Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng

Lm. Trần Minh Huy, pss
Mục Lục

Chương I : Đào sâu và thực hành đặc sủng và linh đạo dòng

Chương II : Củng cố những bước đầu phân định và sống ơn gọi

Chương II : (tiếp)

Chương III : Con đường sống thánh

Chương III : (tiếp)

Chương IV : Đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm

Chương V : Sống triển nở đời sống cộng đoàn, yếu tố sống còn của tu sĩ

Chương V : (tiếp)

Chương VI : Sống tốt đời sống độc thân thánh hiến trong bối cảnh hôm nay

Chương VI : (tiếp)

Chương VII : Sống viên mãn ba lời khấn dòng

Chương VII : (tiếp)

Chương VIII : Những thời khắc quyết định

Phụ lục I

Phụ Lục II

CÙNG MỘT TÁC GIẢ

Đối Mặt Với Bối Cảnh Đào Tạo Hôm Nay: Cuộc Khủng Hoảng Tình Cảm Và Tình Dục Trong Giáo Hội.

ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN KHIẾT TỊNH TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI HÔM NAY

LƯỢNG SỨC MÌNH ĐỂ QUYẾT ĐỊNH DỨT KHOÁT

Hiệp Thông Trong Đời Sống và Sứ Vụ Linh Mục

TÌNH CẢM VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA LINH MỤC NGÀY NAY

BAN HUẤN LUYỆN ĐAMINH TAM HIỆP - Thường Huấn 4-7/5/2017

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN - XÂY DỰNG NHÂN CÁCH TU SĨ

Xây dựng Cộng Đoàn Cầu Nguyện và Yêu Thương

NHÀ ĐÀO TẠO TÂM HUYẾT HÔM NAY

TRỞ NÊN LINH MỤC ĐÍCH THỰC NHƯ LÒNG MONG ƯỚC.

MỤC VỤ LINH HƯỚNG - Phân Định và Sống Ơn Gọi

TÌNH CẢM VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC NGÀY NAY

Đào Tạo Trưởng Thành Nhân Bản Kitô Giáo và Đời Tu

CẦU NGUYỆN CÁ NHÂN BÍ QUYẾT TÌNH YÊU VÀ VUI SỐNG

Linh Mục Sống và Thực Thi Năm Thánh Lòng Thương Xót - Linh Mục Đoàn Ban Mê Thuột Thường Huấn 29/2 - 4/3/2016

Đối Mặt Với Các Thách Thức Trong Đời Sống Và Sứ Vụ Linh Mục Của Chúng Ta Hôm Nay - Linh Mục Đoàn Hưng Hoá Tĩnh Tâm Năm 9 - 13/11/2016

Người Nữ Tu Sống Tu Đức Toàn Diện

Đứng Gần Thập Giá Chúa GiêSu

Cầu Nguyện Cá Nhân - Bí quyết tình yêu và vui sống

Sứ Điệp Từ Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu

Đào Tạo và Tự Đào Tạo Thiêng Liêng của các Linh Mục trong bối cảnh Việt Nam ngày nay

Lớp Thần Học bổ túc (2006-2007)

Mười Ba Nét Mặt Tình Yêu

Chúa vẫn thương

Làm Sao Để Tha Thứ

Người Nữ Tu Sống Tu Đức Toàn Diện
Chương II : (tiếp)

      VI. TRỞ THÀNH ỨNG SINH TU SĨ 

1. Con đường ơn gọi phát sinh từ một cuộc đổi đời và trở thành 

a. Trở thành Ứng sinh tu sĩ 

1) Chia cắt với cái đi trước, nghĩa là người đang trở thành ứng sinh tu sĩ từ bỏ một cách sống, một cách hiểu biết đối với Thiên Chúa, với vũ trụ, với chính mình và tha nhân, tức là con người thế trần. Thánh Phaolô khuyên “quên hẳn đàng sau, nhắm phía trước mà chạy tới.”  

2) Mở ra với những gì đang đến, nghĩa là một hiện hữu mới, một ý nghĩa độc đáo và bất ngờ đối với cái đi trước. Như thế, sự trở thành mở đường vào cuộc sống ứng sinh tu sĩ là một sự xé rách, một thứ cái chết, nhưng rách để lành, chết để sống; đó là một thứ biến đổi một mất một còn.

 

(slideshow NHƯ CHIM PHƯỢNG HOÀNG) 

Dường như có một đổ vỡ giữa người thiếu nữ và ứng sinh tu sĩ. Thật thế, chị đang bước vào đời ứng sinh tu sĩ, nhưng vẫn còn có con người trần tục bên cạnh con người thiêng liêng.            

Tính lưỡng diện này vẫn tồn tại lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời nữa, trải qua những chiến đấu, dòn mỏng… với thành công và có khi thất bại nữa: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” (Nguyễn Thái Học). 

 

b. Một kinh nghiệm đổ vỡ 

            Ta có thể nhìn kinh nghiệm đổ vỡ (sự chia cắt và cái chết) nầy qua hình ảnh Abraham cắt đứt mọi mối quan hệ cộng đồng và yêu thương với gia đình, với đồng bào và thiên nhiên, rời bỏ quê hương để đi tìm một quê hương mới, hầu được triển nở thành thủ lãnh / cha một dân tộc. Như thế, hành trình theo ơn gọi bẻ gãy tính thuần nhất của những gì đã nhận lãnh trong cuộc đời, ghi khắc một đổ vỡ và thay đổi các giá trị vốn có.

 

2. Cuộc trở thành của Ứng sinh tu sĩ            

1) Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng

            Ứng sinh tu sĩ không sợ nói lên kinh nghiệm bản thân để mô tả thứ thanh tẩy cần thiết hầu đi vào hành trình thiêng liêng, chuẩn bị tiến tới tuyên khấn làm người nữ tu. Muốn thế, cần có tín nhiệm lẫn nhau thực sự trong linh hướng.       

Cái quan trọng là có nơi mỗi ứng sinh một biến cố lịch sử đánh dấu thời khắc họ trở thành ứng sinh, và thời khắc đó được sống thường xuyên trong tất cả công cuộc tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa: Người tu sĩ sống căn tính tu sĩ suốt cả đời.

 

2) Đổ vỡ là sự khởi đầu

            Biện chứng pháp dẫn ta từ đối chọi tiền đề – phản đề đến một quan điểm mới (hợp đề). Cũng thế, mỗi một đổ vỡ mở ra một khởi đầu mới:  

Tiền đề ↔ Phản đề → Hợp đề

Hợp đề này = Tiền đề mới ↔ Phản đề mới → Hợp đề mới = Tiền đề mới …. 

 

3) Sống ơn gọi như sự chia tách

            Sự kiện người đi tu xem ra hiện hữu tách biệt với người đời khiến người ta than phiền đi tu là cắt khỏi cuộc sống (xuất thế). Nhưng một cách nào đó đời tu đòi sẽ lại sự chia tách nầy (nhập thế) và khoảng cách giữa tu và không tu là một dữ kiện có một ý nghĩa hữu lý: sống một cách khác hợp với chọn lựa của đời mình. Do đó, đổ vỡ nầy đánh dấu sự khởi đầu của tất cả mọi cuộc đời. 

3. Chết cho cái cũ để sống cho cái mới     

Phải chăng đôi bên có mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau, và mối tương quan được định nghĩa bằng cái chết?

           

Lý tưởng tu sĩ của ứng sinh chưa phải là một thực tại cụ thể (năng thể), nhưng là một hy vọng mà ứng sinh có nhiệm vụ phải biến thành hiện thực (hiện thể). Có thể nói đây là một bạo lực ngọt ngào: giết chết cái chất trần tục trong con người mình, để cuối cùng được sinh ra trong con người ứng sinh tu sĩ: “Anh em hãy mặc lấy con người mới đã được Đức Kitô Phục Sinh biến đổi”                        

Và đó là tiến trình lâu dài của một công cuộc hợp tác đào tạo và tự đào tạo, vừa thần linh vừa nhân loại. 

(slideshow CHƯA XONG!) 

 

       VII. ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ 

Trong suốt thời kỳ huấn luyện, các ứng sinh được khích lệ tự suy nghĩ về chính bản thân mình, dựa trên một bảng câu hỏi xuất phát từ những chất liệu khám phá được từ khung cảnh linh hướng. Bảng câu hỏi này liên quan đến:

 

1. Những điều kiện bên ngoài

-          môi trường xã hội,

-          gia đình,

-          những mối liên hệ với các linh mục,

-          liên hệ với người khác giới.

-          tương quan với các Nữ Tu quen biết

 

2. Những điều kiện tự nhiên 

-          sức khoẻ,

-          tính tình,

-          trí thông minh,

-          các tài năng và khả năng.

 

3.Những điều kiện thiêng liêng

-          tinh thần xả kỷ,

-          tinh thần trách nhiệm,

-          tinh thần siêu nhiên,

-          tinh thần đức tin,

-          tinh thần cộng tác,

-          tinh thần vâng phục,

-          tinh thần nghèo khó,

-          tinh thần thanh khiết,

-          tinh thần phụng vụ,

-          tinh thần mục vụ

-          và tinh thần lao động chân tay.  

Bảng câu hỏi nhằm giúp ứng sinh biện phân ơn gọi của mình và đưa ra một quyết định trưởng thành cho cuộc đời mình với sự tự do nội tâm hoàn toàn.   

Để những nỗ lực này được dễ dàng hơn, họ phải được khuyến khích xây dựng một hình ảnh nữ tu lý tưởng mà lòng họ ước ao (x. Mô Hình Người Nữ Tu Hôm Nay và Ngày Mai)  

Việc tự đánh giá nghiêm túc có thể dẫn ứng sinh tới một trong hai kết luận:

 

a) Hoặc là Chúa muốn chị theo con đường khác.           

Chị đã được trang bị các đức tính và những khả năng cần thiết để sống đời sống Kitô hữu một cách trọn vẹn với tư cách là một giáo dân. Vậy tinh thần trách nhiệm sẽ khích lệ chị thay đổi ơn gọi.

 

b) Hoặc là Thiên Chúa chọn chị làm nữ tu.

            Mặc dù chị tự kiểm một cách nghiêm túc, chị vẫn không thể tuyệt đối chắc chắn về ơn gọi của mình. Sự chấp thuận của Bề Trên và Hội Dòng sẽ hoàn tất chọn lựa này và làm cho chị an tâm.

 

Để tiến trình tu tập được tiến bộ và kết quả, ứng sinh cần tự kiểm và tự đào luyện, cùng với sự giúp đỡ thường xuyên của người đồng hành.  

 

 

BẢNG CÂU HỎI CHI TIẾT GIÚP ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ 

1. Những Điều Kiện Bên Ngoài

 

1) Môi Trường Xã Hội 

Não trạng của người dân ở giáo xứ quê hương tôi hay của những người hàng xóm với gia đình tôi về đời sống tu trì là gì? Họ thực hành đạo thế nào? Họ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến ơn gọi của tôi? Đặc biệt là tình bằng hữu của bà con họ hàng đối với gia đình tôi và với cá nhân tôi thế nào? Họ nghĩ thế nào về ơn gọi của tôi? Trong gia đình tôi hay trong những người bà con họ hàng tôi có ai sống đời thánh hiến không? Đâu là ảnh hưởng và mối tương quan giữa tôi và những anh chị em cùng lớp? Tôi có quan hệ đặc biệt nào với ai không?

    

2) Gia Đình Tôi 

Sức khỏe của ông bà tôi, cha mẹ tôi, anh chị em tôi thế nào? Họ quan niệm thế nào và đối xử làm sao với ơn gọi của tôi, tích cực hay tiêu cực? Họ có cho phép tôi tự do chọn lựa, hay bắt tôi chịu áp lực của họ? Ai trong gia đình tôi là người có tầm ảnh hưởng quan trọng và tích cực nhất đối với ơn gọi của tôi? Cảm nghĩ của tôi về gia đình: quan tâm, gắn bó, thờ ơ lạnh nhạt, thất vọng? Tại sao? Mối tương quan đặc biệt của tôi với gia đình sẽ là gì, nhất là sau khi đã thành người nữ tu?

 

3) Tương Quan với các Linh Mục

Đâu là ảnh hưởng thiêng liêng của Cha Bảo trợ đối với tôi? Ngài có thường xuyên liên lạc, giúp đỡ tài chính cho tôi không? Đâu là điểm tích cực mà tôi học được nơi ngài? Ngài có ảnh hưởng gì tiêu cực trên đời sống tôi không? Mối tương quan của tôi với cha xứ trong suốt năm học ở trường, nhất là trong những ngày nghỉ hè là gì? Mối tương quan giữa Cha xứ với gia đình tôi là gì? Khi được người khác khen hay chê thì thái độ của tôi là gì? Đời sống tư và việc tông đồ của cha xứ có ảnh hưởng gì đến ơn gọi của tôi? Tôi có quen biết cách đặc biệt nào với một số Cha khác không? Đâu là lý do của sự quen biết này và nó có ảnh hưởng gì đến tôi, về mặt thiêng liêng hay kinh tế? Tôi có tương quan dễ dàng và tốt lành với nhiều Cha trong Giáo phận tôi không, nhất là với các cha trẻ?

    

4) Tương Quan Với Người Khác Phái 

Quan niệm của tôi về người khác phái là gì? Đâu là cách tôi giữ mối liên lạc với người khác phái? Tôi có mối quan hệ gần gũi với ai trong số những người nam sống đời thánh hiến không? Đâu là nguyên nhân của mối tương quan này? Đâu là cách tôi giữ liên lạc với anh ấy? Có gì đáng quan tâm hay dấu hiệu gì đáng đặt dấu hỏi không? Mọi người đều mang bản tính nhân loại và có giới tính. Tôi có thận trọng hơn trong tương quan với người đời, nhất là với các bạn không có Đạo?

 

            5) Tương quan với các Nữ Tu quen biết

Đâu là ảnh hưởng của cộng đoàn nữ tu ở trong giáo xứ đối với tôi, về tinh thần cũng như về vật chất? Ơn gọi tôi bắt đầu thế nào? Ai gợi ý và giúp tôi về ơn gọi? Đâu là điểm tích cực mà tôi học được nơi các Dì? Các Dì có ảnh hưởng gì tiêu cực trên đời sống ơn gọi của tôi không? Mối tương quan của tôi với các Dì trong suốt thời gian đi học? Mối tương quan giữa các Dì và gia đình tôi thế nào? Khi người ta khen hay chê các Dì thì thái độ của tôi là gì? Đời sống tình cảm riêng tư và việc tông đồ của các Dì có ảnh hưởng gì đến ơn gọi của tôi? Tôi có tương quan dễ dàng và tốt lành với bất cứ nữ tu nào không? 

 

2. Những Điều Kiện Tự Nhiên  

1) Sức Khoẻ Của Tôi 

Sức khoẻ của gia đình tôi thế nào? Có bệnh di truyền nào không? Tôi có lo lắng gì về bệnh tật trong tương lai không? Tôi gìn giữ sức khoẻ bằng cách nào? Đâu là nhịp độ ăn uống, ngủ nghỉ và làm việc của tôi trong thời gian học đều đặn cũng như trong thời thi cử? 

 

2) Tính Tình Của Tôi 

Tôi có thể mô tả tính tình của tôi thế nào: cảm xúc hay vô cảm, hoạt động hay không hoạt động, sáng kiến hay thụ động? Tôi có đầu óc hẹp hòi hay cởi mở, có điều độ ngăn nắp hay lộn xộn bừa bãi? Tôi lạc quan hay bi quan, nhút nhát hay liều lĩnh, khiêm tốn hay kiêu hãnh, chăm chỉ hay lười biếng, có óc tổ chức hay làm theo hứng?

 

3) Trí Khôn Của Tôi

Trí khôn của tôi thế nào: xuất sắc, rất tốt, tốt hay kém? Kết quả học tập của tôi thế nào? Có tình trạng đặc biệt nào ảnh hưởng tới trí khôn của tôi không? Tôi có phương pháp nào để luyện trí nhớ và trí hiểu không? Tôi thích học thuộc lòng hay thích suy tư, phân tích hay tổng hợp ?

 

4) Năng Khiếu và Khả Năng Của Tôi

Trong học tập, trong nghệ thuật và hoạt động, năng khiếu đặc biệt của tôi là gì? Đâu là điểm yếu của tôi trong những lãnh vực này? Tại sao? Đâu là cách tôi vun trồng và nâng cao năng khiếu của tôi? 

 

3. Những Điều Kiện Thiêng Liêng

 

1) Tinh Thần Tự Hiến

Ơn gọi của tôi đã lớn lên và phát triển thế nào? Bây giờ ra sao? Tại sao tôi lại chọn đời sống thánh hiến? Tôi có luôn suy nghĩ về ơn gọi của tôi không? Có gì cản trở không? Làm thế nào để vượt qua? Tôi có lạc quan và hy vọng không, hay lại bi quan và thất vọng về tình trạng hiện tại của tôi? Tại sao? Tôi tự nguyện theo đuổi ơn gọi hay có áp lực nào không? Đâu là cách đặc biệt để gìn giữ và phát huy tinh thần dâng hiến của tôi, bây giờ và trong tương lai?

 

2) Tinh Thần Trách Nhiệm

Tôi chu toàn bổn phận vì Chúa và vì muốn đời sống ơn gọi được chắc chắn hơn hay chỉ vì luật, vì ý bề trên, hay vì lòng tự trọng với chị em trong cộng đoàn? Phương pháp học của tôi là gì? Tôi học tất cả các môn hay chỉ học những môn ưa thích? Cách tôi học ở lớp, ở nhà là gì? Cách tôi làm bài thi và đọc sách  thế nào? Tôi tận dụng tối đa thời gian hay lãng phí nó? Quan điểm của tôi về luật lệ là gì? Tôi thường hay vi phạm điều nào? Công tác của tôi trong tu viện là gì và đâu là cách tôi thi hành công tác ấy? 

 

3) Tinh Thần Đời Sống Thiêng Liêng 

Tôi có tin rằng đời sống thiêng liêng là tối quan trọng đối với người sống đời thánh hiến không? Tình trạng hiện nay về đời sống thiêng liêng của tôi là gì và đâu là những cố gắng? Tôi có thói quen dâng ngày mới cho Chúa không? Đời sống cầu nguyện của tôi thế nào? Tôi có cầu nguyện đều đặn trong những kỳ nghỉ không? Tôi tham dự thánh lễ, chuẩn bị rước lễ và cám ơn sau rước lễ thế nào? Tôi có nhận thấy rõ Thánh Thể là trung tâm đời sống của mọi Kitô hữu, nhất là của những người sống đời thánh hiến không? Tôi có tập đọc sách thiêng liêng, nhất là Thánh Kinh cách đều đặn không? Tôi có viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, thường xuyên xét mình để chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận Bí tích Hoà giải không? Lòng sùng kính Đức Mẹ của tôi thế nào: có lần chuỗi, suy niệm và bắt chước Mẹ không? Vai trò của Đức Mẹ trong đời sống ơn gọi của tôi là gì? Mối liên hệ của tôi với các thánh và các linh hồn là gì?

 

4) Tinh Thần Đức Tin 

Cách tôi nhìn các sự kiện trong đời sống tôi và trong xã hội là gì? Tôi có nhìn mọi việc với tinh thần đức tin không? Tôi có thường phải đối diện với những cám dỗ về đức tin không: mức độ thế nào và phản ứng của tôi làm sao? Những thái độ sống đức tin của tôi: trong nhà thờ, trong khi cử hành phụng vụ, khi cầu nguyện trong lớp học là gì?

 

5) Tinh Thần Cộng Tác 

Tôi cảm thấy dễ hay khó khi quan hệ với mọi người bằng sự cởi mở, đối thoại, trợ giúp và hợp tác? Tại sao? Đâu là những cố gắng phải vượt qua? Đời sống chung và tình bạn hữu của tôi thế nào: thiện cảm hay ác cảm? Tương quan với bề trên, với vị linh hướng và với các nhà đào tạo khác: có dễ dàng tiếp xúc và cởi mở đón nhận những gợi ý của các ngài với lòng biết ơn không? Tôi có biết rằng tinh thần cộng đoàn và cộng tác là yếu tố cần thiết trong việc gìn giữ và xây dựng đời sống thánh hiến không?

 

6) Tinh Thần Vâng Phục 

Tôi có suy nghĩ gì về tự do, về quyền bính và  vâng phục trong Hội Thánh? Tôi vâng lời cha mẹ và anh chị em thế nào? Và sự vâng phục của tôi đối với các bề trên, các nhà đào tạo ra sao? Tôi không hài lòng với họ về điểm nào? Tôi làm sao để khắc phục vượt qua, tìm thánh ý Chúa trong các ngài, nhận ra tình thương của các ngài, và thông cảm các giới hạn và trách nhiệm của các ngài?

 

7) Tinh Thần Nghèo Khó

Quan niệm của tôi về nghèo khó là gì? Tôi có tập và sống khó nghèo không? Tình trạng kinh tế của tôi: giàu có, dư dật, đầy đủ hay thiếu thốn, túng bấn? Cách tôi kiếm tiền và tiêu tiền là g? Tôi có tính sổ hàng tháng, hàng năm không? Tôi có thích dùng những đồ sang trọng không? Tôi có tuân giữ trọn vẹn Luật Dòng về  đức khó nghèo không? Tôi có coi của chung như của riêng mình không?

 

8) Tinh Thần Thanh Khiết

Tôi có tôn trọng và hiểu rằng sự trong sạch trong đời sống tu sĩ là một hiến tế, từ bỏ chính mình, dành tình yêu cho Chúa và cho các linh hồn không? Tôi có hiểu rằng đời sống độc thân thánh hiến là khó, cần phải có ơn Chúa (đời sống cầu nguyện) và cố gắng liên lỉ (khổ chế và hy sinh) không? Tôi có tránh những dịp cám dỗ: báo chí, phim ảnh, quan hệ và những lời nói tán tỉnh không? Tôi có thường xuyên bị cám dỗ trong tư tưởng không? Cách tôi chiến đấu chống lại nó là gì, luôn thắng trận hay bại trận? Tôi có tìm ra phương pháp nào để sống trong sạch không? Tôi có suy nghĩ tích cực hay tiêu cực về giá trị đời sống độc thân thánh hiến? Quan niệm của tôi về hôn nhân, tình yêu đôi lứa và về giới tính là gì? Tôi nghĩ gì về cơn khủng khoảng hiện nay của một số linh mục, tu sĩ?  

    

9) Tinh Thần Phụng Vụ

Tinh thần phụng vụ lúc này của tôi thế nào? Tôi có ý thức rằng phụng vụ, nhất là Phụng vụ Thánh Thể là trung tâm đời sống của Hội Thánh và của những người sống đời thánh hiến không? Tôi tham dự thánh lễ và các bí tích khác thế nào? Tôi có khao khát và cố gắng tham dự vào các hoạt động phụng vụ: Kinh nhật tụng, chầu Thánh Thể, tập thánh ca, lo hoa nến, vệ sinh nhà thờ và cầu nguyện hằng ngày?  

 

10) Tinh thần Mục Vụ

Tôi có ý thức rằng công tác mục vụ là nhiệm vụ hàng đầu trong sứ vụ dưỡng giáo và truyền giáo không? Tôi có tập trung tất cả những công việc hiện tại của mình để chuẩn bị cho các công tác mục vụ tương lai không? Tôi đã chuẩn bị cho việc dạy giáo lý và giúp sống Lời Chúa thế nào? Tôi có thăm viếng các gia đình, nhất là thăm những người nghèo khó và đau yếu không? Tôi có thể sống đúng mực và làm việc có trách nhiệm với những người già cả, trẻ em không? Hướng mục vụ của tôi được gợi hứng từ tinh thần của công đồng Vatican II là gì? Điều gì tôi thích: nhận nhiệm vụ nơi thôn quê hay chốn đô thị? Tôi có nhận định gì về đời sống mục vụ của các tu sĩ hiện nay: ưu điểm và khuyết điểm, mặt tích cực và mặt tiêu cực?

 

11) Tinh Thần Lao Động Chân Tay 

Tôi có ý thức giá trị của lao động chân tay không? Hay tôi bị miễn cưỡng làm việc? Tinh thần lao động của tôi là gì khi tôi tham gia vào các hoạt động lao động chân tay trong cộng đoàn để sống và làm việc tông đồ? Tôi có nhận ra ý nghĩa đào tạo thiêng liêng qua các việc lao động chân tay không? Phát triển đời sống nhân đức làm cho lúa tốt, hoa đẹp? Loại trừ tận gốc các tật xấu như nhổ hết rễ cỏ dại? v.v… 

 

BẢNG ỨNG SINH TỰ KIỂM 

1. Bảo Vệ Đời Sống Thiêng Liêng & Ơn Gọi

 

a.      Diệt Trừ Tội Lỗi Nhờ Bí Tích Giải Tội

- Tuyệt đối tránh tội trọng vì nó giết chết "sự sống siêu nhiên." Cố gắng tránh những tội nhẹ cố tình vì nó làm suy yếu "sự sống siêu nhiên", và có nguy cơ dẫn đến tội trọng.

 

- Không những nên biết và thú nhận những tội mình đã phạm, mà còn phải biết tại sao mình phạm những tội ấy và chọn những phương cách thích nghi và hữu hiệu có thể giúp ta tránh.  

Ví dụ: Thay vì thú nhận “thưa cha, con có lỗi đức chân thành vài lần,” hãy xác định trường hợp nào, vì lý do gì chị đã nói dối, chẳng hạn “con có nói láo vì khoe khoang, vì sợ bị hạ nhục, vì có ý đưa mình lên trên kẻ khác.”  

Hay ví dụ khác: “con có lỗi đức bác ái,” phải xác định “con lỗi bác ái, không phải là một việc thông thường, mà lỗi này phát sinh từ một ác cảm, một ghen tức hay một oán thù, có ý thức, nhưng con vẫn cố tình chiều theo.”  

- Nhờ việc linh hướng, chúng ta sẽ có cơ hội thuận lợi để tìm ra các nguyên nhân tội lỗi, và có như thế chúng ta mới có thể chữa trị tận gốc, ngõ hầu đi xa hơn và vững hơn trong đường lối của Chúa, tức là trở nên con người mới, con người thuộc về Chúa Kitô mỗi ngày một thành toàn hơn trong các mối tương quan với Chúa, với tha nhân và với bản thân.

 

b. Diệt trừ Tính xấu chủ đạo

và Thực tập Nhân đức ngược lại

- Con người thật của ta có những tính tốt, mà cũng có nhiều khuynh hướng và tập quán xấu.  

- Muốn bài trừ tận tuyệt tính xấu, ta phải luyện tập nhân đức đối lập. Thí dụ: người nóng tính cần luyện tập nhân đức hiền lành, người nhút nhát phải tập đức can đảm, người ham muốn sắc dục phải tập đức khiết tịnh…. 

- Ghi ra các tính xấu hay mắc phải để cố gắng tìm ra nguyên nhân hay tìm ra tính xấu chủ đạo là tính xấu mạnh nhất (thường ẩn kín, nhưng điều động những tính xấu khác).

- Về nhân đức cần thực tập, cần có những nghiên cứu thêm, tìm hiểu sâu xa nhân đức này để biết và yêu mến, đồng thời tìm ra những phương thế cụ thể trong luyện tập.

 

c. Độc thân khiết tịnh (Trưởng thành nhân bản:

ứng xử, tình cảm và giới tính)

- Trong thế giới đề cao sự "hưởng thụ" hôm nay, "độc thân khiết tịnh" đang là một thách đố thật lớn.  

- Về vấn đề này, vị linh hướng hay cha giải tội là một người hướng dẫn, một người bạn thật quí giá. Hãy tin tưởng, trình bày và bàn hỏi với ngài ngay từ lúc đầu khi ta "cảm thấy có vấn đề". Đừng để đến khi "quá trễ" rồi mới trình bày.

 

- Các vấn đề nổi cộm hiện nay: Lạm dụng tình dục, “sinh viên tầm gửi”, đồng tính luyến ái, thủ dâm…

 

      2. Tăng Trưởng Đời Sống Thiêng Liêng 

a. Dâng ngày, Thánh lễ, Chuỗi Mân Côi

- Chọn ý hướng dâng ngày cụ thể: mỗi ngày hoặc mỗi tuần một ý hướng. 

- Ghi lại những khám phá thêm qua học hỏi, qua gương sáng, qua những cảm nhận được về Thánh lễ (ví dụ: về một lời nào đó trong Phụng vụ Lời Chúa, trong Kinh Nguyện Thánh Thể, về việc chuẩn bị dâng thánh lễ hay cám ơn sau rước lễ…) 

- Chọn cho mình một cách lần chuỗi Mân Côi (những ý chỉ cầu nguyện, tìm những tài liệu hướng dẫn…) 

- Coi việc sống Mầu Nhiệm Thánh Thể và sùng kính Mẹ Maria là phương thế nâng đỡ và bảo đảm trung thành cho đời sống thánh hiến.

b. Sách Đạo Đức – Thiêng Liêng

- Trao đổi với vị linh hướng để có sách thiêng liêng thích hợp mà đọc.

- Ghi lại tên sách - tác giả - chủ đề đã đọc trong tháng.

- Ghi tóm tắt những cảm nghĩ, những khám phá giúp ích cho đời sống thiêng liêng… 

- Đừng quan niệm môn Tu đức như đứng tách biệt với các môn học khác. Để nuôi dưỡng đời sống nội tâm và lớn lên trong đời sống thiêng liêng, ứng sinh phải được giúp cầu nguyện và chiêm ngắm trong và qua các môn học.

 

c. Xét mình, Nhật ký, Tĩnh tâm

- “Hãy tự biết mình” – “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.”  Muốn thế, cần có sự xét mình mỗi ngày.   

- Trung thành như thế nào? Chị đã dùng cách nào đề xét mình? Để viết nhật ký đạo đức ? 

- Những khó khăn trong khi xét mình, khi viết nhật ký đạo đức, khi tĩnh tâm? Những ích lợi mà mình nhận ra.

 

d. Nguyện gẫm

- Mỗi người chọn cho mình một cách nguyện gẫm thích hợp.

- Cách của Xuân Bích có ba thì căn bản: Đặt Chúa Giêsu ở trước mắt, đặt Chúa Giêsu trong con tim và đặt Chúa Giêsu trên bàn tay. 

- Tập viết lại bài nguyện gẫm đã thực hiện, theo phương pháp mà mình đã chọn, để đọc lại hầu nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và trao đổi với vị Linh hướng. 

- Ghi lại những tiến bộ hoặc khó khăn đang gặp đối với việc nguyện gẫm.

 

e. Viếng Thánh Thể

- Mầu nhiệm Thánh Thể là nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ.

- Tập sống thân mật với Chúa Giêsu Thánh Thể, năng viếng Mình Thánh Chúa.

- Chương trình dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể (lúc nào? đã làm thế nào?)

- Viết lại tóm tắt những cảm nhận đối với Chúa Giêsu Thánh Thể.

 

f. Đời sống bác ái huynh đệ

- "Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo" (Col. 3,14).

 

- Sự thánh thiện được hiểu trong bối cảnh các mối tương quan: Cuộc sống chung tốt đẹp cần những yêu tố nào? Cuộc sống chung nặng nề do những nguyên nhân nào?

 

- Việc bác ái là một phương thế hữu hiệu giúp "tăng trưởng đời sống thiêng liêng" 

- Có những quyết tâm làm những việc bác ái cụ thể.

 

g. Kỷ Luật Dòng

- “Ai tuân giữ kỷ luật, kỷ luật sẽ gìn giữ người đó.” 

- Ghi lại những điểm nào về kỷ luật mà mình cảm thấy khó giữ và cho biết nguyên nhân khó khăn ? 

- Ghi lại những kinh nghiệm cụ thể về những điểm kỷ luật đã thực hiện tốt ?

h. Hướng dẫn của Chúa (những cảm nhận riêng)

- Chúa Thánh Thần luôn họat động: Ngài sẽ nhắc các con mọi điều Thầy đã dạy các con; Ngài sẽ dạy các con phải nói gì và nói thế nào, và Ngài sẽ nói thay cho các con nữa… 

- Ghi lại những điều khám phá, những điều đánh động mình một các đặc biệt (một gương sáng, một câu Phúc âm…)

 

      3. Thao Thức Tông Đồ 

a. Hiểu, khám phá, xác tín thêm gì  về Ơn gọi. Ước mơ gì? Chuẩn bị thế nào cho đời sống Tu sĩ?

- Khai triển “Mô Hình Người Nữ Tu Hôm Nay và Ngày Mai” để phác họa cho chính mình mẫu nữ tu mà mình sẽ thực hiện trong tương lai. 

- Nếu tôi làm nữ tu, tôi sẽ làm gì để: Dạy giáo lý.... (sứ vụ Tiên Tri); Tổ chức phụng vụ, ca đoàn, phòng thánh... (sứ vụ Tư Tế); Điều hành, hướng dẫn cộng đoàn, các đoàn thể, các công việc từ thiện xã hội... (sứ vụ Vương Đế) 

- Hiện nay tôi thấy cần phải chuẩn bị gì để trở thành một nữ tu tốt như lòng Chúa mong ước?

 

b. Vấn Đề Cần Trao Đổi

Chủ động nêu ra các thắc mắc hay vấn đề gì muốn tìm hiểu thêm, muốn bàn hỏi thêm. 

 

      VIII. TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG

            ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI TUYÊN KHẤN

 

Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ…” ( 1 Tm 3: 10) 

Cũng như đào tạo linh mục, việc đào tạo tu sĩ cũng theo  tiến trình bốn chiều kích căn bản: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Việc đào tạo này nhằm giúp ứng sinh trưởng thành và cung cấp một đánh giá xác thực và hữu ích cho việc Bề trên gọi ứng sinh tuyên khấn.  

Mục đích của việc Bề Trên và ban đào tạo nhận xét hàng năm là để giúp ứng sinh tự suy nghĩ và đánh giá, nhờ đó, trong cái nhìn xác thực về đời mình, chị có thể thấy những gì cần phải thay đổi và lên kế hoạch cụ thể để việc thay đổi ấy được hiệu quả.  

Đức Gioan Phaolô II đề cao: “Tính thích hợp của ứng sinh, trên hết, nhắm đến tinh thần cầu nguyện, sự thấm nhuần sâu xa giáo lý đức tin, khả năng sống tình huynh đệ và đặc sủng sống độc thân thánh hiến. 

Vì thế, bên cạnh các nhận xét của ban đào tạo, người ta cũng mong muốn có sự tham khảo các bạn đồng môn, và những người ứng sinh thi hành sứ vụ (tham khảo thôi, chứ không có giá trị quyết định).  

Mọi người phải tôn trọng chặt chẽ phận vụ của toà trong và toà ngoài. Các giá trị và kỹ năng đánh giá dựa trên giáo huấn của Hội Thánh và dựa trên đặc sủng, linh đạo, hiếp pháp của Hội Dòng.  

Hội đồng Dòng và tất cả các nhà đào tạo cố gắng hiểu biết đầy đủ về từng ứng sinh để giáo dục chị và giúp chị phát huy nỗ lực tự đào tạo của chị.  

Các ngài góp phần vào công việc chung của Hội Dòng, bằng việc đánh giá cuối cùng và giới thiệu ứng sinh lên tuyên khấn.  

            Việc đánh giá này nhấn mạnh những lãnh vực chủ yếu:

-          Trưởng thành nhân bản;

-          Đời sống cộng đoàn và những kỹ năng tương tác liên nhân vị;

-          Trưởng thành thiêng liêng được diễn tả bởi cam kết dấn thân cầu nguyện và sống mật thiết với Chúa Kitô, siêng năng lãnh nhận các bí tích;

-          Hiểu biết đầy đủ về đời tu và chấp nhận giáo huấn của Hội Thánh về đức tin và luân lý;

-          Hiểu biết đầy đủ và sống đặc sủng, linh đạo và hiến pháp của Hội Dòng;

-          Sẵn sàng nắm giữ đời sống độc thân thánh hiến qua ba lời khấn Dòng (Vâng phục, Khó nghèo, Thanh khiết);

-          Sẵn sàng chấp nhận cuộc sống bất định của kẻ được sai đi (tới nơi không muốn, ở với người không ưa và làm việc không thích);

-          Sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm tiếp tục được đào tạo và tự đào tạo;

-          v.v... 

“Khoa tâm lý giáo dục đương thời cung cấp nhiều kỹ thuật để đánh giá cách thích hợp hơn sự phát triển thực sự của ứng sinh.”  

Vì bí mật của việc linh hướng, vị linh hướng bị ràng buộc bởi toà trong và do đó, không được bàn cải khi đánh giá và nhận xét về tính thích hợp của ứng sinh trong việc tuyên khấn.  

Còn các vị khác đã tương tác làm việc với ứng sinh cách công cộng và ở toà ngoài nên bị đòi buộc tham dự tiến trình đánh giá này: không những cho biết thái độ ứng xử bên ngoài của ứng sinh (những gì chị nói và làm, cũng như đạt được những kiến thức đòi hỏi), mà còn đánh giá tính thích hợp của việc chị tuyên khấn, vì đó là trách nhiệm đã được trao phó cho các ngài.  

Như “những thừa tác viên hợp luật của Hội Thánh được trao trách nhiệm phán đoán tính thích hợp của các ứng sinh,” Bề Trên và Ban đào tạo bỏ phiếu trong buổi đánh giá cuối cùng. Phiếu bầu có nhiều loại: khẳng định, khẳng định có ghi chú, tiêu cực và loại.  

Loại “khẳng định có ghi chú” có nghĩa là còn có khiếm khuyết cần phải sửa chữa và trau dồi thêm, nghĩa là bị dừng lại chưa cho khấn. Nếu là phiếu loại thì nên giải thích đầy đủ. 

Nên nhắm giáo dục hơn là loại bỏ: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Giáo dục nhắm biến đổi người xấu thành người tốt và người tốt thành người tốt hơn, phó thác cho quyền năng của ơn Chúa. Đối với con người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể. 

Các ứng sinh cũng phải được biết về những lầm lỗi của mình, đặc biệt là những lầm lỗi quan trọng; được phép giải thích và biện hộ lý do của mình (x.Cv 25,16); cũng cần có thời gian và cơ hội để thực hiện sự hoán cải cần thiết.  

Đây là mệnh lệnh của Tin Mừng đối với việc tha thứ và biến đổi. Điều mà tổ tiên người Việt Nam quan tâm là “làm người, không ai thoát khỏi lầm lỗi; có lầm lỗi thì phải sửa mình; và khi đã sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa.” 

Tin Mừng chứng tỏ nhiều tội nhân trở thành thánh nhân nhờ sự trợ giúp quyền năng của ân sủng Thiên Chúa (Ga 8,7). Đây là tình yêu thương xót của Chúa (Mt 9,12-13).   

Trên thực tế, những người đã hoán cải mà có lòng khiêm tốn còn tốt hơn những ai không hề có lỗi lầm nào đáng kể, mà mắc phải chứng kiêu hãnh và tự phụ.  

Mọi nỗ lực và sự quan tâm đặc biệt đối với việc đào tạo là nhằm cung cấp cho các ứng sinh những phương tiện để biện phân ơn gọi của mình, để họ thu thập được kiến thức, thái độ và những kỹ năng cần thiết cho một tu sĩ tốt, trong niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ hoàn tất công việc quan trọng này của Hội Thánh bằng những ơn huệ của Chúa Thánh Thần. 

Nhưng trong cảm thức cộng đoàn, người ta không dừng lại ở đó, mà còn quan tâm đến các khuynh hướng đặc biệt, những khả năng và đức tính của ứng sinh nữa, ngõ hầu giúp Bề Trên “dùng” và bổ nhiệm chị phù hợp với các ân huệ Chúa ban cho chị và các nhu cầu của Hội Dòng.  

Ban đào tạo cũng có thể gợi ý và đề nghị cho phép một số ứng sinh đẩy xa việc học hơn nữa hầu có thể cống hiến cho Dòng và Giáo Hội những nhà đào tạo tương lai bén nhạy với các nhu cầu thiêng liêng hiện nay, bởi vì không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà đào tạo, nhất là linh hướng. 

Đây là sự chuẩn bị các người kế vị thích hợp của Hội Dòng. Vì sự sống còn và phát triển Hội Dòng, Bề Trên nên chọn những nữ tu ưu tú để được huấn luyện thành các nhà đào tạo tương lai. Ai được chọn thì phải sẵn sàng “trả lại” cả vốn lẫn lãi nén bạc Chúa đã trao cho. 

 

         IX. TrẮc NghiỆm Tâm Lý

               và Phân ĐỊnh Ơn GỌI 

1.      Đông Lực và Những Giới Hạn   

Vì ảnh hưởng của lối sống buông thả luân lý và hưởng thụ khoái lạc, cùng những gương xấu và hậu quả tai hại của lạm dụng tình dục, nhiều người đòi hỏi các ứng sinh ơn gọi phải trải qua những trắc nghiệm tâm lý và tính dục.  

Đối với tâm thức của người Việt Nam vốn rất dè dặt, nhất là trong lãnh vực giới tính, việc này rất tế nhị và có nguy cơ tai hại là làm cho người ta bị cám dỗ nói dối, và nếu đã nói dối một lần, họ sẽ có cớ mạnh để tiếp tục nói dối nữa.  

Vì thế, những trắc nghiệm tâm lý nên chỉ được sử dụng giới hạn thôi, và không được dùng để điều tra lai lịch, moi móc những bí mật sâu kín, hầu đánh giá tính thích hợp toàn diện của ơn gọi ứng sinh. 

Tuy nhiên, trắc nghiệm tâm lý ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời vẫn là hữu ích: khả năng và thái độ của ứng sinh có thể được kiểm tra và bất cứ khuyết điểm hay yếu kém tâm lý nào cũng có thể được chữa lành nhờ chữa trị hay tham vấn tâm lý.  

Nhưng nhà chuyên môn chỉ được phép tìm kiếm và tường trình về những gì mà chính ứng sinh không biết hay không thể diễn tả và giải thích được.

Hơn thế nữa, theo Đức Gioan Phaolô II, chúng ta phải quan tâm tới việc đào tạo các chuyên gia tâm lý: ngoài trình độ khoa học cao, họ còn cần có sự hiểu biết đến nơi đến chốn quan điểm Kitô giáo về đời sống và ơn gọi tu trì nữa, hầu cung ứng sự trợ giúp hữu hiệu cho việc hội nhập cần thiết của các chiều kích nhân bản và siêu nhiên. 

Đồng ý với quan điểm của Đức Thánh Cha, tiến sĩ Rick Fitzgibbons, chuyên gia tâm thần đề nghị rằng các chuyên gia tâm lý và tâm thần dấn thân cho nhiệm vụ quan trọng đặc biệt là đánh giá các ứng sinh phải tham dự các chương trình đào tạo trung thành với giáo huấn của Hội Thánh về luân lý tính dục.

 

2. Tiến Trình  

Cơ sở đào tạo sẽ cung ứng cho ứng sinh việc tham vấn cá nhân với một chuyên gia tâm lý/tâm thần. Cuộc đối thoại phải được giữ riêng tư và bí mật. Mỗi cá nhân được tự do gặp chuyên gia tâm lý/tâm thần khi nào tùy ý muốn.   

Khuôn khổ căn bản của việc tư vấn là một mô hình trị liệu ngắn, trong đó các kỹ thuật trị liệu tập trung vào các đề tài nổi cộm và những xung đột đã biết.

    Mục đích là làm cho ứng sinh được tư vấn có khả năng gia tăng các phương tiện có sẵn của mình để hiểu rõ và giải quyết xung đột, đồng thời giúp ứng sinh trở thành người trị liệu cho chính mình, nghĩa là giúp đương sự hội nhập các phương diện của câu chuyện đời, nhân cách và tâm linh của đương sự.  

Thỉnh thoảng có những thiếu cân bằng hoá học khiến các cá nhân trải nghiệm sự chán nản và những chán nản này cần được chẩn đoán và chữa trị. Cũng tương tự như thế với một số tình trạng băn khoăn lo lắng. 

Phải hiểu vai trò chuyên gia tâm lý/tâm thần là trợ giúp ứng sinh hiểu biết toàn diện hơn về nhân cách của mình. Do đó, ứng sinh hoàn toàn tín nhiệm chọn tư vấn với chuyên gia tâm lý/tâm thần được nhà đào tạo đề nghị. 

Sự tín nhiệm này vẫn còn nguyên vẹn, ngay cả khi nhà đào tạo đề nghị một tư vấn như thế nhằm cho ứng sinh trưởng thành ở mức độ sâu hơn.

 

3. Trắc Nghiệm Tâm Lý Trong Việc Tuyển Lựa và Đào Tạo Ứng Sinh 

Theo bà Gladys A. Sweeney, có những ứng sinh xác tín rằng mình có ơn gọi, nhưng động lực ơn gọi ấy đôi khi đến từ một ước muốn vô thức muốn tránh đời sống vợ chồng hoặc muốn chạy trốn những mối tương quan liên nhân vị. Khoa tâm lý giúp làm sáng tỏ các trở ngại này, và như thế giúp ích rất lớn, không những cho Giáo Hội mà còn cho chính ứng sinh nữa.  

Việc sử dụng các phương tiện tâm lý và những cuộc phỏng vấn chẩn đoán làm cho người ta có thể thấy được chướng ngại mang bản chất tâm thần, tình cảm hay cơ chế thể lý đang ngăn cản ứng sinh tự do quyết định về ơn gọi của mình, trong khi đó ơn gọi phải là một quyết định hoàn toàn tự do dựa trên tình yêu.  

Việc đào tạo ứng sinh là một công cuộc lâu dài đòi hỏi một mức độ tự xem xét nội tâm và kiểm tra mạnh mẽ về chính bản thân. Trong thời kỳ đào tạo có thể xuất hiện các hiện tượng tâm lý kiểu như nỗi thống khổ, sự lo âu, những lúc căng thẳng, và chúng sẽ được dọn dẹp sáng sủa nhờ việc linh hướng. Cũng có những trường hợp phải kêu gọi đến sự giúp đỡ của các khoa học tâm lý. Trong trường hợp này, việc tham khảo một chuyên gia tâm lý có thể cứu vãn được ơn gọi. 

Một chuyên gia tâm lý có phẩm chất tốt là một nhà tâm lý học biết thấu đáo về những phát minh mới nhất của khoa học, đồng thời phải hiểu rõ viễn ảnh toàn tiện của chiều kích siêu nhiên của ơn gọi.  

Có thể rằng những thời kỳ lo âu hay chán nản không phải là phản ánh của tình trạng rối loạn chức năng tâm lý, nhưng đó là biểu hiện của giai đoạn nhất thời của đời sống thiêng liêng, như “đêm tối của linh hồn.” Trong trường hợp này, một khi giai đoạn ấy kết thúc, đương sự sẽ ở trong mức độ đời sống thiêng liêng cao hơn.  

Nếu một chuyên gia tâm lý không hiểu biết gì về những phương diện siêu nhiên của ơn gọi, mà chỉ thấy đó là những rối loạn chức năng tâm lý, thì chuyên gia tâm lý ấy đã làm điều xấu hơn điều tốt, vì đã cản trở sự phát triển đời sống thiêng liêng của ứng sinh. Trái lại, nếu đó chỉ là một vấn đề tâm lý thì thật là sai lầm khi coi nó như một vấn đề thiêng liêng. Vì thế, các chuyên gia tâm lý được đào tạo kỹ lưỡng về trình độ tri thức và thiêng liêng có thể giúp ích rất nhiều, không những trong việc tuyển chọn mà còn đào tạo ứng sinh nữa.  

Một cái nhìn toàn diện về con người là một cái nhìn bao gồm mọi khía cạnh: tâm lý, thiêng liêng và luân lý. Những ai có vấn đề về tâm lý thường có khuynh hướng quyết định một cách thiếu khôn ngoan, đi ngược với bản tính nhân loại, và đôi khi còn theo cách vô luân nữa.   

Trong trường hợp này, khoa tâm lý học phải can thiệp để giải thoát ý chí hầu ứng sinh có thể thấy được các trạng huống cách khách quan, phân biệt cách khôn ngoan việc phải làm và làm trong đường lối luân lý và nhân đức. Bấy giờ, khoa tâm lý phục vụ sự thật, và giúp “uốn cho ngay đường của Chúa” hầu con người biết chọn điều thiện.

 

4. Liên Quan Đến Độc Thân Thánh Hiến

 

Cần phải cẩn trọng và khôn ngoan giải thích cách đầy đủ cho ứng sinh biết đời sống tu trì và độc thân thánh hiến đích thực là gì, để ứng sinh hiểu được mục đích của việc đào tạo và cộng tác cách tốt hơn với Chúa Thánh Thần qua vị linh hướng.  

Ngay trước khi tuyên khấn hay chịu chức, ứng viên đã phải hiểu đầy đủ và phát triển cách thích hợp động lực tình cảm, tình yêu trưởng thành và nồng nhiệt cho Đức Giêsu, hy vọng sống động vì Nước trời, và lòng nhiệt thành hăng hái giúp tha nhân vào Nước Trời.  

Ứng sinh phải tiết dục hoàn toàn và sống đức thanh khiết cách bình an, không bị dục vọng thiêu đốt, nhờ đó sẽ được chắc chắn về mặt luân lý trước lời hứa sống độc thân thánh hiến của mình.  

Với một đời sống thiêng liêng trưởng thành, ứng sinh sẽ thấy đời sống độc thân thánh hiến là quà tặng thiêng liêng của Chúa vì phần rỗi của loài người hơn là một gánh nặng. Do đó, chủ đề giới tính là nhu cầu khẩn cấp trong chương trình đào tạo nhân bản và thiêng liêng cho ứng sinh.  

Theo những khám phá mới đây của John Jay College of Criminal Justice thì cơn khủng hoảng trong Giáo Hội là đồng tính luyến ái (phần lớn các nạn nhân không phải là trẻ em).  

Nỗi cô đơn và thiếu sự tự tín là nguyên nhân của sự hấp dẫn đồng giới. Nhưng các hấp dẫn này được giải quyết với sự trợ giúp của Chúa. Đức thanh khiết nên được trình bày như một đường lối lành mạnh của cuộc sống. Hỏi ứng sinh xem họ thích người khác giới hay đồng giới thôi thì chưa đủ. Phải giúp ứng sinh nỗ lực đối mặt và giải quyết các xung đột tình cảm của y  nhờ tâm lý trị liệu và linh hướng.  

Những ứng sinh có các hấp dẫn đồng tính phải trải qua tư vấn và trị liệu tâm lý, và chỉ những ai đã hoàn toàn trị liệu thành công mới được phép tiếp tục. Ứng sinh ấy sẽ không được khấn hay chịu chức, cho đến khi các xung đột này được chữa lành và không còn bị coi là đồng tính luyến ái (x. Huấn Thị của Bộ Giáo Dục Công Giáo về đồng tính luyến ái ngày 04-11-2005). 

Trong lãnh vực này, các nhà đào tạo có một chương trình rộng lớn và thách thức để phát triển, nhất là làm gương sáng. Gương sáng hiệu quả hơn các thuyết giảng của họ: Ở đâu sự độc thân thánh hiến được sống cách sung mãn và vui tươi, ở đó đời sống thiêng liêng sẽ được sống cách cao độ. 

Phải dạy ứng sinh hiểu được ý nghĩa đích thực của đời độc thân thánh hiến và hiểu lý do tại sao Hội Thánh đòi hỏi phải sống độc thân thánh hiến, đồng thời phải học tận dụng các phương tiện nhân bản và siêu nhiên để sống cam kết này cách vui tươi. 

Những mối tương quan lành mạnh với cả hai giới làm nên một phần quan trọng trong việc giáo dục và phân định liên quan đến đời sống độc thân thánh hiến. Các nhà đào tạo đóng vai trò chìa khóa trong việc đào tạo đời sống độc thân thánh hiến. Chính họ phải hội nhập tốt lãnh vực giới tính và đời sống độc thân thánh hiến.  

Đời sống độc thân thánh hiến gắn liền với các nhân đức Phúc âm khác là khó nghèo và vâng phục. Vì thế, đào tạo sống đời độc thân thánh hiến phải đi đôi với đào tạo sống giản dị và vâng lời có trách nhiệm.  

Chúng ta có thể kết luận với Đức Gioan Phaolô II: “Bảo đảm tốt nhất của đời sống độc thân nằm ở việc đào tạo đúng đắn và quân bình cho các ứng sinh. Họ được mời gọi tha thiết nắm giữ, với vui mừng và quảng đại, một lối sống khiêm nhường, giản dị và thanh khiết, vốn là nền tảng thực hành của đời sống độc thân thánh hiến của Hội Thánh” (John Paul II, “On Psychology and Candidates for the Priesthood”: Speech to Session of Congregation for Catholic Education” February 21, 2002)

(slideshow DẪU CON LÀ AI)

 

 

        X. Ứng Sinh Không Thích HỢp

(Hát CHÚA CẤT TIẾNG GỌI CON)

 

Trong việc biện phân ơn gọi của một ứng sinh, phải phân biệt hai yếu tố: - Ước muốn - và sự thích hợp.

 

Lòng ước muốn thuộc bình diện tình cảm, trong khi sự thích hợp đòi hỏi phẩm chất và khả năng. Một thiếu nữ có thể rất muốn trở thành nữ tu, nhưng chị lại không đủ phẩm chất và khả năng khiến chị có thể làm một nữ tu xứng đáng. Vì thế, toà ngoài phải phán đoán tính thích hợp này, ngõ hầu đón nhận hay từ chối một ứng sinh.

 

Còn ở toà trong, lòng ước muốn phải được vị linh hướng xét xem có phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh Thần không. Việc này giao phó ứng sinh cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, và sự tiếp nhận lắng nghe những gì được nói với chị ở toà ngoài. Toà ngoài cũng phải tìm biết những dấu chỉ của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của ứng sinh.

Ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, thì nên nhanh chóng đưa chị  ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.  

Tuy nhiên, người ta sẽ cho ứng sinh không thích hợp ra đi một cách tôn trọng, bằng cách nhấn mạnh về sự không thích hợp với đời sống thánh hiến hơn là những khiếm khuyết hay lỗi lầm, làm tổn thương nhân phẩm và danh dự của họ. Các cựu ứng sinh nầy cũng là kho tàng của Nhà Dòng, họ sẽ hỗ trợ Nhà Dòng  phát triển, cộng tác vào công cuộc đào tạo các ứng sinh cách này hay cách khác.  

Không phải tất cả những ai vào Dòng đều nhất thiết trở thành nữ tu: “Gọi thì nhiều, nhưng chọn thì ít. Người ta phải gợi ý cho chị một thực hiện mới, trong niềm tin tưởng rằng Chúa sẽ dùng chị cách tốt đẹp cho lợi ích của Giáo Hội, đền đáp những gì chị đã lãnh nhận từ Chúa và Giáo Hội của Ngài, qua những năm tháng được đào tạo trong Dòng. Hãy tạo cơ hội cho họ góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, về nhân lực cũng như vật lực.

 

Vậy vấn đề quan trọng là

CHỌN LỰA LÀM SAO CHO ĐÚNG?

 

            Trong bất cứ chọn lựa nào cho suốt cuộc đời, chúng ta phải làm nổi bật hai yếu tố quan trọng THÍCH và HỢP. Thích là ý muốn chủ quan nói lên hứng thú và nguyện vọng, ước mơ. Hợp là yêu cầu khách quan đòi hỏi năng lực và phẩm chất, để có thể theo đuổi suốt cuộc đời lựa chọn hôm nay. Nhưng Thích và Hợp có những mức độ khác nhau liên quan đến chọn lựa của ta, được mô tả như sau: 

 

           

Các ô từ 1-12 biểu thị các mức độ thích và hợp, đồng thời xác định sự lựa chọn:

-          Nếu vô tình hay buộc lòng chọn các ô 1 2 3 4 5 6 và 9 thì đó là quyết định sai lầm có ảnh hưởng xấu đến tương lai cuộc đời.

-          Nếu phải chấp nhận số 7 và 10 thì chọn lựa đó có thể được với nỗ lực bản thân rất lớn.         

-          Chọn số 8 và 11 là chọn lựa tương đối ổn định, có khả năng hoàn thiện với cố gắng liên lĩ. Đa số ở vào trường hợp này.

-          Chọn số 12 là chọn lựa lý tưởng.

 

            Tóm lại:

            -  Nếu chỉ thích mà không hợp là không tốt, đừng chọn.

            -  Nếu chỉ hợp mà không thích thì không hay, đừng chọn.

            - Chỉ chọn cái ta thích và hợp với ta. Đó là một quyết định không lầm lẫn.

 

            Vấn đề quan trọng là xác định thế nào là thích và hợp?

            Thích thuộc lãnh vực tình cảm. Có những sở thích nhất thời, không ổn định, theo phong trào: đừng nghĩ đó là hứng thú có thật hay một khát vọng đã được tôi luyện qua nhiều năm tháng, có khả năng kích thích và thôi thúc thực hiện bền bĩ. 

            Hợp thuộc lãnh vực phẩm chất và năng lực. Cần phải biết chính mình, xem phẩm chất và năng lực của mình có phù hợp với con đường mình muốn dấn thân vào không? Tự mình có thể ngộ nhận, nên ta cần có sự giúp đỡ chuyên môn của khải đạo, linh hướng, cố vấn tâm lý, trắc nghiệm hướng nghiệp… 

 

B. KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG 

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,

Biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
Thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.

 

Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
Quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
Ẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?

Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,
Nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.
Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,
Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.

Tv 139, 1-10 

 

I. NhỮng ý niỆm KhỞi đẦu 

Đào tạo thiêng liêng là công việc của Chúa Thánh Thần và Ngài là vị linh hướng đích thực. Ngài dẫn dắt mỗi một người theo một con đường riêng biệt. Mỗi người phải tự khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần dẫn dắt mình đi.  

Người hướng dẫn phải nổ lực khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần muốn cho người thụ hướng của mình, để giúp người đó nhận ra, điều chỉnh và theo sát con đường độc đáo đó, chứ không được áp đặt con đường của mình, dù tốt đến đâu chăng nữa, nhưng không tốt và thích hợp cho người thụ hướng.  

Người ta cần có sự tín nhiệm thật sự để bộc lộ hết cho nhau. Sự tín nhiệm nầy đòi hỏi sự hợp tác của cả hai phía, với ơn Chúa, để đi vào thế giới tâm hồn của nhau. Thông thường cần có thời gian cho lòng tín nhiệm triển nở, không thể đốt giai đoạn, áp đặt hay cưỡng bách được.

 

Vậy khi người thụ hướng chưa nói hết được với vị linh hướng những gì cần thiết, phải kể như chưa nói vì chưa tín nhiệm nhau đủ, chứ không phải cố tình giấu giếm, cả hai đều phải nghĩ như vậy để được bình an tâm hồn, không bị áy náy, mặc cảm “có lỗi” che đậy dối trá. Dĩ nhiên phải khắc phục chấm dứt tình trạng nầy, nếu không thì phải thay đổi người đồng hành, hầu đạt được đúng ý nghĩa và mục đích của việc linh hướng. 

Việc linh hướng đòi hỏi một chuẩn bị nghiêm túc về phía vị linh hướng và về phía người thụ hướng nữa. Vị linh hướng sẽ rất an lòng và vui mừng làm linh hướng cho những ứng sinh chuẩn bị nghiêm túc các vấn đề căn bản hướng về chiều sâu đời thánh hiến. Nhưng lại rất ái ngại, lo âu và nặng lòng khi gặp ứng sinh có vẻ hời hợt, thiếu chuẩn bị, chỉ đề cập những cái phụ tùy cho “qua giờ” hơn là đi vào trọng tâm con đường lý tưởng.

Người nghệ sĩ chỉ dùng nguyên vật liệu có sẵn để làm nên tác phẩm nghệ thuật, chứ không sáng tạo ra được nguyên vật liệu, vốn là công việc chỉ thuộc về Đấng Tạo Hóa. Việc linh hướng quả là một nghệ thuật cao hơn nữa: vị linh hướng không lấy cái mình có, nhưng lấy cái của Chúa mà nắn đúc người thụ hướng.  

Đó là một công cuộc hợp tác hết sức quan trọng, không những giữa hai con người với nhau, mà còn giữa hai con người với Thiên Chúa. Vị linh hướng chỉ là dụng cụ của Chúa Thánh Thần: ngài hướng dẫn ứng sinh, nhưng chính ngài cũng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần và vị đồng hành thiêng liêng của ngài.  

Trong toàn bộ công cuộc đào tạo đời sống thánh hiến, thời giờ dành cho việc linh hướng không nhiều, nhưng mang tính chất quyết định tối quan trọng và đòi hỏi:

-  một mối quan tâm cao độ,

-  một tinh thần nghiêm túc,

-  một chuẩn bị kỹ lưỡng.

 

Có rất nhiều khía cạnh và vấn đề cần được đề cập đến trong tiến trình tiến ơn gọi và sống đời thánh hiến, trong đó có những vấn đề mà chính ứng sinh phải:

-  tự mình đối diện,

-  trắc nghiệm bản thân,

-  lượng lấy sức và tự giải quyết.  

Chỉ có Chúa Thánh Thần mới biết đầy đủ và có thể biến đổi một con người: “Bất cứ sự thay đổi đích thực và bền lâu nào cũng đều chỉ đến từ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trực tiếp trên mỗi người và trong mọi hoàn cảnh.”  

Nhưng đừng quên yếu tố thời gian: không ai một sớm một chiều mà nên thánh hay thành ác quỷ! Thiên Chúa luôn nhẫn nại hơn con người (x. Sách Giảng viên 3). 

Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho chúng ta vào lúc thích hợp những gì phải nói và nói thế nào (x. Mt 10,19-20). Nhưng, “một thừa tác viên hướng dẫn tốt của Chúa (ngày nay họ có thể là giáo sĩ, tu sĩ hoặc giáo dân), sẽ hướng dẫn người khác cách hữu hiệu trong hành trình thiêng liêng.”  

Nếu vị linh hướng luôn luôn “ngoan ngoãn vâng theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần,” người có thể làm việc cùng với Ngài, như các tông đồ xưa đã khẳng quyết: “Thánh Thần và chúng tôi” (Cv 15,28).

 

  II. ĐỊnh nghĩa

 

Linh hướng là nghệ thuật của mọi nghệ thuật.

Làm sao đi vào thế giới nội tâm của ứng sinh để khám phá được Chúa kêu gọi chị, từ các vấn đề thực tế đời sống của chị trong tương quan với Chúa và tha nhân? Làm sao phân định được điều Chúa nói với ứng sinh qua vị linh hướng? Làm sao giúp ứng sinh quyết định cuộc đời chị với ý thức, hiểu biết, trưởng thành và tự do nội tâm? Làm sao biết được ý Chúa cho vị linh hướng qua ứng sinh được đồng hành?  

Linh hướng là một công tác mục vụ đặc biệt nhằm:

-  giúp ứng sinh lớn lên trong tương quan với Chúa Cha,

-  cởi mở đáp lại Chúa Kitô

-  và sẵn sàng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn,

-  ngõ hầu biết phân định ơn gọi của mình

-  và chuẩn bị cho sứ vụ của mình trong Giáo Hội.  

Linh hướng là một tiến trình trưởng thành liên nhân vị, qua đó tiếng gọi của Chúa được lắng nghe và đáp lại trong đức tin.  

Linh hướng nhằm nuôi dưỡng một con tim phân định can đảm đang tìm khám phá để đạt được ý Chúa. 

Linh hướng trước hết liên hệ với sự trưởng thành toàn diện trong đức tin, trong khi đối mặt kịp thời với các vấn đề và khủng hoảng để kích thích đức tin phát triển.  

Việc linh hướng sẽ hữu hiệu khi sự trưởng thành được biểu lộ rõ nét trong sự gia tăng tình thương, lòng trung thành và trách nhiệm. 

Việc linh hướng cung cấp một bầu khí yêu thương vô điều kiện, là môi trường của bầu khí cầu nguyện. Tiên vàn đó là công việc của Chúa Thánh Thần, và vị linh hướng phải học biết làm cho dễ dàng, chứ không cản trở hoạt động của ơn thánh. 

Dù có tính cách liên nhân vị, việc linh hướng mang chiều kích cộng đồng và Giáo Hội rất cao. Nó nuôi dưỡng viễn ảnh toàn diện và cánh chung, nội tại lẫn siêu việt.

 

III. Các nguyên tẮc chung

 

Việc linh hướng thường nhắm đến những mục đích sau:

-          Giúp sống tương quan mật thiết với Chúa;

-          Giúp trực tiếp thưa chuyện với Chúa và lắng nghe những gì Ngài chỉ dạy;

-          Giúp nhận ra và sống những kinh nghiệm thực tế trong tương quan với Thiên Chúa: kinh nghiệm sống đạo đối với việc linh hướng cũng giống như thực phẩm đối với việc nấu nướng;

-          Giúp lưu tâm đáp lại tiếng Chúa mời gọi để càng ngày càng sống thân mật với Ngài hơn;

-          Giúp biết luôn đặt mình trước mặt Chúa bằng cả con người và trong suốt cuộc đời mình;

-          Giúp ý thức trách nhiệm của mình để duy trì và phát huy trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Ngài vốn là vị linh hướng đích thực;

-          Giúp tìm được con đường mà Chúa mời gọi, để chọn lựa phù hợp ý Chúa, với ý thức và tự do nội tâm.

 

Theo Đức Gioan Phaolô II, ta nên tạo ra thói quen:

-          sống thân mật với Chúa Kitô như là người bạn trong mọi chi tiết đời sống mình

-          và sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa

-          để biết cách khai tâm cho những người được trao phó cho mình coi sóc (Pastores Dabo Vobis, số 45).

 

Giai đoạn đào tạo thiêng liêng của Nhà Tập là giai đoạn chính yếu và toàn bộ. Giai đoạn này được triển nở qua việc đào sâu và sống đặc sủng - linh đạo Hội Dòng, linh hướng, đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm, thông qua việc thực hành hài hoà giữa toà ngoài và toà trong, nhằm giúp ứng sinh có đủ tự do lương tâm trong việc quyết định đời sống ơn gọi của mình.

 

Tiến trình đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp và được củng cố bằng ba cách thực hành:

-          Bề Trên có những buổi huấn đức thường kỳ và bất thường,

-          Ứng sinh luôn được đồng hành và đều đặn linh hướng riêng tư,

-          Chia sẻ và trợ giúp theo nhóm, dưới sự hướng dẫn của một nhà đào tạo.  

Trong tiến trình đào tạo này, việc linh hướng chiếm một chỗ rất quan trọng, nhằm giúp ứng sinh kinh nghiệm về Chúa và sự hiện diện của Ngài, khám phá ra đường lối Chúa kêu gọi và  chị đáp lại với tự do nội tâm, dấn thân đi theo và sống tương quan thân mật với Chúa, nhận rõ trách nhiệm của mình và phát triển nó dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  

Hầu hết các văn kiện mới đây viết về việc linh hướng đều nhấn mạnh rằng người thụ hướng phải chủ động trong quan hệ với vị linh hướng. Lịch gặp gỡ và đề tài thảo luận phải đáp ứng được với nhu cầu của người thụ hướng.  

Vị linh hướng cũng phải tích cực làm cho việc đào tạo thiêng liêng của người thụ hướng được dễ dàng. Một số linh mục dòng được mời hướng dẫn các kỳ tĩnh tâm thường niên hay các khoá phân định ơn gọi để đảm bảo một sự đánh giá khách quan về mức độ trưởng thành của các ứng sinh.  

Cuộc sống nội tâm của ứng sinh cần được cổ vũ nhờ các phương tiện thiêng liêng để thánh hoá bản thân:

-    hợp nhất với Chúa Kitô trong mọi trạng huống của cuộc sống;

-    sống nhờ hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, được cử hành trong Thánh Lễ và được sùng kính trong Nhà Tạm;

-    tự xét lương tâm hằng ngày;

-    đọc sách thiêng liêng để tìm ý Chúa nhờ tác động của Chúa Thánh Thần;

-    các dấu chỉ thời đại và các biến cố cuộc sống;

-    lòng sùng kính Trinh Nữ Maria, mẫu gương người nữ tu;

-    các cuộc tĩnh tâm và linh hướng;

-    và các dạng khẩu nguyện, tâm nguyện và suy nguyện khác.

 

IV. Ba MỐi Tương Quan KHÉP KÍN trong viỆc   linh hưỚng: Chúa Thành ThẦn - Ứng Sinh –VỊ linh hưỚng

 

Chúa Giêsu là vị linh hướng tuyệt vời:

·         Ngài nhìn nhận thực tế, nhưng không dừng lại ở thực tế, mà hướng về tương lai được biến đổi tốt đẹp hơn;

·         Tha thứ, nhưng vẫn đòi hỏi gắt gao (“tội con đã được tha, hãy đi bằng an và đừng phạm tội nữa”;

·         Anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo khốn khổ hơn trước);

·         Quên lỗi quá khứ, cư xử như với một con người mới (không có lỗi) và tin tưởng giao trách nhiệm (hãy chăn chiên của thầy, hãy đi báo với anh em là họ sẽ gặp Thầy ở Galilê), v.v…

·         Chúa Giêsu kết án tội, chứ không kết án người có tội. 

Giới biệt phái và luật sĩ nghiêm túc giữ và bảo vệ lề luật đạo đức, nhưng lại luôn chôn cứng và khóa chặt người ta trong lỗi lầm hiện tại và định kiến bất di bất dịch. Họ chỉ thấy tình trạng tội lỗi mà không thấy tình trạng được tha thứ và biến đổi; chỉ thấy tình trạng trước mà không muốn thấy tình trạng sau. 

Đời người là cả một hành trình theo ánh sao đi tìm gặp Chúa, một cuộc gặp gỡ đổi đời, lật sang trang mới: Một linh hồn vươn mình lên được sẽ nâng cả thế giới lên. 

Tất cả đều từ quan điểm: “Người xưa dạy… Còn Ta, Ta bảo…” Phúc thay ai chọn được vị linh hướng theo mô hình Chúa Giêsu! 

 

   1) Tương quan vị Linh hướng với Chúa

Vị linh hướng cần làm quen với những kinh nghiệm năng động trong đời sống thiêng liêng, để:

-          tập trung lắng nghe Chúa,

-          để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nói qua ngài vào   những lúc quyết định.

 

Với một cảm thức trực giác trong đời sống cầu nguyện:

-          ngài cảm nhận được dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời mình,

-          nhờ đó ngài sẽ là một hiện diện đem lại an tĩnh, tập trung

-          và có thể trở nên gương mẫu cho người thụ hướng.

 

Mối tương quan với Chúa giúp ngài duy trì thế quân bình của sức mạnh tâm lý và thiêng liêng cần cho việc linh hướng. Chúa có thể dùng tất cả con người của vị linh hướng để làm cho người thụ hướng tương quan với Chúa.

 

   2) Tương Quan Ứng Sinh Với Chúa

Quan niệm tiên quyết là nhận biết rằng Chúa Thánh Thần là vị linh hướng đích thực.

 

Ứng sinh được trợ giúp:

-          để lớn lên trong tự do nội tâm,

-          phát triển một mối tương quan cá nhân thân mật sâu xa với Chúa,

-          phân định và nhận ra điều gì Chúa mời gọi anh thực hiện trong hoàn cảnh đặc biệt này?

-          Vị linh hướng giúp bằng cách gọi tên những hỗ trợ và cản trở hay chướng ngại đưa tới thân mật với Chúa.  

 

   3) Tương Quan Ứng Sinh Và Vị Linh Hướng

Vai trò của vị linh hướng rất quan trọng. Mỗi ứng sinh phải có vị linh hướng riêng, được chọn trong số các nhà đào tạo nội trú trọn thời gian.  

Mối tương quan này luôn thuộc về toà trong, nghĩa là tính bí mật luôn được bảo vệ cẩn thận.  

Chúa Thánh Thần hướng dẫn mỗi người theo một đường lối rất đặc biệt. Cả vị linh hướng lẫn người thụ hướng đều phải khám phá ra đường lối ấy.

Vị linh hướng phải giúp người thụ hướng tự mình khám phá ra đường lối mà Chúa kêu gọi chị và điều chỉnh đời sống chị theo đúng ý Chúa muốn cho chị.

 

* Về phía Ứng sinh

Về phần mình, ứng sinh được mời gọi chọn cho mình một vị linh hướng, để được giúp nhìn thấy mình rõ ràng hơn, sâu xa hơn, giải thích lòng khao khát Chúa và sự trưởng thành thiêng liêng của chị trong ánh sáng đức tin.

 

Người thụ hướng sẽ kể lại lịch sử đời chị mà không phê phán, với những yếu tố:

-          những người có ảnh hưởng quan trọng trong đời chị,

-          các hoạt động chị dấn thân,

-          những nơi chốn, biến cố đặc biệt,

-          kinh nghiệm thân xác,

-          những cảm xúc tái đi tái lại,

-          những giấc mơ quan trọng,

-          những gợi hứng và những ý tưởng mới,

-          những kinh nghiệm tôn giáo và đời sống cầu nguyện.  

Chị sẽ nói cách cởi mở và thành thật, trong sự bộc lộ hổ tương, với lòng quảng đại và can đảm lắng nghe, suy gẫm trong thinh lặng bề trong lẫn bề ngoài, xác tín rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn chị qua vị linh hướng.  

Trong quá trình phân định ơn gọi, mối quan tâm của cả hai người, ứng sinh và vị linh hướng, là lợi ích của Hội Thánh. Ứng sinh không quá để tâm đến ý riêng hay ước vọng cá nhân của mình. Đúng hơn, chị tìm khám phá ý muốn của Chúa cho chị, bằng cách phân tích các khả năng và động lực của chị đối với những kỳ vọng và nhu cầu của Hội Thánh.

 

* Về phía Vị Linh Hướng

Vị linh hướng phải hiện diện và đồng cảm với người thụ hướng, trong sự bộc lộ hổ tương;

-          chăm chú lắng nghe chị với lòng kiên nhẫn, can đảm và yên lặng;

-          đón nhận câu chuyện cuộc đời chị hay chính con người của chị, cách không phê phán, định kiến hay tiên kiến;

-          hỏi những câu hỏi hỗ trợ và đối thoại:

. để khẳng định các giá trị của chị,

. để biết chị đang ở đâu trên hành trình thiêng liêng,

. ngõ hầu phân định và xác định con đường Chúa Thánh Thần dẫn dắt chị;

. cống hiến cho chị những gợi ý suy nghĩ và cầu nguyện.

 

Vị linh hướng giúp ứng sinh theo đuổi lời mời gọi trở thành môn đệ Đức Giêsu trong Giáo Hội của Ngài.  

Lời cầu nguyện và đời sống của Hội Thánh cũng là một nguồn đào tạo thiêng liêng cho ứng sinh.

 Điều kiện căn bản để thành công trong việc linh hướng là tính cởi mở và thành thật của người thụ hướng trong khi đối thoại với vị linh hướng. Người thụ hướng phải mang đến trong tương quan này sự sẵn lòng nói lên sự thật về chính mình, và một sự cởi mở khiến chị trở nên trong suốt.

 

V. TƯƠNG TÁC TÒA TRONG VÀ TÒA NGOÀI 

   1. Định Nghĩa

Người ta phân biệt toà trong như nơi phán xử lương tâm của một người và toà ngoài như toà án của cơ chế nhân loại. Trong việc biện phân ơn gọi, “toà” được quan niệm như “quyền” phê phán ơn gọi của một ứng sinh. 

Toà Trong nói về việc phán xét trong lương tâm của ứng sinh. Chị quyết định tự trình diện với Hội Thánh để trở thành một nữ tu, vì chị cảm thấy được Chúa gọi.   

Theo sự phán đoán của chính mình, chị đánh giá rằng chị có khả năng phục vụ Hội Thánh như nữ tu. Chính chị phân định ơn gọi của chị, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng. Chị phân định về thực tại khách quan của đời sống thánh hiến và thực tại chủ quan của lời mời gọi cá nhân của chị. 

Vị linh hướng đi vào trong tiến trình này bằng cách cống hiến ý kiến riêng làm sao ngài kinh nghiệm rằng ứng sinh ấy được Chúa gọi. Ngài có lý mạnh để can thiệp, nếu cảm thấy người thụ hướng đang làm một lầm lỗi nghiêm trọng.  

Toà ngoài là phê phán và quyết định của những người đào tạo hơn là của ứng sinh. Đánh giá một ứng sinh có thích hợp với đời sống thánh hiến hay không là trách nhiệm của Bề Trên và ban đào tạo. Với đánh giá cuối cùng, hội đồng Dòng sẽ quyết định cho một ứng sinh tuyên khấn hay không. 

 

2. Tiến Trình và Tương Tác Giữa Tòa Trong và Tòa Ngoài           

* Khác Biệt Nhưng Bổ Túc Cho Nhau

Điều mà vị linh hướng khám phá về ứng sinh ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Dữ kiện này có cùng một qui chế như ấn toà giải tội. 

Điều này không chỉ để bảo vệ ứng sinh, mà còn cống hiến cho chị sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì chị đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật.   

Trong quá trình phân định ơn gọi, mối quan tâm chính là lợi ích của Hội Thánh. Ứng sinh không tìm phân định ý riêng hay ước vọng cá nhân của mình, nhưng tìm khám phá ý muốn của Chúa cho chị, bằng cách phân tích các khả năng và động lực của chị đối với những kỳ vọng và nhu cầu của Hội Thánh.  

Do đó, ở toà trong, vị linh hướng không chỉ thụ động lắng nghe, song phải sẵn lòng và có khả năng thách đố và đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp ứng sinh trải qua một tiến trình phân định ơn gọi đích thực.  

Vị Bề Trên có trách nhiệm hàng đầu ở toà ngoài trong việc đánh giá tính thích hợp với cuộc đời thánh hiến của ứng sinh, nên không thể đóng một vai trò nào ở toà trong.  

Sự hiểu biết có được ở toà ngoài về ứng sinh đều do nhận xét của nhiều nhà đào tạo. Sự hiểu biết này thường có một mức độ chắc chắn khác và ít toàn diện hơn sự chắc chắn có được ở tòa trong. 

Tất cả các nhận xét đều nhằm trả lời câu hỏi “Người này có được Chúa kêu gọi không?” Trong khi tìm trả lời câu hỏi này, các nhà đào tạo sẽ thừa nhận với tất cả khiêm tốn rằng Chúa kêu gọi người yếu đuối để làm xấu hổ kẻ hùng mạnh! (x. 1Cr 1, 26-29).  

Không phải Giáo Hội kêu gọi ứng sinh, nhưng là chính Thiên Chúa. Vai trò của Bề Trên và các nhà đào tạo là đánh giá lời kêu gọi ấy và rồi chấp nhận ứng sinh với vui mừng và tạ ơn Thiên Chúa.

 

           * Thực Hành Chuyên Biệt

Khi đánh giá ứng sinh, vị linh hướng không bao giờ được lên tiếng, để kết án mà cũng chẳng được lên tiếng để bảo vệ: ngài phải im lặng khi hội đồng Dòng nói về người thụ hướng của mình. Sự bảo mật này nhằm bảo đảm cho tự do nội tâm của ứng sinh.  

Nhưng nhờ nghe trong hội đồng Dòng những quan điểm khác quan điểm của mình về người thụ hướng, vị linh hướng có được thông tin về những yếu tố khác, nhờ đó ngài sẽ phân định tốt hơn và chọn lựa sự giúp đỡ thích hợp hơn cho người thụ hướng của mình.  

Toà ngoài hình thành phán quyết của mình từ sự hiểu biết trong tiến trình đào tạo mỗi ngày, vì cuộc sống hàng ngày mạc khải trọn vẹn con người. Vì thế, cần có sự đồng hành sâu sát qua việc “đích thân kiểm soát bằng sự hiện diện yêu thương phục vụ” 

Như thế, toà trong và toà ngoài không đối nghịch, nhưng bổ túc nhau để phục vụ một công việc chung của Hội Thánh.

 

            * Giải Quyết Những Khác Biệt

Bề Trên và ban đào tạo có thể đã đi tới quyết định rằng một ứng sinh rất xứng đáng và có khả năng theo đuổi việc chuẩn bị tuyên khấn, trong khi chị lại nhận thấy rằng cảm thức được gọi của chị là sai lầm và xin rút lui. 

Trường hợp này, Bề Trên và ban đào tạo chỉ có thể chấp nhận sự chân thành trong nhận định mới của ứng sinh đó, tin tưởng rằng Chúa sẽ sử dụng chị cách tốt lành cho lợi ích của Giáo Hội.  

Trường hợp khác biệt thứ hai không dễ giải quyết: Bề Trên và ban đào tạo đều đồng ý không nên cho một ứng sinh tiếp tục, trong khi đó chị ta lại xác tín rằng chị được Chúa kêu gọi làm nữ tu.

Quyết định tòa ngoài phải được giải thích thỏa đáng cho ứng sinh ấy, để chị hiểu và chấp nhận quyết định đã được đưa ra. 

Trường hợp tòa ngoài thấy chị có một điều gì đó không thích hợp nhưng có thể sửa chữa được, thì nên yêu cầu chị ra sống ở ngoài sở cho tới khi vấn đề đã được sửa chữa. Con đường ơn gọi không hoàn toàn đóng lại đối với chị.  

Khi toà ngoài quyết định không chấp nhận chị làm ứng sinh nữa thì phải giải thích cho chị cách tế nhị và tình cảm. Ở Việt Nam, nhất là tại Miền Bắc, quyết định rời khỏi Dòng chịu ảnh hưởng sâu xa bởi gia đình và áp lực của xã hội, cũng như bởi cảm thức xấu hổ, ân nghĩa và tình bạn bè. Dòng nên quan tâm hướng dẫn và giúp đỡ chị vượt qua các khó khăn ấy. 

Mọi người đều biết rằng quyết định dứt khóat của toà trong ăn khớp với lương tâm của ứng sinh. Điều này cần đào tạo một lương tâm trưởng thành và vị linh hướng phải dự phần quan trọng trong đó.  

Việc linh hướng và phận định thiêng liêng rất tế nhị và khó khăn đối với con người trong việc đồng hành ứng sinh trên đường tới Chúa. Hoạt động này bao gồm mọi chiều kích của đời sống, nhân bản và thiêng liêng, tự nhiên và siêu nhiên.  

Sau khi đã chú ý lắng nghe với biện phân và khiêm tốn, vị linh hướng có thể khám phá được người thụ hướng được Chúa gọi hay không.

-    Nếu có, ngài xác định cho chị tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù chị sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của chị.

-    Nếu không, ngài nên gợi ý cho chị đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi chị đi với can đảm và hạnh phúc.

 

   3. Thinh Lặng trong tiến trình Tòa Trong

            Thinh lặng biểu lộ rõ nét nơi việc tuân giữ lòng tín cẩn và bí mật của ấn tòa giải tội và việc linh hướng (tòa trong).  

            Càng có thói quen thinh lặng, biết cẩn trọng đắn đo điều mình nói, ta càng có khả năng giữ điều bí mật và bảo đảm lòng tín nhiệm của tha nhân. 

Thinh lặng là một thách đố cho bất cứ ai muốn sống thật đầy ý thức, chăm chú, cảnh giác và hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. 

Người có tinh thần siêu nhiên biết tôn trọng lương tâm của người khác, không xía vô cuộc đời người khác và vội vàng phê phán kết án; nhưng tuyệt đối tin tưởng giao phó cho Thiên Chúa, xác tín rằng lời đánh giá cuối cùng thuộc về Ngài: “Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân. Phần anh em, hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí!” (2 Tx 3,11-13). 

 

 

VI. SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ CỦA Thinh LẶng 

       1. Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm 

       Ý Nghĩa và Mục Đích của Thinh Lặng

Sự thing lặng không thể bị chia tách bên ngoài và bên trong được. Thinh lặng bên ngoài vừa là hy sinh hãm mình vừa là phương tiện bảo đảm sự yên tĩnh của tâm hồn, để hồi tâm và sống thân mật với Thiên Chúa.

 

        Giá Trị của Thinh Lặng

            Thinh lặng là bầu khí thiêng liêng và sống còn để cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhờ thinh lặng, con người biết chỗ của mình trước mặt Chúa, đồng thời tỏ lộ lòng khiêm tốn và khả năng lắng nghe khi Chúa nói.  

Nhờ thinh lặng của thân xác, trí óc và con tim, người tu sĩ mới có thể đạt tới sự hiệp nhất và hiệp thông với Chúa: “Hãy lặng thinh và hãy biết rằng Ta là Thiên Chúa” (Tv 46, 10).  

Thinh lặng này không phải là một không gian trống rỗng, bởi vì Thiên Chúa luôn có đó để lấp đầy. Nhiệm vụ quan trọng nhất là phải ý thức rằng ta luôn ở trong sự hiện diện của Chúa và không thể tách khỏi Ngài.

 

       Thách Đố của Thinh Lặng

Thinh lặng là một trong những thách đố lớn: Người này tìm kiếm thinh lặng, kẻ khác lại làm mọi cách để tránh nó.  

Nhưng thinh lặng hỗ trợ lời nói, chuẩn bị lời nói và làm cho lời nói nên phong phú. Ngôi Lời, chìm sâu trong mầu nhiệm lặng thinh của Thiên Chúa để bộc lộ và thông truyền Thiên Chúa cho con người.   

            Thinh lặng, nội tâm lẫn bên ngoài, là bầu khí đúng đắn của việc giáo dục toàn diện: Tu viện phải là nơi của thinh lặng, là nhà cầu nguyện, nơi đó Chúa tiếp tục qui tụ các môn đệ riêng ra, để họ sống cái kinh nghiệm mạnh mẽ của sự gặp gỡ và chiêm niệm.”

 

   2. Những hỗ trợ của thinh lặng

 

       Thinh Lặng trong Phụng Vụ

Thinh lặng luôn là một phần của việc thờ phượng. Phụng vụ cung cấp nhiều cơ hội để thinh lặng: Ngưng nghỉ một khoảng thời gian thích hợp sau mỗi bài đọc; nghỉ chốc lát để suy niệm sau bài giảng, hay sau lời kêu mời “chúng ta dâng lời cầu nguyện.” Sau hiệp lễ, nên dành một thời gian thinh lặng. 

Phụng vụ các Giờ Kinh cũng cho nhiều dịp để thinh lặng: Sau vinh tụng ca và trước điệp ca của thánh vịnh kế tiếp, một chút ngưng nghỉ để cộng đoàn suy niệm về thánh vị đó; sau bài đọc Lời Chúa và trước xướng đáp, một lúc thinh lặng hợp lý để suy niệm.

 

        Thinh Lặng Trong Nhà

Mọi người đều phải cẩn trọng để khỏi làm xáo trộn sự thinh lặng của người khác. Radio, máy nghe băng, Tivi, âm lượng trao đổi… phải được kiềm chế và điều chỉnh để bảo vệ bầu khí chiêm niệm, vốn phù hợp cho đời sống cầu nguyện và học tập. Không đòi phải thinh lặng tuyệt đối, nhưng cuộc trao đổi phải được giữ ở mức tối thiểu.

 

        Thinh Lặng Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm

Các cuộc tĩnh tâm bồi dưỡng thiêng liêng là:

-          những cơ hội khả dĩ để trải nghiệm sự thinh lặng,

-          tìm lại nguồn năng lượng cho đời sống cầu nguyện và đức tin,

-          cũng còn là dịp để lấy lại sức lực cho thể xác, trí khôn và linh hồn.  

Người tĩnh tâm được khuyến khích loại bỏ những mối bận tâm làm mất sự thinh lặng bề ngoài như báo chí, truyền thanh, truyền hình…  

Càng đi vào thinh lặng và thăng tiến đời sống chiêm niệm, chúng ta càng có thể lắng nghe tiếng Chúa với những âm thanh khác nhau và mới lạ.

 

 VII. NỘi Dung & TiẾn Trình GẶp Linh HưỚng

 

             1. Lắng Nghe

Khi người thụ hướng bộc lộ câu chuyện đời chị cho vị linh hướng, chị cảm nhận tương quan của chị với Thiên Chúa nơi Đức Kitô được mở ra và phát triển. Vị linh hướng lắng nghe câu chuyện của chị, tìm giúp chị hiểu và làm sáng tỏ điều Thiên Chúa đang chất vấn chị.

 

        2. Chú Tâm vào Hình Ảnh Thiên Chúa

            Mô hình và định hướng đời sống thiêng liêng của một người được tác động sâu xa bởi hình ảnh mà người ấy có về Thiên Chúa. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta một Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu và của cộng đoàn Giáo Hội. Vị linh hướng giúp ứng sinh trong nhiệm vụ căn bản này.

 

        3. Giúp Làm Sáng Tỏ Kinh Nghiệm

            Vị linh hướng giúp ứng sinh suy nghĩ và khám phá chiều kích tôn giáo trong những kinh nghiệm đa dạng của chị, nhận biết sự hiện diện và tiếng nói của Thiên Chúa trong những kinh nghiệm ấy. 

 

        4. Nhận Ra và Làm Sáng Tỏ Hệ Thống Giá Trị

            Người thụ hướng ra sức làm việc để lớn lên trong tương quan với Chúa và với tha nhân. Những chủ đề quan trọng trong cuộc đối thoại là viễn ảnh và các giá trị Tin Mừng mà người thụ hướng muốn thủ đắc: vâng phục, thanh khiết của tình yêu độc thân, quan tâm tới công bằng xã hội như một chiều kích của việc rao giảng Tin Mừng.

 

        5. Khẳng Định Và Thách Đố

            Vị linh hướng khẳng định và giúp người thụ hướng dùng tài năng Chúa ban để phục vụ Chúa và tha nhân. Ngài cũng giúp chị chấp nhận những thách đố của lòng tốt của Chúa và làm cho người ta nhận biết lòng tốt ấy.

 

        6. Giáo Huấn Và Hội Nhập

            Vị linh hướng chỉ dạy và giúp người thụ hướng hội nhập các yếu tố khác nhau trong cuộc đời chị quanh một trung tâm là chính Thiên Chúa.

 

        7. Trách Nhiệm

Vị linh hướng giúp người thụ hướng tránh những sai lầm trong việc tự đánh giá và giữ một thái độ tập trung vào Chúa ở giữa bao nhiêu công việc hàng ngày và những mối tương quan đa dạng.

 

        8. Trợ Giúp Trong Lúc Khó Khăn

Mối đe doạ lúc nào cũng có mặt trong hành trình thiêng liêng của chúng ta. Việc linh hướng có thể cung cấp phương tiện để thấy chính mình qua các giai đoạn chiến đấu trong suốt con đường. 

 

        9. Cầu Nguyện

Cầu nguyện là suối nguồn và diễn tả mối tương quan của chúng ta với Chúa.

 

 

     viii.  NHỮNG Nguyên TẮc Khi CẦn

                Thay ĐỔi VỊ Linh HưỚng 

            Có thể xảy ra trường hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc thay đổi linh hướng là luôn có thể và đôi khi đáng ao ước nữa.”     

Ứng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng sẽ yêu cầu ứng sinh đi linh hướng với người khác, bởi vì ngài nghĩ rằng ngài sẽ không thể tiếp tục trách nhiệm ấy nữa.”  

Vì lợi ích của người thụ hướng, những nguyên tắc sau đây giúp chị phân định xem có nên tiếp tục hay không gặp một vị linh hướng cá biệt. Chị thẳng thắn xem xét các động lực khiến chị muốn thay đổi vị linh hướng của chị:

-    Có phải do mâu thuẫn cá nhân?

-    Có phải chị muốn thoát khỏi bị thách đố?

-    Có phải chị đang phóng chiếu những tính tiêu cực như hách dịch, vô cảm, thiếu thông cảm và hiểu biết lên vị linh hướng của chị?

-    Có những mong đợi không thực tiễn chăng?

-    Có phải vì vị linh hướng từ chối cung cấp thêm ảo tưởng cho chị?

-    Chị cần tranh luận với vị linh hướng về những khó khăn mà chị đang trải nghiệm trong giao tế?

-    Chị có tiếp tục nhận được ích lợi thiêng liêng từ việc hướng dẫn này không?

-    Có vị linh hướng khác mà chị bị lôi cuốn chăng?

-    Đâu là những lý do khác nữa?

 

Người thụ hướng cần phải có đủ thời gian để suy nghĩ về toàn bộ vấn đề trước khi đưa ra một quyết định. Chị không nên vội vả, nhưng nên bàn hỏi vấn đề này với một người trung lập.

-    Có phải đó là sự chấm dứt tự nhiên, vì sự hướng dẫn tìm kiếm đã được thực hiện?

-    Liệu đây có phải là thời gian để thay đổi vì hoàn cảnh của chị hay của vị linh hướng, hoặc của cả hai? Do thay đổi sự bổ nhiệm, chuyển sang giai đoạn huấn luyện khác? Hay còn những việc khác xem ra gặp phải trên đường tương quan linh hướng như: lòng tín nhiệm, hấp dẫn giới tính, đổ vỡ giá trị?  

 

 

    IX. VỊ LINH HƯỚNG TỐT 

     1. Các Đức Tính của Vị  Linh Hướng Tốt

 

       Theo Mẹ Têrêsa Avila, một vị linh hướng tốt phải được đào tạo kỹ lưỡng và thành thạo, với nền đào tạo vững chắc về thần học và kinh nghiệm cầu nguyện cao (cầu nguyện yên tĩnh, cầu nguyện nhiệm hiệp), bởi vì mẹ đã phải đau khổ rất nhiều trong tay những người học hành nửa vời.  

Vị linh hướng phải có kiến thức vững chắc về thần học, về linh đạo và về Kinh Thánh, một ít hiểu biết căn bản về kỹ năng tư vấn, quen thuộc các vấn đề tâm lý và tâm thần.  

Vị linh hướng nên có cái nhìn quân bình trong kinh nghiệm cầu nguyện và ý thức rằng chán nãn trong cầu nguyện là có thể có, đồng thời nên biết phân biệt các an ủi và chán nãn từ các kinh nghiệm đích thực về Chúa.  

Vị linh hướng cũng nên quan tâm thực sự về sự thoải mái của người thụ hướng.  

Thánh Gioan Thánh Giá nhấn mạnh rằng vị linh hướng phải giúp người thụ hướng lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng là người hướng dẫn chính đang làm việc nơi người thụ hướng. Chính Thần Khí Chúa Giêsu là trung tâm của đời sống thiêng liêng và của việc linh hướng.  

Vị linh hướng thành thạo giúp người thụ hướng cởi mở hoàn toàn cho hoạt động bên trong của Chúa, sẵn sàng thay đổi ý kiến và cuộc sống.  

Vị linh hướng phải ngoan ngoãn nghe theo những gì Chúa Thánh Thần đang làm nơi người thụ hướng, hầu có thể khẳng định và xác nhận việc Chúa Thánh Thần làm đó.  

Vị linh hướng dạy cho người thụ hướng làm sao áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh cụ thể và đặc biệt của cuộc sống mỗi ngày; đồng thời biết quan tâm đến những gì Thiên Chúa nghĩ hơn là những gì con người nghĩ.  

Thiên Chúa có thể hành động trực tiếp, nhưng Ngài thích dạy con người qua con người hơn, chẳng hạn như trường hợp Saolô ngã ngựa (x. Cv 9, 1-19).  

Thánh Gioan Thánh giá đồng quan điểm với thánh Têrêsa Avila rằng vị linh hướng cần được đào tạo, nhạy cảm, tín cẩn, có kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện và kiến thức chắc chắn về tâm lý thực hành.

 

Tóm lại, những đức tính của một vị linh hướng tốt là:

-          Một con người có trí phán đoán lành mạnh và lương tri tốt,

-          đủ tự tin để khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người khác.

-          kinh nghiệm Thần Khí và mở rộng kinh nghiệm ấy qua việc quan sát kinh nghiệm của người thụ hướng.

-          khiêm tốn tập việc dưới sự hướng dẫn của người có kỹ năng.

-          có sự trưởng thành cá nhân trong cầu nguyện và xác tín tầm quan trọng của cầu nguyện.

-          luôn luôn cập nhận hoá việc học với tinh thần cầu tiến.

-          sẵn sàng chất vấn và cũng sẵn sàng để được chất vấn.

-          có khả năng khích lệ và thúc đẩy người thụ hướng.

-          biết chăm chú lắng nghe với lòng thiện cảm, khiêm tốn và yêu thương.

-          có khả năng sống thành thật với chính mình và với người khác, với khả năng gây tín nhiệm nơi người thụ hướng.

 

   2. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Tránh 

Vị linh hướng tốt không áp đặt giá trị lên người thụ hướng, nhưng phải rõ ràng với những giá trị quan trọng. Ngài nhắc lại những giá trị ấy, nhưng để người thụ hướng tự do, ngõ hầu chị có thể chọn lựa một giá trị cho mình cách tự do.  

Vị linh hướng tốt không gài bẫy người thụ hướng, nhưng rất thẳng thắn với chị. Vị linh hướng tốt không cố trở thành người giải quyết vấn đề.  

Vị linh hướng tốt không bắt người thụ hướng phải chịu thẩm vấn. Vị linh hướng tốt không cố chứng minh điều gì đó với người thụ hướng mà ngài biết rằng chị không sẵn sàng chấp nhận vào lúc đó.  

Vị linh hướng tốt không sợ thinh lặng, bởi vì thoải mái thinh lặng chứng tỏ rằng mình đang cảm thấy dễ chịu.

Vị linh hướng tốt không nhắm đến mục đích cứng nhắc: “Tôi muốn hướng dẫn chị và đưa chị phải đi lối này.” 

Vị linh hướng tốt không quá bộc lộ tình cảm hoặc lạnh lùng như người vô cảm.  

Vị linh hướng tốt không vội vàng chỉnh sửa tất cả những quan niệm sai lầm của người thụ hướng ngay lập tức. Vị linh hướng tốt không lên án người thụ hướng. 

Vị linh hướng tốt không lợi dụng người khác để thỏa mãn nhu cầu của riêng mình. Vị linh hướng tốt không kỳ vọng quá nhiều việc ngay một lần.  

Vị linh hướng tốt không bảo đảm cho người thụ hướng cách quá nhanh chóng, vì thái độ này làm cho chị bị lệ thuộc.  

Vị linh hướng tốt không vội vã trả lời những vấn nạn của người thụ hướng. Vị linh hướng tốt đôi khi nên gửi trả lại câu hỏi: “Đây là một câu hỏi hay.”

 

   3. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Làm

Vị linh hướng tốt phải lắng nghe người thụ hướng, để cho chị cơ hội thấu hiểu kinh nghiệm của chính chị. Vị linh hướng tốt cùng người thụ hướng lắng nghe lời mang tính hiện sinh, ngôn sứ và thời sự của Chúa.  

Vị linh hướng tốt chuẩn bị đất cho một cam kết hoàn toàn tự do, hoặc tái cam kết với giá trị và ý nghĩa của toàn bộ đời sống của người thụ hướng, hầu kiến tạo căn tính cá biệt của một con người, nhờ sự trung thành có tính cách sáng tạo.  

Vị linh hướng tốt phải ý thức rằng một quyết định của một đời người phải được thực hiện trong lúc tự do. Vị linh hướng tốt ý thức rằng lối sống và cách giải thích kinh nghiệm của một con người phải được kiểm chứng bởi những kinh nghiệm lặp đi lặp lại được giải thích và đánh giá cùng với nhau.



Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!