuyện đường dài thì họ còn phải tranh đấu rất nhiều.  Nếu như họ thực sự muốn sống bình an và được hạnh phúc thì chính lúc này đây, họ cần phải trở lại với Giáo Hội Công Giáo, lãnh nhận các Bí Tích, siêng năng tham dự Thánh Lễ, và gần gũi với Chúa Giêsu Thánh Thể, để Ngài cảm hóa, thánh hóa, và ban cho cả xác hồn được bình an và hạnh phúc, cả đời này lẫn đời sau.

 

Qua câu chuyện này, tôi thấy tác giả cũng đã mệt mỏi, nhưng không phải vì thế mà chúng ta dễ dàng bỏ qua những kinh nghiệm quý báu; vì thế, chúng ta hãy cùng xem xét lại những bài học chọn lọc sau đây: Thứ nhất: Hãy luôn thận trọng với những quyết định và hành động thiếu suy nghĩ bởi vì mình có thể ngăn ngừa những chuyện đáng tiếc xảy ra!  Thứ hai: Hãy cẩn thận với các loại phế thải, đồ ve chai, đồ sưu tầm, thời trang cũ, các đồ dùng mua lại, và những cái gọi là “tái chế,” đặc biệt là những thứ “rác rưởi” mà mình sẽ công vào nhà, kẻo ma vịn cớ đi theo, chui vào tận đáy sào huyệt của tâm hồn để mà quấy phá, giống như một câu chuyện đã từng xảy ra mà tác giả đã có dịp nhắc tới!  Và sau cùng: Hãy chọn Chúa làm gia nghiệp cho riêng mình bởi vì Tình Yêu Chúa là gia sản quý báu nhất, an toàn nhất, đẹp đẽ nhất, cao cả nhất, trọn vẹn nhất, bền bỉ nhất, và tốt đẹp nhất.  Tình yêu ấy sẽ không bị ai lấy đi, sẽ không bị ai phá hoại, và nó sẽ tồn tại đến muôn đời.  Hạnh phúc nước trời và đời sống của ta không thể xa cách và tách rời nhau; vì thế, chúng ta hãy tiếp tục bám lấy Chúa để sống, để yêu thương, và hy sinh dấn thân phục vụ!

  

4-4-2017

Linh Mục Gioan Hà Trần

119 Redan Drive

Savannah, GA 31410

Email: khongkhonghai@yahoo.com

Tác giả:  Lm. Gioan Hà Trần

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!