Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
  Tủ Sách - Chủ Đề
  Suy Tư - Chiêm Niệm
  Văn Hóa - Xã Hội
  Y Tế - Giáo Dục
Mục Lục

Chương I : Đào sâu và thực hành đặc sủng và linh đạo dòng

Chương II : Củng cố những bước đầu phân định và sống ơn gọi

Chương II : (tiếp)

Chương III : Con đường sống thánh

Chương III : (tiếp)

Chương IV : Đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm

Chương V : Sống triển nở đời sống cộng đoàn, yếu tố sống còn của tu sĩ

Chương V : (tiếp)

Chương VI : Sống tốt đời sống độc thân thánh hiến trong bối cảnh hôm nay

Chương VI : (tiếp)

Chương VII : Sống viên mãn ba lời khấn dòng

Chương VII : (tiếp)

Chương VIII : Những thời khắc quyết định

Phụ lục I

Phụ Lục II

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Người Nữ Tu Sống Tu Đức Toàn Diện
Tác giả: Lm. Trần Minh Huy, pss
CHƯƠNG V : (TIẾP)

IV. NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG VIỆC NHẬN BIẾT VÀ PHÁT TRIỂN CÁC ÂN BAN TÀI NĂNG     

(Slideshow HÃY BIẾT ƠN CUỘC SỐNG) 

Hành trình vào những ân ban tài năng cá nhân của một người không phải là không có những trở ngại và rào cản dọc đường.  

Dù ước muốn khám phá các ân ban tài năng của một người là thực tế, chung chung vẫn có đối kháng và tránh né khiến các ân ban tài năng đó không lộ ra một cách trọn vẹn.

 Các chướng ngại giữ một người không nhận ra được các ân ban tài năng riêng biệt cho cá nhân mình. Có năm trở ngại chung cho mọi người đáng cho chúng ta lưu ý. 

Những chướng ngại trong việc nhận dạng và phát triển các ân ban tài năng

1)      Ý niệm sai lầm về đức khiêm nhường hay đặt nó không đúng chỗ.

2)      Quan niệm rằng một tài năng là tầm thường và bình thường.

3)      Tin rằng ân ban tài năng của một 

      người là cái mà bất cứ ai cũng có được một cách phổ quát.

4)      Ghen ghét về ân ban tài năng của kẻ khác.

5)      Những nỗi lo sợ.

 

1. Trở ngại đầu tiên: Ý niệm về đức khiêm nhường đặt không đúng chỗ

 

(Video PHẢI HỎNG THI ĐỂ KHIÊM NHƯỜNG)

 

Do văn hóa và bối cảnh gia đình, có thể có một khuynh hướng tự ti bẩm sinh làm giảm thiểu các khả năng tích cực của một người: Người ta thực hành nhân đức khiêm nhường như thể bởi từ chối các ân ban của Chúa.  

Trái lại, các tài năng và đức tính của một người là những ân ban của Chúa và như thế thành lý do để ca tụng lòng tốt lành của Chúa: “Tôi không là gì và cũng chẳng làm được gì cả, nhưng tôi có là gì và có làm được gì thì tất cả đều nhờ bởi ơn Chúa” (Thánh Phaolô). 

Điều đó không hàm ý rằng khoe khoang hay phô trương là một lời đáp trả thích hợp hay có thể chấp nhận được đối với những ân ban tài năng cá nhân của một người. 

Lòng khiêm nhường đích thực nhìn nhận sự thật về ân ban tài năng của mình, nhưng nguồn gốc của chúng chính là Thiên Chúa nhân lành và quảng đại để cám ơn Chúa.

 

2. Trở ngại thứ hai: xem ân ban tài năng là

tầm thường và bình thường

            Trở ngại thứ hai là không để cho một ân ban tài năng được nhìn nhận vì nó xem ra tầm thường và bình thường. 

Quan niệm sai lầm rằng tất cả các ân ban tài năng phải thật ngoạn mục có thể cản trở một người chấp nhận các ân ban tài năng đó. 

Khi kỳ vọng quá cao vào một ân ban tài năng thì những ân ban tài năng bình thường như lắng nghe, cảm thông, tính vui vẻ, dễ gần, hiếu khách… là những cái làm cho cuộc đời con người được phong phú sẽ bị coi thường.

 

(Slideshow BẢY KỲ QUAN THẾ GIỚI)

 

3. Trở ngại thứ ba: coi ân ban tài năng của một người là phổ quát.

Kiêu ngạo nghĩ rằng các ân ban tài năng của một người thì bất cứ ai cũng có một cách phổ quát và do đó không đáng quan tâm tìm biết và phát triển tài năng của nhau là chướng ngại thứ ba trong việc khám phá ân ban tài năng. 

Một chị lớn tuổi nọ đang tham dự vào một tiến trình biện phân các ân ban tài năng phải vất vả để nhận ra các ân ban mà chị đã cống hiến cho cộng đoàn.

 

Khi cả nhóm khẳng định ân ban tài năng “dễ gần” của chị thì chị nhún vai nói rằng: “Ồ, bình thường thôi, bất cứ ai cũng có ơn đó” 

Cả nhóm mau mắn thách thức chị, chỉ ra cho chị thấy đó là sự thật, nếu không thì tại sao nhiều người bị lôi kéo liên hệ với chị cách đặc biệt khi họ cần một lời khuyên hay an ủi. 

Việc họ đánh giá cao ân ban tài năng của chị đã dẫn chị đến ý thức rằng chị sở hữu một ân ban tài năng mà không phải bất cứ người nào cũng có được.

 

4. Trở ngại thứ tư: ghen ghét các ân ban tài năng của kẻ khác.

Trong khi ân ban tài năng của người khác là một thách đố để mình nhìn thấy ân ban tài năng của mình mà cố gắng (ông nọ bà kia làm thánh được thì tôi cũng làm được), thì lắm khi lại dễ làm mình chú ý tới ân ban tài năng của người khác rồi đâm ra ghen ghét họ. 

Những ân ban tài năng nổi bật có thể là đối tượng của ao ước và người ta hao tốn nhiều nghị lực trong việc ham muốn, thèm khát các ân ban tài năng của người khác. 

Có những người đã phung phí nghị lực của mình để chú tâm vào những ân ban tài năng mà mình không có đó, đến đỗi bỏ quên khám phá và phát triển những ân ban tài năng mà mình có (tự ti).

 

5. Cản trở thứ năm: Những nỗi sợ hãi.

Đây có thể là chướng ngại đặc biệt khó vượt qua vì gốc rễ của sợ hãi có nhiều mặt: Việc nhận ra một số ân ban tài năng nào đó đi kèm theo một thách đố trong việc sử dụng chúng. 

Đối với một số người, sợ hãi có thể nổi lên do cảm nhận không chắc chắn hay không an toàn trong khả năng phát triển những ân ban tài năng mới khám phá được (quá rụt rè). 

Một chiều kích khác của sợ hãi là do việc biện phân những ân ban tài năng có thể đòi hỏi thay đổi trong cuộc sống. Những thay đổi này có thể xuất hiện ra trong thái độ, cách ứng xử, các hoạt động, sứ vụ, công việc và ngay cả lối sống. 

Chướng ngại thông thường đối với sự thay đổi mà ai cũng kinh nghiệm thấy có thể rõ nét ở đây và làm cho việc thắng vượt sợ hãi trở nên đặc biệt khó khăn.

“Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Ga 4,18). 

Sự có mặt của các trở ngại có thể tạo nên một sự tê liệt làm nản lòng một người trong tiến trình khám phá và chấp nhận các ân ban tài năng Chúa ban cho. 

Suy nghĩ về những chướng ngại cá nhân cản trở việc tự do chấp nhận các quà tặng tài năng của Chúa thật là ích lợi cho tiến trình biện phân một ân ban tài năng.

 

(Slideshow HÃY TẠ ƠN CHÚA)

 

Câu hỏi suy nghĩ:

·         Những chướng ngại hay rào cản nào ngăn không cho chị nhận ra và chấp nhận các ân ban tài năng của mình?

·         Bầu khí trong cộng đoàn của chị khích lệ và khẳng định các ân ban tài năng khác nhau của các thành viên của cộng đoàn như thế nào?

·         Những ân ban tài năng nào của các thành viên của cộng đoàn mà chị khó nhận ra và khẳng định nhất? Tại sao?

 

V. ÂN BAN TÀI NĂNG ĐỂ SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

 

·         Ân ban tài năng lắng nghe

·         Ân ban tài năng ăn nói 

·         Ân ban tài năng nhạy cảm

·         Ân ban tài năng kiên trì

·         Ân ban tài năng khẳng định mình là ai

·         Ân ban tin rằng mình được yêu thương

·         Ân ban tài năng hài hước

 

 

1. ÂN BAN TÀI NĂNG LẮNG NGHE

 

Có người nói rằng “Chúa đã ban cho chúng ta hai lỗ tai và một cái miệng, do đó chúng ta hãy nhớ nghe nhiều hơn nói hai lần.” Tỉ lệ hai/một này xem ra đúng đó. Quả vậy, người lắng nghe tốt trong một cộng đoàn tu là một kho tàng. Người đó thường chú ý tới những thành viên khác của cộng đoàn.

 

Ân ban tài năng lắng nghe thường phát xuất từ một ý thức lành mạnh về chính các giới hạn và thiếu sót của mình. Càng ý thức về những bất toàn của mình, chúng ta càng nhận thấy chúng ta cần lãnh nhận từ người khác.

 

Để lắng nghe cần phải có lòng khiêm tốn, vì cái căn bản để mình lắng nghe là người khác chắc chắn có cái gì giá trị để nói, có cái gì đó mà chúng ta có thể được lợi ích.

 

Nhưng tài năng lắng nghe vượt quá việc chúng ta nghe với đôi tai. Người lắng nghe tốt thực sự cũng nghe với trí não của mình (cởi mở và không kết án), nghe với con tim của mình (nhạy cảm với nhu cầu tình cảm của chính mình và của tha nhân), nghe với đôi mắt của mình (biết cái gì phải lưu ý và cái gì phải bỏ qua), và nghe với xúc giác của mình (cảm nhận khi phải tiến ra và khi phải yên lặng rút lui).

 

 

2. ÂN BAN TÀI NĂNG ĂN NÓI

 

            Điều rất quan trọng là tài năng lắng nghe cần một người bạn đồng hành, đó là ân ban tài năng ăn nói. Có lẽ tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm sống với người không nói. Tôi không muốn đơn giản ám chỉ một người tự nhiên kín đáo hay trầm lặng ít nói. Tôi ám chỉ một người thực sự không nói: người bí hiểm, người như ngôi mộ. Những người không nói không bao giờ để cho chúng ta biết được cái gì diễn ra ở sau vừng trán hay trong con tim của họ. Sau khi sống với họ cả năm, hay ngay cả hai mươi năm trời, cho đến bây giờ chúng ta hầu như chẳng biết được gì về tư tưởng hay cảm nhận cá nhân của họ, cả loại bánh họ thích hơn cũng không, nói chi đến những gì họ nghĩ tưởng hay cảm nhận về tình trạng đời tu hiện nay.  

Những cộng đoàn lành mạnh cần đến những cá nhân sẵn sàng và có thể nói cách cởi mở. Chúng ta cần những con người có can đảm và tình thương để đặt vài ý tưởng của họ (nếu không phải là tất cả) ra trong cộng đoàn để được đánh giá, chắc chắn không phải để biết các ý tưởng của họ được hoan nghênh, bị tấn công hay bị bỏ vào quên lãng. 

Chia sẻ như thế có thể đưa đến những rủi ro. Những gì chúng ta nói có thể không phù hợp hay không đúng. Lời nói của chúng ta có thể làm tổn thương ai đó, hoặc làm cho ai đó nổi giận hoặc không thoải mái. Và những gì chúng ta nói luôn có thể bị hiểu lầm. Nhưng những lợi ích phát sinh do điều nói lên với người khác sẽ lớn hơn xa tất cả các rủi ro kia. Bất chấp những hậu quả và khó khăn, ngôn ngữ là phương tiện tốt nhất cho đến nay để truyền thông với người khác, và nhờ vậy mà làm thêm mạnh mẽ các mối ràng buộc hiệp nhất chúng ta lại với nhau.

 

            Nhưng truyền thông là sinh tử, không phải chỉ vì nó là một phương tiện trao đổi các ý tưởng và cảm nhận, mà còn hết sức quan trọng cho cộng đoàn chung sống vì nó nuôi dưỡng các nhân đức kitô khác. Truyền thông xây dựng niềm tin cậy. Truyền thông còn giúp chúng ta làm sáng tỏ các tư tưởng và cảm nhận của chính chúng ta, đem lại can đảm và làm dịu đi cảm giác cô độc của chúng ta (đau đớn nhất là nỗi cô đơn giữa cộng đoàn đông người). Thật đáng mừng là ngày nay nhiều cộng đoàn đã đầu tư nhiều thời gian đáng kể và nghị lực để học và thăng tiến các kỹ năng truyền thông. Đó là một đầu tư khôn ngoan.

 

3. ÂN BAN TÀI NĂNG NHẠY CẢM

    

Một số người trong chúng ta có thể nghĩ rằng sự nhạy cảm là thánh giá hơn là ân ban. Họ nói: “Nếu tôi không quá nhạy cảm như thế thì có lẽ tôi đã không quá bị tổn thương vì những lời của chị ấy” hoặc “Nếu tôi đã không quá nhạy cảm thì tình huống đã không làm tôi quá bực mình như thế.”   

Mặc dù tính nhạy cảm có thể gây nên cho chúng ta nỗi đau lớn như vậy, nó vẫn là một ân ban quí báu và trong thời gian dài liên tục nó sẽ làm cho cộng đoàn chung sống trở nên tốt hơn (“Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới biết con ngài phải chăng”). Quả thật, hầu hết điều tốt lành đã được thực hiện trên thế giới là kết quả trực tiếp của sự nhạy cảm của một người nào đó. Chẳng hạn việc thiết lập một cộng đoàn tu thường là kết quả của sự nhạy cảm của một cá nhân đối với nhu cầu của những người khác.

 

            Tính nhạy cảm quan trọng vì nó cũng là mầm móng phát sinh của tất cả những nhân đức căn bản khác như lịch sự, thiện cảm, thấu hiểu, nhẫn nại, cảm thông. Trái lại, sự thiếu nhạy cảm có thể sản sinh ra sự khiếm nhã, ác cảm, ích kỷ, tiên kiến và ngay cả bạo lực. 

            Trong cuốn sách Sống Cùng Nhau Trong Cộng Đoàn, Carlos Valles nói về tính nhạy cảm như sau: “Nhạy cảm là nghệ thuật của cái nhỏ. Không phải những hy sinh lớn, những kế hoạch cao, những giải pháp anh hùng, mà đúng là những chú ý nhỏ mọn, những chi tiết dễ thương, lời nói thích hợp, một cái nhìn, một cuộc thăm viếng, một tiếp xúc. 

 

4. ÂN BAN TÀI NĂNG KIÊN TRÌ

(“Cần cù bù thông minh”)

 

Ân ban kiên trì gây được nhiều tín nhiệm bởi vất vả làm việc. Người ta giả thiết rằng Michelange lần kia đã nói “Nếu người ta biết tôi đã phải làm việc vất vả thế nào để đạt được sự thành thạo của tôi thì sự việc có lẽ chẳng xem ra kỳ diệu như thế đâu! 

Ân ban tài năng để làm việc vất vả và kiên trì như thế cũng là một ân ban tốt phải có ở trong cộng đoàn. Người năng nổ, làm việc hăng say, sẵn sàng chia sẻ gánh nặng đem lại niềm vui cho người khác để sống với họ. Những người làm việc giỏi không sợ khi phải bắt đầu một công việc. Và quan trọng hơn là họ không sợ hoàn thành công việc đó cho đến cùng.

 

5. ÂN BAN TÀI NĂNG KHẲNG ĐỊNH MÌNH LÀ AI.            

Có một câu chuyện cũ về một rabbi đã cầu nguyện rằng “Lạy Chúa, xin làm cho con nên thánh thiện! Xin làm cho con nên giống Mosê!” Ông ngừng lại rồi nghe Chúa trả lời “Sao Ta lại cần phải có một Mosê khác làm chi! Ta đã có một Mosê rồi! Nhưng cái mà Ta thực sự có thể sử dụng là ngươi.”  

Câu chuyện nói lên một chân lý sâu xa. Nó nhắc cho chúng ta rằng Chúa không cần dòng vô tính, kể cả dòng vô tính của các vị đại thánh của Ngài. Đúng ra Chúa cần những nguyên bản độc đáo, một trong các loại, tắt lại là chị và tôi. Và chúng ta sẽ mang lại cho Chúa niềm vui và vinh quang lớn nhất khi chúng ta là những cá nhân duy nhất mà Chúa kêu gọi chúng ta trở thành.  

            Có một mối nguy hiểm vốn có khi sống trong cộng đoàn: đó là chúng ta có thể trở nên quá giống nhau. Các thành viên khác của cộng đoàn có thể giẫm bẹp tính cách riêng của chúng ta, hoặc là chính chúng ta có thể bắt đầu phản bội lại tính cá biệt duy nhất của chúng ta để thích hợp với nhóm.  

Người ta nói rằng các đôi vợ chồng sau nhiều năm bắt đầu xem ra giống nhau. Đúng như thế, vì sau nhiều năm, họ có thể một cách vô ý thức chấp nhận sắc mặt diễn tả của nhau, các kiểu cách, ngôn ngữ và sở thích của nhau, và như thế càng ngày họ càng trở nên giống nhau.  

Một cái gì tương tự có thể xảy ra trong cộng đoàn tu trì. Sự nhân nhượng lẫn nhau của cuộc sống chung cách không may có thể làm giảm thiểu tính cách riêng của chúng ta thành cái mẫu số chung thấp nhất. Chúng ta có thể bắt đầu nhìn thấy, suy nghĩ và hành động giống nhau, và như thế làm mờ nhạt đi sự phong phú của đặc tính duy nhất của chúng ta nhân danh các giá trị như sự bình an, tính hữu hiệu và ngay cả vì chính cộng đoàn. 

            Phải giữ tỉnh táo và nghị lực để vẫn duy trì là một cá vị trong khi sống trong một nhóm. Cũng phải xác tín rằng chính tính cách riêng tư của chúng ta nâng cao cộng đoàn trong đó chúng ta sống. Quả vậy, nếu chúng ta thành thật, chúng ta sớm nhận ra rằng chúng ta không muốn sống với những người quá giống chúng ta, có thể so sánh như sống trong một cái hộp gương phản chiếu lại hình ảnh của chúng ta.  

Chúng ta vừa thách đố vừa làm phong phú lẫn cho nhau nhờ tính cách riêng biệt của chúng ta. Có lẽ chúng ta có thể nói thế này: Nếu chúng ta hỏi Chúa “Hoa nào Chúa thích nhất?” Có lẽ Chúa sẽ không nói là hoa hồng, hay hoa phong lan, hay hoa thủy tiên, mà Chúa sẽ nói “Cả bó hoa!”  

Hy vọng cộng đoàn tu sĩ của chúng ta là những bó hoa tuyệt đẹp gồm nhiều loại khác nhau những bông hoa quí giá, duy nhất và hiếm hoi.  

 

6. ÂN BAN TIN RẰNG CHÚNG TA ĐƯỢC

    YÊU THƯƠNG    

Victor Hugo đã viết rằng “hạnh phúc tột đỉnh của cuộc sống là xác tín rằng chúng ta được yêu thương.”  

Trong cộng đoàn, những cá nhân nào cảm nhận được sự xứng đáng và tính dễ thương của mình thường là những người rất dễ sống với. Tại sao? Vì một điều thôi, là họ không cần phải chứng tỏ cho những người họ sống với là họ xứng đáng, qua những chiến thuật cũng như những lý luận dai dẳng, cạnh tranh không lành mạnh và nhu cầu kiểm soát thái quá.

             Xác tín rằng chúng ta được yêu thương đặt chúng ta thoải mái với người khác và làm cho chúng ta dễ dàng sống với họ. Các thành viên cùng sống trong cộng đoàn với chúng ta có thể gia tăng cảm giác về tính dễ thương của chúng ta là đích thật, nhưng chúng ta không được quá dựa vào họ để cảm thấy mình xứng đáng. Lòng tự trọng của chúng ta cũng có thể lớn lên qua mối tương quan của chúng ta với gia đình và bạn bè của chúng ta ở bên ngoài cộng đoàn, qua sứ vụ của chúng ta, và qua sự kết hiệp thân mật sâu xa với Chúa trong cầu nguyện.

 

 

7. ÂN BAN TÀI NĂNG HÀI HƯỚC

    

Một cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng một ngày cười một trăm lần tránh được bệnh tim mạch tương đương với mười phút chèo thuyền. Một cuộc nghiên cứu khác lại cho hay người có ý thức hài hước tốt làm việc tốt hơn, có tính cách sáng tạo và uyển chuyển hơn, có khả năng thực hiện các ý tưởng và phương pháp mới.

 

            Chắc chắn rằng cười là tốt cho cả thân xác lẫn linh hồn. Cười làm dịu bớt những căng thẳng của cuộc sống hằng ngày. Cười làm nên mềm mại những sắc cạnh của những cá nhân phải sống với nhau. Vì thế, chúng ta cần tinh thần hài hước. Nó có mặt khắp nơi, trong nơi chúng ta làm việc, trên báo chí, trên truyền hình, trong nhà thờ, trong hiệu buôn, trong gia đình chúng ta, và trong cộng đoàn địa phương của chúng ta. Việc nỗ lực tìm kiếm hài hước gia tăng cơ may cho chúng ta gặp được nó.

 

            Một cách khác để trau dồi ý thức hài hước là bằng cách nới rộng ra các viễn ảnh của chúng ta trên cuộc sống. Một tình trạng căng thẳng không phải là lúc bông đùa, nhưng về sau, khi chúng ta dừng lại và nhìn lui nó với một viễn ảnh rộng lớn hơn, chúng ta có thể bắt đầu khám phá được vài nét hài hước trong đó.

 

            Chúng ta cũng có thể nuôi dưỡng tinh thần hài hước bằng những cách khác, như đọc chuyện khôi hài, sách bông đùa, cắt các bức tranh biếm họa, sắp đặt các tranh quảng cáo ngộ nghỉnh, lướt qua những bài viết khôi hài, để thời giờ chòng ghẹo một ai đó hay trêu đùa người ấy. Khi chúng ta sống trong những thời khắc khó khăn, một cảm thức hài hước trở thành gần như cần thiết. Hài hước cũng liên kết mật thiết với đức tin, vì nó giúp chúng ta tin tưởng vào sự khéo léo và tình thương của Chúa hơn là tin tưởng vào các kỹ năng và sự thành thạo của chúng ta.

 

            Đó là bảy ân ban tài năng có thể giúp cho cuộc sống chung được dễ dàng. Một cá nhân không cần phải có tất cả bảy ân ban đó để trở nên một người tốt trong cộng đoàn. Không ai trong chúng ta được độc quyền về các ân ban tài năng. Mỗi người trong chúng ta sở hữu được một số ân ban tài năng nào đó và thiếu những ân ban tài năng khác. Nhưng chính nhờ đó mà có nét đẹp của việc sống chung với nhau. Tôi có thể có một ý thức hài hước tốt, nhưng tôi lại cần đến tính nhạy cảm của chị. Chị có thể lắng nghe tuyệt vời, nhưng chị lại cần ân ban tài năng của tôi để nói ra lưu loát những gì chị suy nghĩ. Nói cách khác, ân ban tài năng của người này đổ đầy sự thiếu sót của những người khác.

 

            Nhưng chúng ta không được chước miễn khỏi việc phát triển một số ân ban tài năng mà tự nhiên chúng ta không có được. Tất cả mọi ân ban tài năng đã được nêu trên phải được học hỏi và trau dồi, nếu chúng ta muốn. Hãy nhớ lại câu chuyện của Michelange.

 

            Và cũng hãy nhớ lại Chúa Giêsu. Rõ ràng Ngài cho thấy tầm quan trọng của những ân ban tài năng này bằng cách bộc lộ chúng ra trong chính cuộc sống của Ngài. Chúa đã lắng nghe tuyệt vời những tiếng kêu lớn giọng cũng như những tiếng kêu không lời ở chung quanh Ngài. Ngài đã làm phép lạ đáp lại tiếng kêu xin công khai của mười người phung cùi, cũng như nỗi lo âu không lời của người đàn bà góa ở Naim.

 

            Chúa Giêsu đã nói cách rõ ràng và hùng biện. Ngài đã phát ra những bài giảng tuyệt diệu, đã nói những câu chuyện không thể quên được, và Ngài đã thẳng thừng lên án những kẻ giả hình và biệt phái. Đồng thời Ngài đã nói riêng điều bí mật cho các tông đồ, thích thú những câu chuyện riêng tư với các bạn thân tín, và thường xuyên sống thân mật với Chúa Cha trong kinh nguyện. Ngài đã liều mình mạc khải những điều Ngài tin và cảm nhận với những người khác và đã chịu đóng đinh thập giá vì điều đó.

            Chúa Giêsu rất nhạy cảm: Khi người đàn bà bị bệnh loạn huyết chỉ chạm đến áo ngoài của Ngài mà Ngài cũng cảm nhận được nó. Khi người đàn bà góa bỏ hai đồng xu vào kho tàng đền thờ, Ngài cũng để ý thấy. Khi khách của ông Simon lẫm bẫm chống lại người đàn bà đã xức dầu thơm cho Chúa, Ngài cũng nghe thấy hết.

 

            Chúng ta có thể kết thúc suy niệm về các ân ban tài năng này bằng một lời cầu nguyện ngắn:

“Lạy Chúa là Đấng ban phát mọi ân ban tài năng, Chúa đã ban cho chúng con nhiều ân ban tài năng để sống chung với nhau – ân ban tài năng lắng nghe, ân ban tài năng ăn nói, nhạy cảm, kiên trì, là duy nhất, tin tưởng vào tính dễ thương và tinh thần hài hước. Xin làm cho chúng con càng ngày càng ý thức về những ân ban tài năng mà chúng con đã sở hữu, và xin giúp chúng con phát triển các ân ban tài năng mà chúng con còn cần đến. Xin cho chúng con biết quí trọng hơn các ân ban tài năng của chúng con, cũng như các ân ban tài năng của những cá nhân mà chúng con sống và làm việc với. Chúng con cảm tạ Chúa về tất cả những ân ban tài năng này nhân danh Chúa Giêsu, quà tặng lớn nhất của Chúa. Amen.”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

C. CỘNG ĐOÀN CẢM THÔNG     

(Slideshow CƯA BỚT THÁNH GIÁ)

 

I. MỜI GỌI CẢM THÔNG

 

Phúc cho ai thương xót người vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5:7): Chúa Giêsu đã hứa rằng vì họ cảm thông nên họ sẽ nhận được lòng thương xót.

 

Một người không cảm thông thì lạnh lùng, vô cảm “sống bên nhau mà như nước mây hững hờ…” Một người như vậy không thể đồng cảm với người khác, không thể thấu hiểu cái gì xảy ra trong họ và cho họ.

 

Sự vô cảm đưa tính ích kỷ và chỉ chăm lo bản thân đến độ thái quá (tự say mê mình, narcissisme: “tôi mê tôi”).

 

Trái lại, sự cảm thông đưa người ta đến với người khác và đồng cảm với họ (x. Đôi bạn Quản Trọng và Bảo Thúc Nha).

 

Cảm thông bao gồm khả năng nhận biết, kể cả tưởng tượng ra, hoàn cảnh thực tế của tha nhân.

 

Phim truyện, truyền hình và bây giờ các thực tế ảo của máy tính có thể đánh động trí tưởng tượng và các cảm nhận ở một mức độ sâu xa.

 

Người xem có thể bật khóc khi nghe những lời cuối cùng của Jeanne d’Arc trên giàn lửa thiêu. Ai cũng cảm phục câu trả lời khôn khéo của ngài: “Nếu tôi không có ơn nghĩa Chúa, xin Chúa dẫn tôi vào; nếu tôi đang sống trong ơn nghĩa Chúa, xin Chúa giữ gìn cho tôi.”

Tuy nhiên, việc phơi bày nỗi đau khổ của người khác có thể có phản tác dụng, chẳng hạn người xem có thể trở nên nhẫn tâm trước những điều trông thấy và bỏ đi.

 

Những hình ảnh truyền hình về chiến tranh, bạo lực trên trẻ em và phụ nữ động viên những người này chống chiến tranh, nhưng cũng có thể đóng lòng trí những người khác lại trước thực tế thương tâm ấy, kể cả phủ nhận nó và coi nó như là một cuốn phim đã được dàn dựng nên.

 

II. CẢM THÔNG VÀ CÔNG BẰNG

 

Thấy được mối liên hệ giữa cảm thông và công bằng, và biết rằng nếu không có cảm thông thì không thể sống cách công bằng được là điều quan trọng: tỏ sự bất bình và can thiệp khi người lớn bắt nạt trẻ nhỏ, người mạnh ăn hiếp người yếu… ‘KIẾN NGHĨA BẤT VI BẤT NGHĨA”

 

Do đó, việc lấy lại được cảm thức thương xót và coi nó như căn bản của bất cứ cảm thức luân lý và công bằng nào là điều rất quan trọng.

 

Cảm thông là tâm điểm của công bằng đích thực.

Nếu chúng ta nhìn thấy những người chung quanh chúng ta đau khổ mà kết luận là "do lỗi của chính họ", và nếu chúng ta nghe các nhà chính trị nói về sự cân bằng ngân sách trên lưng người lao động (người nghèo) mà vẫn thản nhiên, thì chúng ta đã đánh mất, không chỉ cảm thức cảm thông, mà còn đánh mất cả cảm thức của chúng ta về công bằng nữa.

 

Khi nghe có kẻ nói "Tại sao đồng tiền của người khó nhọc làm việc lại phải giúp cho những kẻ biếng nhác?", chúng ta phải thấy là “không ổn” vì không những lời nói đó có thể dựa trên những thông tin sai lầm, mà còn đánh giá thấp những người đau khổ, trẻ em, người già, thất nghiệp (x. dụ ngôn người làm từ giớ thứ 11), và tạo nên hố sâu giữa chúng ta và những người đang phải đau khổ.

 

Lời kêu gọi công bằng không phải là việc của một chọn lựa, song đúng hơn là việc của trách nhiệm.

 

Đó là một lời mời gọi căn bản đối với nhân tính.

Dù được các tôn giáo kêu gọi và hỗ trợ, công bằng tự nó thuộc bản chất của nhân tính. Ngay cả trẻ con cũng nhận ra cái gì là công bằng và cái gì là không công bằng, và chống lại những việc bất công.

 

Cái dễ làm cho chúng ta trở nên bất nhân đối với nhau chính là khuynh hướng thiết lập sự đối chọi "chúng ta - chúng nó."

Nếu chúng ta nhìn mình đối nghịch với tha nhân thì càng dễ trở nên độc ác hơn nữa.

 

III. TRỌNG TÂM ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

 

Một thực tế vừa phát triển vừa suy tàn trong thế giới hiện đại là khát vọng sống cộng đoàn, bởi vì thực tế đời sống cộng đoàn (sống hiệp nhất với) bị áp đảo bởi nhu cầu cá nhân bảo vệ chính mình (cá nhân chủ nghĩa).

 

Sống cộng đoàn có nghĩa là hợp nhất với nhau và cam kết trả cái giá của sự hợp nhất ấy: sẵn sàng cống hiến sự trợ giúp cũng như sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp.

 

Có một sự hỗ tương trong cộng đoàn đòi hỏi cả hai, vừa trao ban vừa lãnh nhận: Cộng đoàn không thể tồn tại nếu không có sự hiểu nhau và lòng cảm thông.

 

Mỗi thành viên được kêu gọi giúp đỡ chính mình, giúp đỡ người khác và để người khác giúp đỡ mình.

 

Cộng đoàn cảm thông phải được ưu tiên xây dựng trên lòng tín nhiệm và mối tương quan. Công trình này phải được thực hiện bởi các nỗ lực cá nhân và nhóm.

 

Hạt giống đã được gieo sâu vào văn hóa nhân bản (con người là con vật có tính xã hội cao), nhưng cần phải được nuôi dưỡng, nhất là vào thời điểm mà lòng cảm thông và nếp sống cộng đoàn bị đe dọa bởi sự tự vun quén cho bản thân của một số người.

 

Chúng ta cần được chuyển vào một giai đoạn liên đới quan trong của lịch sử con người. Nhu cầu đã tạo nên những khả năng để phát triển một thực tại dân sự mới, trong đó người ta đáp ứng nhu cầu của tha nhân mà không nhận thấy rằng lợi ích của nhiều người được gắn liền với lợi ích của chính họ, và ngược lại.

 

Nhiều người viết và nói đến giá trị của một “xã hội tốt đẹp” phối hợp lợi ích cá nhân với ý thức cộng đồng. Chúng ta thấy gương của những người đã kinh nghiệm một biến đổi nội tâm khiến họ chìa tay ra cứu giúp những người đang gặp khó khăn. Các nhóm tình nguyện là một tuyên bố hùng hồn rằng khi chúng ta chăm sóc những người khác là chúng ta giúp đỡ chính chúng ta, không ít hơn những ai chúng ta cứu giúp.

 

Thời đại mới đòi hỏi những cơ cấu mới phục vụ công ích.   Nếu chúng ta muốn phát triển những cơ cấu như thế, chúng ta sẽ cần đến những con người có quan tâm và khả năng thực hiện những quan niệm mới và những chương trình hành động mới.

 

Do đó, ta cần không ngừng đổi mới quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động, cách sống và cách yêu thương. Lòng cảm thông là cái cần phải có để mang lại sự đổi mới các yếu tố cộng đoàn rất cần thiết cho ngày hôm nay. Các cơ cấu nhân bản cần được trở về với một thực tại cảm thông hơn và chú tâm tới đời sống cộng đồng.

 

Cảm thức tùy thuộc lẫn nhau phải là tâm điểm của bất cứ cộng đoàn đích thực nào. Người ta không thể quay lưng lại với nhau: cùng đi trên một chiếc thuyền, để thuyền chìm thì cùng chết tất cả. Nhưng tinh thần thuộc về nhau này bị đánh mất vì cái tôi chủ nghĩa, và những hình thức bạo động chống đối và loại trừ lẫn nhau.

 

Cộng đoàn cảm thông vận hành một cách đúng đắn rõ ràng là nhu cầu thiết yếu cho thế giới hiện tại. Chính cộng đoàn cảm thông và công bằng làm cho hành trình thiêng liêng của chúng ta càng ngày càng tiến bộ.

 

IV. LÒNG CẢM THÔNG

     VÀ LẦM LỖI CỦA NGƯỜI KHÁC

 

Chúng ta đừng quên tiến trình chỉ bảo huynh đệ để sửa chữa lầm lỗi của người khác mà Chúa Giêsu dạy trong Phúc âm Mt.18, 15-17.

 

“Nếu anh chị em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa lỗi nó, riêng ngươi với nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được người anh chị em. Nếu nó không nghe ngươi, ngươi hãy kèm theo một/hai người nữa, để tất cả công việc được đoán định do miệng hai/ba nhân chứng. Nếu nó không màng nghe họ, hãy thưa với cộng đoàn…”

 

Một người có thể phạm lỗi cố tình hay vô tình, biết rõ hay không biết gì. Người có trách nhiệm có thể có hai thái độ hành xử:

-          hoặc là phòng bệnh,

-          hoặc là chữa bệnh.

Người cảm thông phòng bệnh đi bước trước, ngăn ngừa những ảnh hưởng tác hại từ bên ngoài, hay dập tắt ngay từ trứng nước cái mầm bệnh từ bên trong, để lỗi lầm không thể xảy ra.

 

Như người làm nông năng thăm vườn cây, khi phát hiện cây bị sâu bệnh liền phun thuốc diệt sâu bệnh hại cây, người cảm thông đón trước, khuyến cáo ngay lỗi lầm có thể, ngăn ngừa các ảnh hưởng và nguyên nhân từ bên ngoài, hay những yếu đuối từ bên trong thân phận con người.

 

Người cảm thông tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, cho người phạm lỗi biết lỗi, lắng nghe lời giải thích biện hộ, kết luận xác định đúng lỗi lầm, cho đương sự cơ hội và thời gian sửa chữa, và nhẫn nại giúp đương sự tập đức tính ngược lại, hy vọng vào kết quả sẽ có trong tương lai.

 

Như dụ ngôn cây vả của Chúa Giêsu: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?’ Nhưng người làm vườn đáp: ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi’” (Lk 13: 6-9)

 

Người thiếu cảm thông mới khám phá thấy lỗi lầm đã có biện pháp ngay, vì óc cầu toàn đòi hỏi và đốt giai đoạn, coi người khác như đã đạt tới trình độ của mình. Thật đáng tiếc!

 

Hoặc khá hơn, người thiếu cảm thông sẽ chờ đợi lỗi lầm trở nên rõ ràng để có biện pháp, nhất là khi người có lỗi che đậy, giấu giếm vì một lý do nào đó.

 

Cũng tùy thái độ ngoan cố và thiếu tinh thần phục thiện của người lầm lỗi, người thiếu cảm thông thường âm thầm theo dõi, hoặc tệ hại hơn, (ngược với sư phạm giáo dục đích thực), đặt người theo dõi và báo cáo, có khi còn “gài bẩy” cho mắc phải để đương sự không thể cãi lại, chữa mình hay chối cãi được nữa.

 

Một khi người lớn thẳng tay,                                                     Chao ôi, ngậm đắng nuốt cay thế nào,                                                               Nỗi lòng biết tỏ làm sao,                                                                Bất công đành chịu tuôn trào nước mắt,                                                            Nhiều phen muốn bỏ đi phắt,                                                       Ra sao mặc kệ số dắt số dìu!

 

Chớ gì tiến trình chỉ bảo huynh đệ của Chúa Giêsu được thực thi. Cha ông chúng ta cũng từng quan niệm: “Nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cãi, thị vị vô quá” (Đã là người thì ai ai cũng đều có lỗi, có lỗi thì sửa lỗi, và như vậy sẽ không còn lỗi nữa)

 

Tuy nhiên, để thực hiện lòng nhân ái ấy, chúng ta cần khéo léo sử dụng kỹ năng chỉ bảo huynh đệ “feed-back”, áp dụng vào Đào tạo và Tự đào tạo, cả về chiều dọc lẫn chiều ngang.

 

Người và ta, trên và dưới gặp được nhau, đối thọai được với nhau, hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp. Tiến trình này sẽ dễ dàng hơn khi cùng nhận ra hoạt động của Thiên Chúa xuyên qua các biến cố thăng trầm của cuộc đời. Gương David khiêm tốn nhận ra chương trình của Chúa trong cơn hoạn nạn chạy trốn khỏi chính con trai của mình: “Người đưa tin đến nói với vua Đavít: ‘Lòng người Ít-ra-en đã theo Áp-sa-lôm.’ Vua Đa-vít bảo toàn thể triều thần ở với vua tại Giê-ru-sa-lem: ‘Đứng lên! Chúng ta chạy trốn đi, vì chúng ta sẽ không thoát được Áp-sa-lôm. Đi cho mau, kẻo chẳng mấy chốc nó đuổi kịp chúng ta, giáng tai hoạ xuống chúng ta và dùng lưỡi gươm giết dân thành.’ Vua Đa-vít lên dốc Cây Ô-liu, vừa lên vừa khóc, đầu trùm khăn, chân đi đất, và toàn dân đi với vua ai cũng đầu trùm khăn, vừa lên vừa khóc. (2 Sm 15,13-14.30)

 

“Khi vua Đa-vít đến Ba-khu-rim thì kìa có một người từ đó đi ra. Y thuộc cùng một thị tộc với nhà Sa-un, và tên là Sim-y, con ông Ghê-ra. Y vừa đi ra vừa nguyền rủa. Y ném đá vào vua Đa-vít và tất cả bề tôi vua, mặc dầu có toàn thể quân đội và toàn thể các dũng sĩ ở bên phải và bên trái vua. Sim-y nói thế này trong lời nguyền rủa của y: ‘Cút đi, cút đi, tên khát máu, thằng vô lại! Đức Chúa đã đổ xuống đầu mày tất cả máu của nhà Sa-un, người đã bị mày chiếm ngôi, và Đức Chúa đã trao vương quyền vào tay Áp-sa-lôm, con mày. Và này, mày phải tai hoạ, vì mày là tên khát máu!”(2 Sm 16, 5-8)

 

“Ông A-vi-sai, con bà Xõ-ru-gia, thưa với vua: ‘Tại sao thằng chó chết này dám nguyền rủa đức vua là chúa thượng tôi? Xin cho tôi qua chặt đầu nó!’ Vua nói: ‘Chuyện của ta can gì đến các ngươi, hỡi các con bà Xõ-ru-gia? Nếu nó nguyền rủa và nếu Đức Chúa bảo nó: ‘Hãy nguyền rủa Đa-vít’, thì ai dám hỏi: ‘Tại sao mày làm nhý thế?’ Vua Đa-vít nói với ông A-vi-sai và tất cả bề tôi: ‘Này con trai ta, do chính ta sinh ra mà còn tìm hại mạng sống ta, huống chi là tên Ben-gia-min này! Cứ để nó nguyền rủa, nếu Đức Chúa đã bảo nó. May ra Đức Chúa sẽ đoái nhìn đến nỗi khổ cực của ta và Đức Chúa sẽ trả lại cho ta hạnh phúc, thay vì lời nguyền rủa của nó hôm nay.”  (2 Sm 16: 9-12)

 

 

 

 

 

V. CỘNG ĐOÀN VÀ ĐƯỜNG LỐI CẢM THÔNG

 

“Hãy trắc ẩn như Chúa hằng động lòng trắc ẩn” (Lk 6,36)

 

Người thời nay nhấn mạnh đến quyền lực kinh tế và sự thống trị chính trị. Nhiều ngýời lãng quên giáo huấn trọng tâm của Chúa Giêsu: “Anh chị em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh chị em

 

Cuộc sống chúng ta cách nào đó xa lạ với Chúa Giêsu, Đấng đã bước đi giữa dân chúng, chữa lành người ốm đau, nuôi ăn người đói khát, tha thứ cho người ngoại tình bị bắt, và dạy luật mới của tình yêu: yêu nhau như Chúa yêu, và yêu cả kẻ thù.

 

Cộng đoàn chúng ta phải làm chứng tá cho các giá trị Phúc âm như con đường canh tân cuộc sống và các mối tương quan, và truyền lại sức sống ấy cho thế giới đã lạc đường hay có lẽ đã “bán quyền trưởng nam đổi lấy bát cháo.”

 

Việc khám phá ra và thực sự sống sự phong phú của đời sống tu đức giúp chúng ta đạt tới một ý thức được canh tân về một cộng đoàn cảm thông và công bằng.

 

Tu đức nhắc nhở chúng ta rằng yếu tố quan trọng nhất của cuộc sống trên trần gian này được nối kết sâu xa với một cái gì lớn hơn thế giới này, tức Nước vĩnh hằng của Thiên Chúa, và ta phải nỗ lực thiết lập một nền tảng vững chắc cho một cộng đoàn nhân ái, cảm thông và công bằng, vốn là dấu chỉ và chứng tá của Nước Trời.

 

Kinh Thánh luôn nói đến tầm quan trọng của việc chăm sóc người nghèo, người đau khổ, cô nhi quả phụ, người đau ốm. Và cám õn Chúa, đó là một nét nổi bật của đạo Công giáo chúng ta.

 

Đối với Chúa Giêsu, lòng cảm thông trắc ẩn là phẩm chất nồng cốt trong đời sống của bất cứ ai lấy Chúa làm trọng tâm để bắt chước: “Hãy có lòng trắc ẩn như Cha trên trời hằng động lòng trắc ẩn” (x. Lk 6:36) - “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12:15).

 

(Hát ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG)

 

Sự bắt chước Chúa này vượt quá đầu óc duy lý của con người trần gian. Việc bắt chước Chúa Giêsu chú trọng tới cảm nhận nỗi đau của người khác, khiến chúng ta phải ra tay làm một cái gì để làm nhẹ bớt nỗi đau khổ đó. Việc cảm nhận lòng thương xót dẫn chúng ta đến từ tâm trong hành động.

 

“Ngày sabát kia, Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường. Ở đó, có một phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật đã mười tám năm. Lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được. Trông thấy bà, Đức Giêsu gọi lại và bảo: "Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền! " Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa. Ông trưởng hội đường tức tối vì Đức Giêsu đã chữa bệnh vào ngày sabát. Ông lên tiếng nói với đám đông rằng: "Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!“ Chúa đáp: "Những kẻ đạo đức giả kia! Thế ngày sabát, ai trong các người lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước? Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Xatan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sabát sao?" Nghe Người nói thế, tất cả những kẻ chống đối Người lấy làm xấu hổ, còn toàn thể đám đông thì vui mừng vì mọi việc hiển hách Người đã thực hiện” (Lk 13,10-17)

Chúa Giêsu kể câu chuyện vị tư tế và trợ tế đã tránh đi qua bỏ mặc người bị nạn trên đường Giêricô, trong khi người Samaritanô đã băng bó vết thương, mang vào quán trọ cứu giúp và trả tiền chăm sóc cho người ấy. Ngài đã coi người không bỏ đi là mẫu gương của người cảm thông.

 

Theo Chúa Giêsu, cộng đoàn nào bỏ đi khỏi người đang có nhu cầu nhất liều mình làm cho Chúa không hài lòng. “Kẻ nào áp bức người nghèo là lăng mạ Đấng dựng nên mình, còn kẻ nào tốt với người quẩn bách là tôn vinh Thiên Chúa” (Cn 14,31)

 

Chúa Giêsu nhận cho sứ mệnh mình câu định nghĩa của Isaia: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu sai tôi loan báo Tin mừng cho người nghèo khó, giải thoát kẻ tù đày, cho người mù được thấy, trả tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lk 4, 18-19).

 

Sự công chính đích thực mà Chúa mời gọi đòi hỏi một đáp trả sâu xa và cảm thông, hơn là một sự công bằng đơn thuần. Và thường chúng ta không đạt tới những đòi hỏi của Chúa.

 

Còn tệ hơn nữa là biết rõ những gì Chúa đòi hỏi, nhưng lại làm hỏng lời mời gọi đó bằng cách rao giảng và sống một sứ điệp thiếu cảm thông, thiếu ân cần đối với người nghèo, dù có nói là Giáo Hội ưu tiên chọn đứng về phía người nghèo, người bị bỏ quên, người quẩn bách, người đứng bên lề, người bị áp bức, người không có tiếng nói…

 

(Slideshow CHÚA GIÊSU NÓI GÌ TRÊN THẬP GIÁ?)

 

            “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.             Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2 Cr 1,3-4)

 

 

VI. CÔNG BẰNG BÊN TRONG

    CỘNG ĐOÀN CẢM THÔNG

    

“Hỡi dân Ta, Chúa đã tỏ cho ngươi biết cái gì là tốt, và cái gì Chúa đòi hỏi ngươi, nếu không phải là thực thi công bình, đối xử tốt với nhau và khiêm tốn bước đi cùng Chúa” (Mica 6:8) 

 

Trong đời sống phục vụ với tư cách là tu sĩ, nhiều việc chúng ta cho là bác ái, nhưng kỳ thực là việc của đức công bằng: chăm sóc một thành viên bị ốm thuộc về công bằng, chăm sóc một cụ già hàng xóm neo đơn… thuộc về bác ái.

 

Suy tư về từ ngữ bác ái và công bằng, chúng ta nhận thấy mỗi chữ có một cảm nhận khác nhau.

 

(Slideshow HÃY BIẾT ƠN CUỘC SỐNG)

 

Khi nghĩ tới bác ái, cái đến ngay trong trí chúng ta là những công việc của lòng từ tâm phát ra từ sự giàu có dư dật hay những cảm nghĩ cao thượng của chúng ta. Những việc này chúng ta không bị bó buộc phải làm, nhưng vì chúng ta động lòng.

 

Điều này cho chúng ta thấy hậu quả của lòng cảm thông trắc ẩn. Bị động lòng vì đau khổ của người khác, chúng ta làm một việc bác ái, nghĩa là chúng ta làm một việc gì đó không đòi hỏi chúng ta bị bó buộc phải làm.

 

Công bằng là một cái gì đi trước bác ái. Chúng là hai chị em ruột. Thiên Chúa rất công bằng, nhưng từ bi thương xót và hay tha thứ: Loài người phạm tội phải chết, nhưng Chúa đến cứu độ.

 

Công việc chữa lành không phải là bác ái, vì dân chúng có quyền có sức khoẻ và được giúp đỡ trong khi đau ốm. Cho người đói ăn là cho họ cái mà họ có quyền là của họ.

 

Sự sống, tự do và tìm kiếm hạnh phúc là quyền mà người dân phải có. Nhưng họ không thể có được những thứ đó, nếu họ không có lương thực, nhà ở, sức khoẻ, việc làm và giáo dục. Và Nhà Nước có bổn phận phải cung cấp cho họ.

 

Một xã hội đúng đắn nhìn nhận một số quyền căn bản mà tất cả mọi người đều được hưởng. Dân chúng thường coi hệ thống trợ cấp như một thứ quỹ có thể được tiếp tục hay bị cắt bỏ vì nó là một hình thức bác ái của nhà nước. Nhưng không phải như vậy đâu.

 

Kỳ thực, đó là một trong những đường lối mà Nhà Nước chu toàn các yêu sách về công bằng đối với dân chúng của mình. Mọi người đều có một đòi buộc về công bằng.

 

Hành động một cách đúng đắn là một đặc tính của một con người tốt cũng như của một xã hội tốt. Một người công bằng không chỉ trực tiếp quan tâm đối với cộng đồng gia đình mình, nhưng cũng đối với cộng đồng rộng lớn hơn là quốc gia và Giáo hội, có thể trải rộng ra cả thế giới.

 

Sống công bằng là một thách đố.

Người ta quan tâm đến người nghèo, cô nhi quả phụ, và người đau ốm vì đức công bằng đòi hỏi như vậy. Dù chúng ta chấp nhận hay không, bác ái có một yếu tố là làm cái gì chúng ta có khả năng, hay do lòng tốt của chúng ta, nếu chúng ta có thời gian rảnh rỗi hay tiền bạc dư thừa.

Trái lại, công bằng đòi hỏi chúng ta làm tất cả những gì chúng ta phải  làm, bất kể cái giá phải trả. Như một phần thiết yếu của cuộc sống tốt, đức công bằng là mối quan tâm và trách nhiệm của mỗi người chúng ta.

 

Công bằng là một lời mời gọi cá nhân, dựa trên tình nhân loại, và cũng là một đức tính cần thiết của các cơ cấu tốt, hệ thống tốt và chính quyền tốt.

 

Nếu chúng ta không công bằng trong cuộc sống và hoạt động của chúng ta, nếu chúng ta không có những hệ thống tốt, và nếu chính phủ của chúng ta không thực thi chức năng của mình cách công bằng với tất cả mọi người, thì bác ái trở nên một trợ lực thiết yếu bù đắp cho một thực tế bất công của thế giới quanh chúng ta.

 

Trải qua lịch sử nhân loại, đã có những thời kỳ đức công bằng rất yếu nên vai trò của bác ái trở nên thiết yếu. Thường công việc bác ái của các Giáo Hội, của những hiệp hội thiện nguyện, của những người thiện chí cố gắng bù đắp cho những bất công của chính phủ và của thế giới thương mại.

 

(Slideshow NHỮNG VẤN ĐỀ MÂU THUẪN)

 

            Cái khó khăn là chỉ có bác ái không thể bù đắp cho những bất công trên mức độ rộng lớn. Do đó cần có tiếng kêu của các liên minh vì công bằng. Công bằng và cảm thông phải cùng nhau hành động. Chúng ta bịt mắt lại với bất công khi chúng ta không thể cảm thông.

 

Chúng ta có thể khoan dung cho bất công bằng cách tự nhủ rằng “vì họ thích như vậy”, hay “vì họ khác chúng ta”, hay “vì họ không cảm nhận sự việc cùng đường lối với chúng ta”. Chúng ta tách mình ra với tâm thức “chúng ta - chúng nó”. Dù giải thích thế nào đi nữa, chúng ta hỗ trợ cho bất công, và chúng trở nên có lỗi.

 

Phải đối mặt với bất công. Chúng ta cần nói với các hệ thống và cơ cấu đã tạo nên các nạn nhân, các người đau khổ vì những bất công căn bản của chúng.

 

Chúng ta cũng cần quan tâm đến những người phạm vào bất công vì họ cũng phải gánh chịu hậu quả hành vi của họ, cả khi họ không ý thức rằng họ bị hạ thấp đến mức nào do các chọn lựa của họ.

 

Công bằng và bác ái phải sát cánh bên nhau. Công bằng mà không có bác ái có thể trở nên lạnh lùng và vô cảm. Bác ái mà không có công bằng sẽ không thể tiếp cận với hết những ai phải đau khổ. Mọi cá nhân, hiệp hội, chính phủ và các hệ thống đều cần phải vừa công bằng vừa bác ái.

 

Đòi hỏi đó còn cao hơn đối với cộng đoàn tu sĩ chúng ta, qua chứng tá cá nhân và tập thể cho tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con… Cứ dấu này mà thiên hạ nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con hãy yêu thương nhau” ; và đối với thế giới: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến đỗi ban Con Một Ngài cho thế gian được sống” (Ga 3,16)

 

(Hát CON XIN ĐỨC ÁI)

 

 

 

 

 

 

 

 

D. CÁC XUNG ĐỘT CỘNG ĐOÀN                                            VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT

 

Chúa biết rõ các vấn đề của chúng ta hơn chúng ta: “Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,8).

 

I. CỘNG ĐOÀN LÀ NƠI CÁC THÀNH VIÊN

    CÓ THỂ GIẢI QUYẾT CÁC XUNG ĐỘT

 

Xem ra lạ lùng là cộng đoàn lành mạnh hơn có khả năng có những xung đột, nhưng với định nghĩa: “xung đột là có khác biệt.”

 

Tuy nhiên, xung đột thường có một ý nghĩa tiêu cực: đụng chạm, kỳ cục với nhau, chống nhau… Nhưng xung đột không cần phải được nhìn trong đường lối tiêu cực này.

 

Xung đột có thể được nhìn như một phần của tiến trình sáng tạo. Có thể chị em là thành viên của một nhóm tranh luận, trong đó các tư tưởng và ý kiến có thể xem ra kỳ cục. Tuy nhiên, những người có các ý kiến xung đột không chống nhau, ngay cả khi tư tưởng họ khác biệt nhau.

 

Mặc dù những lời nói nảy lửa bay ra, nhưng chị em không sợ, mà vẫn đứng vững. Nhóm trăn trở mong nắm chắc các vấn đề phức tạp đang có. Nếu không có xung đột lành mạnh, tức có các ý tưởng khác biệt nhau, nhóm không thể đạt tới sự hiểu biết đầy đủ vấn đề được.

 

Những nhóm có một thái độ thân hữu đối với xung đột sẽ có khả năng sống cộng tác với nhau hơn. Xung đột không đưa tới chiến tranh, nếu nó được hiểu là khác biệt hơn là đối chọi: bất đồng mà không bất hòa.

 

Khi các thành viên được mời gọi có khác biệt và biểu lộ các khác biệt của mình vì công ích, thì sẽ ít có giận dữ. Một giận dữ lớn nổi lên trong cộng đoàn khi ý tưởng bị hiểu lầm hay phớt lờ đi, chẳng được đếm xỉa tới.

 

II. NhỮng đẶc tính cỦa cỘng đoàn

giẢi quyẾt tỐt các xung đỘt

 

Những cộng đoàn làm tốt với các xung đột có những đặc điểm này:

-          Có một hiểu biết tích cực về sự xung đột: Xung đột là một phần của tiến trình sáng tạo.

-          Đồng ý có khác biệt và giải quyết để yêu thương.

-          Nỗ lực để hiểu biết những khác biệt của nhau.

-          Xem xung đột như một tiến trình khó khăn phải vượt qua, chứ không phải một vấn đề nan giải.

-          Chấp nhận sự giận dữ khi nó nổi lên. Một cách nghịch lý là thái độ chấp nhận của cộng đoàn làm giảm thiểu các cơ hội nổi giận.

-          Có khả năng khoan dung với tình trạng nhập nhằng không rõ ràng, vì khi cho phép có những lập trường khác biệt thì ít cần đến một phương pháp cứng nhắc.

-          Có ý hướng học lắng nghe nhau và lắng nghe Chúa.

-          Có những đường lối chính thức và không chính thức để vượt qua các khác biệt và khẳng định lẫn nhau.

 

 

 

 

III. NhỮng đẶc tính cỦa cỘng đoàn

     có khó khăn vỚi các xung đỘt                         

 

Những cộng đoàn có những khó khăn đối với các xung đột có các đặc điểm này:

-          Có một thái độ tiêu cực đối với các xung đột: tin rằng xung đột và chiến tranh là như nhau.

-          Không hiểu vai trò của xung đột hay khác biệt trong tiến trình sáng tạo.

-          Chống nhau vì những khác biệt: coi ai cũng như ai, không có khác biệt. Thay đổi coi như mối đe dọa.

-          Coi xung đột như một vấn đề: khả thể có xung đột phải được loại trừ bất cứ khi nào có thể.

-          Không chấp nhận giận dữ: Bởi vì giận dữ không được bộc lộ đầy đủ sẽ trở thành oán giận biểu lộ ra trong những con đường che đậy, giấu giếm.

-          Không thể chấp nhận tình trạng không rõ ràng:

            Đời sống và sứ vụ của cộng đoàn sẽ dễ dàng hơn, nếu Cộng đoàn thoải mái hơn với sự đúng/sai, cách của chúng ta/cách của chúng nó.

 

Lưu ý luận lý bây giờ không phải là lưỡng giá, mà là đa giá trị: “chọn lựa của người lớn phức tạp hơn nhiều con ạ, không phải không trắng là đen, không tròn là méo, mà còn cái chọn lựa miễn cưỡng, bất đắc dĩ” (“Đứa trẻ đến từ Thiên đường”) 

 

Tưởng rằng họ lắng nghe nhau vì lắm lần họ chỉ giả định là giống nhau, mặc dầu không phải.

 

Mặc dầu hết lòng hiến dâng cho Chúa, họ dựa vào các lãnh đạo tôn giáo để giải thích ý Chúa.

 

Tìm giải quyết các xung đột bên ngoài cộng đoàn trực tiếp của mình (x. “đóng cửa dạy nhau”).

 

(Hát KINH HÒA BÌNH)

 

IV. MẤu chỐt cỦa vẤn đỀ

 

Một cách nào đó, hầu hết các cộng đoàn rơi vào giữa hai nhóm này: dễ và khó giải quyết xung đột. Quả thế, đa số cộng đoàn bị lúng túng về cách đáp ứng của mình đối với các xung đột.

 

Bỏ ra một số thời giờ suy nghĩ về hai viễn tượng này là rất hữu ích đối với các cộng đoàn tu. Tiến trình tranh luận thực sự về xung đột theo một đường lối khách quan là hữu ích.

 

Ta không thể có được một cuộc tranh luận hữu lý về lập trường của mình liên quan đến xung đột cộng đoàn khi ta đang ở giữa lòng cuộc chiến!

 

Một số cộng đoàn khó tìm được một diễn đàn hay một cuộc hội thảo về cách giải quyết xung đột. Họ sợ nói về sự xung đột và tránh tranh luận về nó. Họ giống như đám trẻ con tin rằng khi cha mẹ chúng cãi nhau thì họ sắp sửa ly dị đến nơi rồi!

 

Tuy nhiên, khi cộng đoàn tranh luận về thái độ của mình và lên kế hoạch để giải quyết xung đột thì nỗi sợ hãi của những ai sợ sự xung đột cộng đoàn sẽ bị giảm sút đi.

 

Thật hữu ích khi ta nhìn thẳng vào lãnh vực mà trong đó cộng đoàn đã có xung đột. Nhờ vượt lên trăn trở về các vấn đề đó, ta có thể đánh giá việc cộng đoàn đã xử lý thế nào với chúng trong quá khứ.

 

Ta cũng có thể thấy rõ sự việc còn tồn đọng đó như thế nào và ai là người còn bị tổn thương.

 

(Hát CHÚNG CON CẦN ĐẾN CHÚA)

 

            V. MỘT SỐ XUNG ĐỘT ĐIỂN HÌNH

    TRONG CỘNG ĐOÀN TU

           

Dưới đây là một số lãnh vực xung đột tìm thấy trong các cộng đoàn tu:

-          Những bất hòa cá nhân: hiểu lầm, những cảm nhận bị tổn thương giữa các cá nhân.

-          Những bất đồng liên quan đến đường lối lãnh đạo và sự bảo dưỡng nhóm: các vấn đề liên quan đến quyền hành, tiền bạc, cơ sở và tài sản của cộng đoàn.

-          Sứ vụ: cái gì cộng đoàn tin là phải làm hay nên làm.

-          Giáo thuyết, thực hành đức tin và đời sống tu trì, đường lối chung của Giáo Hội.

-          Những chuẩn bị hướng tới Tổng Tu Nghị: đào sâu linh đạo, tìm lại đặc sủng của vị sáng lập, những thách đố mới, những người lãnh đạo tương lai…          

-          Các vấn đề và thực hành xã hội: ngày nay có nhiều vấn đề về giới tính: thủ dâm, kế hoạch hóa gia đình, giới tính tiền hôn nhân, phá thai, xu hướng tính dục, độc thân, đồng tính luyến ái, vai trò của phụ nữ, những vấn đề nổi cộm về nhân quyền và dân quyền…

-          Sự thay đổi: Các cơ cấu sợ thay đổi và thay đổi được kinh nghiệm như sự đe dọa. Thay đổi là hậu quả của một thế giới đang đổi thay: “Này đây Ta làm mọi sự nên mới”         (Kh 21:5)

-          Thay đổi như cộng đoàn đang bắt đầu sẽ bị một số người hoài vọng “những ngày xưa tốt lành” coi như sự đe dọa nguy hiểm.

    

O tempora o mores! Thời nào phong tục ấy!            Thời thế thế thời phải thế!

 

“Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải. Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải” (2 Cr.5: 17-19)

 

            Khi hiểu xung đột là vì có khác biệt thì tìm giải quyết xung đột là cùng nhau đi tìm mẫu số chung cho những khác biệt. Công cuộc tìm kiếm mẫu số chung này là một áp dụng của “biện chứng pháp tiến lên”, nhờ đó sự hòa hợp ngày càng gia tăng và sự hiệp thông cộng đoàn sẽ được thực hiện.

 

Tiền đề ↔ Phản đề → Hợp đề

 

            Hợp đề này lại trở thành một tiền đề mới, có một phản đề mới tương ứng, sản sinh ra một hợp đề mới tương ứng... Và cứ thế mà tiến triển và tiến bộ.

 

            Xin đừng quên lời dặn của cha ông mình:

     “Khôn ngoan đối đáp người ngoài,                               Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

    

Khi tìm được mẫu số chung thì người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp.

 

“Anh chị em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh chị em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh chị em người này có điều gì phải trách móc nưýời kia. Chúa đã tha thứ cho anh chị em, thì anh chị em cũng vậy, anh chị em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh chị em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo”  (Cl 3,12-14)

 

“Vì thế, anh chị em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa kia, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh chị em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh chị em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Eph 4: 22-24)

 

(Hát BÀI CA YÊU THƯƠNG)

 

 

E. CỘNG ĐOÀN HIỆP THÔNG

 

I. VÀO ĐỀ

 

Tại sao chúng ta cần suy tư thần học về công đoàn hiệp thông? - Vì đó là nhu cầu và xác tín của tu sĩ chúng ta, được huấn quyền Giáo Hội xác nhận.

 

Quả thế, cộng đoàn tu sĩ đưýợc khai sinh bởi một lời mời gọi của Thiên Chúa. Nói cách khác, cộng đoàn tu sĩ là kết quả của một lời đáp trả của con người.

 

Số 1a văn kiện “Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn” tuyên bố:  “Tình yêu Chúa Kitô đã qui tụ một số đông môn đệ để họ trở nên một, để như Ngài và nhờ Ngài, trong Chúa Thánh Thần, qua dòng lịch sử, họ có thể đáp lại tình yêu của Chúa Cha, yêu mến Ngài ‘hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn’ (x. Dnl 6,5) và yêu thương cận nhận như chính mình (x. Mt 22,39)”.

Được sinh ra không phải “bởi ý muốn xác thịt”, cũng không phải do sự hấp dẫn của con người hay bởi những động lực nhân loại, song bởi Thiên Chúa (x. Ga 1,13), bởi lời kêu gọi và sự hấp dẫn của Thiên Chúa, cộng đoàn tu sĩ là dấu chỉ sống động của tình yêu ưu tiên của Chúa, Đấng thực hiện những điều kỳ diệu, và cũng là dấu chỉ của tình yêu cho Chúa và cho anh chị em, như đã được biểu lộ và thực hành bởi Chúa Kitô.

 

Bởi đó, cộng đoàn tu sĩ là một thực tại thần học, là kết quả của một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Cả nguồn gốc sâu xa và mục đích tối hậu của cộng đoàn tu sĩ đều có tính cách thần học. Vì thế, chúng ta cần học hỏi và suy tư về cộng đoàn tu sĩ với tinh thần đức tin.

 

II. MỤC TIÊU HỌC HỎI

 

Mục tiêu của cuộc học hỏi này là suy tư tính cách thần học về nguồn gốc, sự hiện hữu và mục đích của cộng đoàn tu sĩ.

 

Do đó, chúng ta sẽ đề cập đến:

-          nền tảng Thánh Kinh của cộng đoàn tu sĩ, với chú ý đặc biệt về các linh hứng Phúc âm.

-          sự tăng trưởng có tính cách thần học và tu đức của cộng đoàn tu sĩ bên trong lịch sử Giáo Hội.

-          căn tính của cộng đoàn tu sĩ trong Giáo Hội hiện đại và sứ mệnh của Giáo Hội trong thế giới hôm nay.

 

III. KINH NGHIỆM VỀ SỰ PHÂN MẢNH

 

Kinh nghiệm chung của con người hôm nay là sự phân mảnh, ở mọi cấp độ và mọi lãnh vực cuộc sống. Chúng ta thấy sự phân mảnh hiện nay về các thực thể địa lý, chính trị: Liên bang Sô viết cũ tách ra thành nhiều thực thể quốc gia và chính trị. Những xung đột quốc gia ở Trung Đông vẫn dai dẵng giữa Israel và Palestine. Những chia rẽ về dân tộc thiểu số và các bộ lạc.

 

Tôn giáo là một yếu tố rõ nét trong sự phân chia dân chúng và các cộng đồng: xung đột Công giáo - Hồi giáo ở Indonesia, xung đột Ấn giáo - Hồi giáo ở Ấn độ, v.v…

 

Cả những tương quan về giống cũng bị phân mảnh và tương quan nam-nữ vẫn chưa được chữa lành. Toàn cầu hóa mang lại tình trạng loại trừ, phân biệt đối xử và bất bình đẳng. Trong nhiều quốc gia, người nghèo, phụ nữ và trẻ em bị gạt ra bên lề.

 

Việc phá hủy môi trường tự nhiên, phá hủy văn hóa bản xứ và làm băng hoại các giá trị nhân bản càng gây thêm sâu hơn nữa tình trạng phân mảnh.

 

Sự phân mảnh cũng tác động ở mức độ cá nhân: Cuộc sống cá nhân xem ra đánh mất sự duy nhất nội tâm và cấu thành, cũng như sự phô diễn ra bên ngoài và định hướng của mình. Đúng hơn là xem ra nó bị lèo lái bởi những thúc đẩy của tình trạng phân tán, phân mảnh và tha hóa.

 

Do đó lời mời gọi thăng tiến những liên hệ của tình liên đới trở nên cấp bách. Phải thay đổi tình trạng loại trừ, gạt ra bên lề và bất bình đẳng do nền văn hóa phân mảnh ngày nay mang lại. Cũng cần nuôi dưỡng một não trạng sinh thái, nghĩa là tất cả mọi vật được tạo thành đều kết nối với nhau, bổ túc lẫn nhau, có cùng một số phận, phá hủy một cái sẽ gây nên những hậu quả sinh tử.

 

(Slideshow BÀI HỌC QUÉT LÁ)

 

Đứng trước bối cảnh phân mảnh đó, tìm kiếm hiệp thông quả thật là một việc phức tạp. Nó bao trùm mọi cấp độ và mọi khía cạnh của cuộc sống: liên chủng loại, liên sắc tộc, liên quốc gia, liên cộng đồng, liên nhân vị và nội tại trong mỗi con người nữa. Do đó, nó đòi hỏi một câu trả lời phức tạp, toàn thể và hòa hợp. Cái mà con người ngày nay cần đến là một hiệp thông đời sống vừa trao ban vừa nhận lãnh cách hỗ tương.

 

IV. KINH NGHIỆM TÌM KIẾM HIỆP THÔNG

 

Ở Nhật, người ta thiết lập những đường điện thoại dành cho các trẻ em không thuộc nhóm nào, và cũng mở ra cho những người cần có ai đó để nói chuyện.

 

Một buổi tối nọ, nhà tư vấn tâm lý Nishiga nhận một cú điện thoại. Một cậu bé hỏi: “Tôi có thể nói chút việc được không ạ?” Rồi cậu thêm: “Mà xin lỗi, đừng cúp máy nhé!”

 

Nishiga bảo đảm với cậu bé rằng ông vẫn giữ đường dây. Rồi cậu bé hỏi: “Tôi muốn cảm nhận như tôi đang nói với một người nào đó, được không ạ?” Nishiga lại bảo đảm với cậu bé là cậu cứ việc nói. Cậu bé đáp: “Cám ông ông” Rồi cậu im lặng.

 

Ba phút sau, cậu lên tiếng hỏi: “Ông có còn đó không ạ?” Nishiga hỏi cậu đang nghĩ gì. Và cậu bé trả lời: “Tôi rất vui vì có một người chịu để mất thời giờ cho một ai đó như tôi.” Và cậu còn thêm: “Tôi có thể gọi lại không ạ?” Rồi cậu cúp máy.

 

Rõ ràng cậu bé cần kết nối. Cậu tìm một người đồng hành. Biết bao nhiêu người trẻ trên thế giới cùng trải qua cùng kinh nghiệm tìm kiếm ấy. Thật chẳng may, nhiều người trong họ kết cục nhập bọn với đám trẻ đường phố, hay tương tự như thế.

 

Tương tự, nhiều người lớn cũng đi tìm người đồng hành, tìm tình bạn. Và nhiều người đã gia nhập vào bất cứ nhóm nào họ gặp: đủ thứ câu lạc bộ và hiệp hội, nhóm cầu nguyện, ngay cả các nhóm giáo phái…

V. KHAO KHÁT HIỆP THÔNG LÀ RẤT NGƯỜI

 

Hiệp thông là cái con người hôm nay tha thiết ao ước. Hãy nghe Henri Nouven nói: “Chúng ta thực sự ao ước cái gì? Khi tôi cố gắng lắng nghe ước muốn sâu xa nhất của chính tôi, cũng như ứớc muốn của kẻ khác, thì xem ra từ ngữ tốt nhất để tóm tắt ước muốn của trái tim con người là HIỆP THÔNG.

 

Hiệp thông có nghĩa là “hiệp nhất với”. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một trái tim sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi nào tìm được sự hiệp thông trọn vẹn.

 

Chúng ta tìm sự hiệp thông nơi tình bạn, nơi hôn nhân, nơi cộng đoàn. Chúng ta tìm hiệp thông trong sự thân mật giới tính, trong những lúc xuất thần, trong sự nhận biết các ân ban của mình. Chúng ta tìm hiệp thông qua thành công, thán phục và phần thưởng.

 

Hiệp thông là một khao khát do Chúa ban, một ước ao mang lại đau khổ miên man cũng như vui sướng bao la. Chúa Giêsu đã đến tuyên bố rằng khao khát hiệp thông của chúng ta sẽ không ra vô ích, nhưng sẽ được lấp đầy bởi Đấng đã ban cho chúng ta khao khát ấy.

 

Những khoảnh khắc hiệp thông chóng qua chỉ là dấu hiệu lờ mờ của Hiệp thông mà Chúa hứa cho chúng ta. Chúng ta phải đối mặt với một nguy hiểm thực sự là nghi ngờ sự khao khát hiệp thông của chúng ta. Hiệp thông là khao khát Chúa ban mà nếu không có nó thì cuộc sống chúng ta mất đi sức sống và con tim chúng ta ra giá lạnh.

 

Một đời sống thiêng liêng đích thực là một đời sống trong đó chúng ta không tìm được an nghỉ cho đến khi nào tìm được nghỉ ngơi trong vòng tay của Đấng là cha và mẹ của mọi khao khát.

 

VI. HIỆP THÔNG VỚI CHÚA

 

Cựu Ước thấm đậm ý muốn sáng tạo - hiệp thông của Giavê và khao khát đi vào trong sự hiệp thông với Thiên Chúa của Israel (nhân loại).

 

Sự khao khát hiệp thông hỗ tương hay đi theo này bắt nguồn từ ý muốn tự do cao cả của Giavê, khi kêu gọi, tuyển chọn và cam kết với Israel, thiết lập với Israel một mối liên hệ mật thiết.

 

Chúng ta lùi lại thời điểm sáng tạo để thấy ước muốn của Thiên Chúa làm cho nhân loại trở thành một phần của sự hiệp thông của Ngài khi Ngài phán: “Chúng ta hãy làm nên con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…” (St 1, 26).

 

Cái mà Thiên Chúa quyết định dựng nên phải có mối liên hệ với Ngài. Việc sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa nhằm đến cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người.

 

Tạo Hóa dựng nên một tạo vật tương ứng với Ngài: một ai đó mà Ngài có thể nói với và kẻ đó lắng nghe Ngài.

 

Nhưng phải lưu ý rằng từ ngữ “con người” là một từ ngữ tập thể. Vì thế, liên quan đến việc sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, chúng ta không được nghĩ đến một con người cá vị hiện hữu, mà phải nghĩ đến tất cả mọi người, tức nhân loại. Nhân loại đã được tạo dựng để trở nên đối tác của Thiên Chúa.

 

Tên “Giavê” được mạc khải cho Mosê và cho dân chúng chỉ rõ ý tưởng của Thiên Chúa là “ở với” hay “cho” Israel. Giavê “ở với” Israel: sự hiện diện trở nên cánh tay hữu hình trong cuộc giải phóng của biến cố Xuất Hành và xuyên suốt lịch sử của dân tuyển chọn.

 

Thiên Chúa hằng sống luôn xuất hiện cho Israel như vị Thiên Chúa cho con người, một Thiên Chúa luôn mong muốn đem con người đi theo mình.

 

Ước muốn hiệp thông hay sự gần gũi của Thiên Chúa với con người là một đề tài rất được nhấn mạnh. Chẳng hạn trong những mô tả liên quan đến các tổ phụ: Enoch “bước đi với Chúa” (St 5,22, 24), Noe “một người công chính bước đi với Chúa” (St 6,9).

 

Tương quan trực tiếp với Chúa không được tái lập sau Đại hồng thủy: sự yếu đuối của con người đặt mình giữa Thiên Chúa và con người, tạo nên một hố sâu quyết định giữa con người với Thiên Chúa.

 

Ngay cả với Abraham cũng đã được nói “bước đi trước mặt Chúa” chứ không phải “bước đi với Chúa” (x. St 17: 1). Thiên Chúa không đến “bước đi với” con người nữa (x. St 3,8), mà chỉ đơn giản hiện ra trong thị kiến (x. St 17,1; 35,9).

 

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng với Abraham, Thiên Chúa bắt đầu phục hồi sự hiệp thông của Ngài với con người. Ngài muốn là Chúa của Abraham và miêu duệ ông (x. St 17, 8b), một diễn tả nhắm đến sự đi theo, sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và dân Người.

 

Những biến cố lớn của nỗ lực về phía Thiên Chúa để phục hồi sự hiệp thông của Ngài với con người là: Lời hứa cam kết vĩnh viển với Abraham và miêu duệ ông, cuộc giải phóng Israel khỏi ách nô lệ Ai cập (x. Xh 6, 6-7), và việc xây dựng Đền Thờ, nhờ đó Ngài luôn luôn hiện diện giữa dân (x. Xh 25,8; 29, 45-46).

Bước thứ tư đòi hỏi cam kết của Israel là chu toàn các chỉ thị phượng tự và tuân giữ giới răn của Chúa. Trong sách Lêvi, Thiên Chúa tuyên bố: “Nếu các ngươi theo các quy tắc của Ta, tuân giữ các mệnh lệnh của Ta và đem ra thực hành, Ta sẽ đặt nơi ở của Ta giữa các ngươi, và sẽ không chán ghét các ngươi. Ta sẽ đi đi lại lại giữa các ngươi; Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta” (Lv 26, 3, 11-12). 

 

 

F. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG

    MỘT CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG THỰC SỰ

 

I. Bài hỌc tỪ đàn ngỖng trỜi

 

Chị em hãy nhìn xem đoàn ngỗng trời di trú bay sang một vùng đất ấm áp hơn để tránh mùa đông. Hãy lưu ý rằng chúng bay theo đội hình chữ “V” Có lẽ chị em sẽ thích thú khi biết tại sao chúng làm như vậy.

 

Chị em sẽ cầu nguyện và quyết tâm hõn để xây dựng Hội Dòng và cộng đoàn mình thành một cộng đoàn yêu thương thực sự. Xin Chúa chúc lành cho tất cả chị em.

 

Đàn ngỗng trời đang sắp xếp bay thành đội hình chữ V. Nhưng chúng chưa thực hiện được đội hình bay hiệu quả…  vì một con còn bay đơn độc một mình

 

Bài học 1

Khi có cùng một lòng một chí hướng và làm việc liên kết với nhau, chị em sẽ đạt đến mục tiêu nhanh hơn và dễ dàng hơn. Nhờ giúp đỡ lẫn nhau, công việc chị em thực hiện được sẽ lớn hơn.

Khi một con ngỗng lìa bỏ đội hình…Nó sẽ cảm nhận sức cản của gió và những khó khăn khi bay một mình. Bấy giờ nó sẽ mau chóng quay trở lại trong đội hình, để hưởng lợi ích sức mạnh của nhóm bay đàng trước nó.

 

Bài học 2

Đừng ai tự mình rời bỏ cộng đoàn, và cộng đoàn cũng đừng lìa bỏ hay cô lập ai. Khi sống ăn khớp và hiệp nhất bên cạnh những người cùng đi theo một chí hướng, chị em sẽ bớt gắng sức hơn. Như thế, chị em sẽ đạt đến mục đích dễ dàng và vui thú hơn. Chiều hướng chung của mọi người là chấp nhận và sẵn sàng giúp nhau.

 

            Thánh Phaolô nhắc nhở về đời sống cộng đoàn: "Anh chị em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh chị em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí“ (Eph 2,19-22)

 

Khi con ngỗng đầu đàn bay đã mỏi mệt…Nó sẽ lui vào cuối đội hình chữ V, trong khi một con ngỗng khác sẽ bay lên dẫn đầu…

 

Bài học 3

Công cuộc lãnh đạo là một vinh dự, nhưng cũng là một gánh nặng, mọi người cần phải biết tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ trong mọi lúc… Chị em hãy luôn sẵn sàng chia sẻ những vấn đề và những phận vụ khó khăn nhất của Bề Trên...

Người lãnh đạo cũng sẽ được tận tình nâng đỡ, nếu biết chia sẻ với người dưới… Người lãnh đạo phải biết khôn khéo qui tụ các năng lực và kết hợp các khả năng, tài năng và các nguồn nhân lực vật lực của các thành viên lại với nhau và sử dụng đúng người đúng việc…

 

            Cái thành công lớn nhất của người lãnh đạo là chuẫn bị cho có người sẽ thay thế mình, qua tiến trình bốn bước:

-          Dạy cho người ta làm,

-          Giúp người ta làm,

-          Để người ta làm

-          Và mình rút lui, vì sứ mệnh đã hoàn thành.

 

Các con ngỗng trời bay trong đội hình chữ V kêu quang quác để khích lệ những con bay ở tuyến đầu. Nhờ cách đó, chúng giữ cùng một tốc độ với nhau.

 

Bài học 4

Khi có được khích lệ và can đảm, sự tiến bộ chung sẽ lớn hơn. Một lời khích lệ đúng lúc luôn thúc đẩy, giúp đỡ và tăng sức mạnh… Nó sẽ sản sinh ra những lợi ích tốt nhất cho cộng đoàn.

 

Khi một con ngỗng trời bị ốm, bị thương hay bị mệt…Và nó phải lìa bỏ đội hình… Một số những con ngỗng khác cũng lìa bỏ đội hình để bay với nó, giúp đỡ và bảo vệ nó. Chúng ở lại với nó cho đến khi nó chết hoặc có thể bay trở lại theo kịp nhóm đội của chúng, hoặc chúng sẽ tạo nên một đội hình chữ V khác và bầy đàn tiếp tục được phát triển.

 

Người bệnh, yếu mệt, lầm lỗi trong cộng đoàn chị em được đối xử thế nào? Có được như ngỗng trời không? Mỗi người đều chịu trách nhiệm về sự thăng trầm và có khi ra đi của một người chị em nào đó.

 

Cô đơn chớ để một ai,                                        

Thử thách dồn dập nhạt phai dần dần.                                                  

 

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2 Cr 1,3-4)

 

            Chị em đừng bao giờ quên đi rằng một khi từ bỏ gia đình tự nhiên mà vào Dòng, chị em có một đại gia đình thiêng liêng với nhiều thế hệ, và việc dấn thân tuyên khấn trong linh đạo và truyền thống Hội Dòng càng biến gia đình ấy thấm đậm tình người và tình Chúa, vừa nhân loại vừa thiêng liêng. Có ai tự chặt bớt tay chân mình đi không? Hay đành lòng nhìn thấy tay chân mình bị cắt lìa?

 

Bài học 5

Chị em hãy ở lại sát cánh bên nhau, bất chấp những khác biệt của nhau, đặc biệt trong những lúc khó khăn và những thách đố lớn lao của mỗi người.

 

Nếu chị em sống ràng buộc với nhau và trợ giúp lẫn nhau, nếu chị em làm cho tinh thần đồng đội trở nên thực sự… chẳng bận tâm đến những khác biệt của nhau…, chị em có thể đương đầu được với các thách đố cam go của chị em.

 

Nếu chị em hiểu được giá trị của tình bạn thân thiết đích thực, và không lo sợ nhầm lẫn đồng hóa nó với “đồng tính luyến ái”, để rồi nói vô nói ra, phân biệt đối xử, cô lập nhau,…

 

Nếu chị em ý thức đầy đủ về tình gia đình thiêng liêng của mình, chị em sẽ tìm mọi cách thích hợp để bảo vệ, phát triển và thăng tiến nó, vì việc dấn thân tuyên khấn trong linh đạo và truyền thống Hội Dòng thực sự đã đưa chị em vào một gia đình thấm đậm tình người và tình Chúa, vừa nhân loại vừa thiêng liêng, trong mối tương quan của tình mẩu tử và tỉ muội.

 

Nếu chị em ý thức được lợi ích của cảm nhận được chia sẻ và cộng tác…CUỘC SỐNG SẼ TRỞ NÊN DỄ DÀNG HƠN VÀ CỘNG ĐOÀN CHỊ EM SẼ PHONG PHÚ HƠN.

 

Hát CON XIN ĐỨC ÁI)

 

II. MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

 

1. Quà tặng tình yêu chăm sóc

Không phàn nàn lẫn nhau. Mỗi người là quà tặng, là biểu lộ tình yêu và chăm sóc của Chúa cho nhau. Tạ ơn Cha trên trời vì đã qui tụ chị em lại với nhau:

“Chị em vui sống một nhà,                                                         Bao là tốt đẹp bao là sướng vui”

 

            2. Dụ ngôn tình yêu và hiệp thông

Đừng quên rằng mỗi người là một dụ ngôn tình yêu và hiệp thông của Chúa Thánh Thần, để làm cho con đường dẫn tới đức tin được dễ dàng hơn cho những ai chưa biết Chúa Giêsu Kitô (chiều kích truyền giáo).

 

3. Thánh Giá, đường theo Chúa

Hãy sẵn sàng từ bỏ chính mình, chấp nhận thánh giá (vốn là con đường theo Chúa Kitô), bởi vì một cộng đoàn đích thực chắc chắn có khả năng từ bỏ và chết đi cho chính mình (chiều kích khổ chế): “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”

 

 

4. Cộng đoàn Dòng là Tổ Ấm

Cộng đoàn vệ tinh sở tại không phải là cộng đoàn duy nhất của chị em. Mỗi thành viên đều sống trong sự tùy thuộc của mình với Hội Dòng (Nhà Mẹ). Dù ra khỏi nhà, chị em không bao giờ ra khỏi cộng đoàn, “ly hương bất ly tổ”: Chị em luôn luôn ở trong Cộng đoàn Hội Dòng.

 

            Mỗi người sẽ sẵn sàng để được sai đến bất cứ nhà nào của Hội Dòng hay đảm trách bất cứ sứ vụ nào Hội Dòng trao cho. Vì đi tu là phải chấp nhận một cuộc sống bất định:

-          có thể được sai đến nơi mình không muốn,

-          ở với người mình không ưa,

-          và làm việc mình không thích.

 

5. Gắn bó với cộng đoàn cầu nguyện

Một cộng đoàn cầu nguyện chung với nhau sẽ luôn ở lại gắn bó cùng nhau. Hãy làm cho cộng đoàn của chị em sống như "cô dâu" đích thực của Chúa Giêsu, luôn luôn cầu nguyện trong sự kết hiệp mật thiết với "Chú Rễ".

 

            Hãy làm cho cộng đoàn của chị em trở nên phản ánh đẹp đẽ của Giáo Hội cầu nguyện. Chị em phải cảm thấy buồn lòng vì sự vắng mặt của một thành viên khỏi giờ cầu nguyện của cộng đoàn. Đừng quên cầu nguyện cho người chị em vắng mặt ấy, dù vắng mặt vì bất cứ lý do gì.

 

6. Sự Tự Do của con cái Chúa

Nếu chị em là con cái của Cha trên trời, chị em đừng bắt nhau phải sống như những người nô lệ, trái lại phải sống với tự do của những con người có phẩm giá là con cái của Thiên Chúa. Không một ai có quyền bẻ gãy tình huynh đệ nền tảng ấy: "Các ngươi đều là anh chị em với nhau."

 

            Trong cộng đoàn, mỗi người nên được tự do nói và bộc lộ đúng như mình suy nghĩ. Dĩ nhiên lời nói cuối cùng và quyết định tối hậu phải thuộc về Bề Trên. Điều đó sẽ dẫn đến vâng lời đối thoại và vâng lời trưởng thành trong mối hiệp thông xây dựng cộng đoàn.

 

Nếu người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp. Đáng tiếc là lắm khi thiếu đối thoại và giải thích thỏa đáng.

 

7. Tinh thần liên đới cộng đoàn

Tất cả chị em phải tham dự vào việc quản trị cộng đoàn, chứ không phải chỉ một vài thành viên lấy mọi quyết định thay cho cả cộng đoàn.

 

Mỗi người đều có quyền nói lên ý nghĩ và bày tỏ quan điểm của mình trong sự tôn trọng lẫn nhau vì ích lợi chung của cộng đoàn. Hãy thực thi tự do của con cái và ngôn sứ của Chúa, cả khi việc đó có thể làm cho bản thân chị em phải đau khổ, miễn là nó làm gia tăng sự hiệp thông huynh đệ và phát triển cộng đoàn.

 

            Sứ vụ tiên tri là vừa loan báo điều tốt lành vừa tố cáo điều xấu. Tuy sứ vụ tố cáo điều xấu và bất công là một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, tu sĩ phải đóng vai trò chỉnh sửa vì “kiến nghĩa bất vi bất nghĩa”

 

            Dĩ nhiên phải khôn khéo nói làm sao cho người ta có thể nghe được, mà vẫn theo đúng nguyên tắc của thánh Phêrô: “Các ông nghĩ thế nào cho phải lẽ trước mặt Chúa, vâng lời các ông hay là vâng lời Chúa hơn” (Tđcv 4,19) – “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người” (Tđcv 5,29)

 

 

8. Nhận diện Chúa Giêsu trong người nghèo

Đừng bỏ quên người nghèo. Hãy mở rộng cửa nhà chị em cho họ. Hãy biến họ thành những vị khách được ưu đãi của chị em. Chúa Giêsu đến viếng thăm chị em qua họ. Hãy dành cho họ một chỗ trong nhà, một chỗ nơi bàn ăn của chị em.    

 

            Chớ gì chị em không bao giờ phải chịu đựng nỗi bối rối và ân hận, vì đã xua đuổi Chúa của chúng ta đang ẩn mình nơi người cùng khổ (x. Mt 25)

 

9. Công đoàn gần gũi dân chúng

Hãy là một cộng đoàn gần gũi với dân chúng. Hãy thường xuyên đối thoại với họ bằng cuộc sống và hành động, như Chúa Giêsu đã từng làm.

 

            Tuy nhiên, đừng đánh mất căn tính tu sĩ của chị em trong quá trình đó, khiến người ta khó chịu: “Tu gì vậy mà tu?” Hãy hòa đồng chứ không đồng hóa: Dân chúng cần đến chị em với tý cách chị em là tu sĩ.

 

10. Cộng đoàn hiệp thông

Hãy là một cộng đoàn vừa ở trong nhà vừa ở ngoài sứ vụ,

            vì cuộc sống chị em vừa chiêm niệm vừa hoạt động, nghĩa là vừa xuất thế vừa nhập thế. Hãy tránh mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa, để khỏi đánh mất những đặc tính tối ưu của sứ vụ cộng đoàn là tinh thần hiệp thông.   

 

            Đối với một tu sĩ, một việc nhỏ mọn được thực hiện trong tinh thần hiệp thông có giá trị và ý nghĩa hơn một kế hoạch lớn lao làm theo quan điểm cá nhân chủ nghĩa. Hiệp nhất trong sứ vụ là một dấu hiệu hùng hồn của Nước Chúa.

 

            Như trên đã nói, chị em hãy sống tinh thần Hội Dòng là một đại gia đình gồm nhiều thế hệ, luôn biết đón nhận nhau, yêu thương tha thứ, quên bỏ lỗi lầm và xây dựng cho nhau: “Dập dìu kẻ trước người sau, sức riêng một ít góp vào lợi chung”

 

III. TÂM SỰ CỦA CHA MẸ GIÀ CHO CON

 

            Chị em hãy lắng nghe những lời tâm sự của cha mẹ cho con cái. Đó cũng là những lời tâm huyết của các Đấng Bề Trên và của thế hệ các tu sĩ lớn tuổi cho thế hệ tu sĩ trẻ hôm nay.

 

Chị em hãy nghĩ đến các Đấng Bề Trên, những người đồng hành đào tạo, những vị cao niên, những người đi trước Chị em, vốn đã dày công hy sinh vất vả để đào luyện, nâng đỡ, dìu dắt Chị em bằng cuộc sống đầy gương sáng và lời cầu nguyện không ngừng của các ngài.

 

Chị em hãy tri ân các ngài, cầu nguyện và nâng đỡ các ngài, ngõ hầu trong những ngày cuối đời, chờ đợi giờ Chúa gọi về nhà Cha, các ngài cảm nhận được đền đáp, an ủi, yêu thương, bình an và hạnh phúc. Hy vọng đến lượt Chị em, thế hệ mai sau cũng làm cho Chị em như vậy.

 

Con yêu dấu...

 

Ngày nào con thấy cha mẹ quá già, thì con cố nhẫn nại và thông cảm cho cha mẹ, nghe con.

 

Nếu cha mẹ tay chân run rẩy, ăn uống đổ lên đổ xuống… Hãy thông cảm và nhớ lại ngày con còn bé cha mẹ nhẫn nại bón cơm cho con ăn như thế nào!

“Ngồi buồn ta nhớ mẹ xưa,

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương!”

 

Hãy nhớ lại số thời giờ mà cha mẹ đã bỏ ra để dạy cho con biết bao điều khi con còn thơ… Nếu cha mẹ cứ nói đi nói lại mãi một điều… Hãy cố lắng nghe, con nhé! 

 

Khi con còn bé, con vẫn muốn cha mẹ đọc đi đọc lại mãi một chuyện, từ đêm này sang đêm kia, cho đến khi con thiếp ngủ. Và cha mẹ đã chiều con…

 

Nếu cha mẹ không còn siêng năng tắm rửa như trước, thì đừng la rầy cha mẹ và nói rằng như vậy là điều nhục nhã. Hãy nhớ lại cha mẹ phải tìm ra bao nhiêu sáng kiến để cho con chịu tắm lúc con còn bé thơ.

 

Nếu thấy cha mẹ không biết gì về những công nghệ mới, thì đừng chế nhạo cha mẹ, mà hãy để từ từ cho cha mẹ hiểu ra. Cha mẹ đã dạy con biết bao nhiêu điều… dạy ăn… dạy mặc… dạy đối xử… dạy phương cách cho con đương đầu với cuộc sống…

 

Nếu thỉnh thoảng cha mẹ quên đi điều gì, hay không theo kịp điều con nói thì con hãy để cho cha mẹ đủ thì giờ mà nhớ lại,  và nếu cha mẹ không nhớ ra, thì đừng cau có cằn nhằn nghe con, bởi vì điều quan trọng nhất đối với cha mẹ là muốn được ở cạnh con và nói chuyện với con thôi.

 

Dù khi con còn nhỏ dại, hay bây giờ đã lớn khôn, hằng đêm hằng đêm cha mẹ vẫn luôn cầu nguyện cho con… Dù con đi đâu hay làm gì, thì tình thương và lời cầu nguyện của cha mẹ vẫn hằng theo con.

 

“Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người. Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con. Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó, và các tội con sẽ biến tan như sương muối biến tan lúc đẹp trời. Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa” (Hc 3,12-16)

 

Khi cha mẹ không muốn ăn thì đừng có ép nữa! Cha mẹ biết khi nào mình đói và khi nào thì không.

 

Khi chân cha mẹ không còn sức để bước đi, con hãy đi chậm lại, đừng hối thúc và lôi kéo mạnh tay nghe con… Con hãy giúp cha mẹ như xưa kia cha mẹ đã từng giúp con chập chững đi những bước đầu đời…

 

Rồi đến ngày kia, khi cha mẹ nói rằng mình không còn muốn sống nữa… con chớ noåi giận lên… vì sẽ đến lúc, tới lượt mình, con sẽ hiểu vì sao.

 

Con hãy cố hiểu rằng đến một tuổi nào đó, người ta không còn thực sự sống nữa, nhưng chỉ tồn tại với đời sống thực vật mà thôi.

 

Một ngày kia, con sẽ hiểu rằng, mặc cho bao nhiêu sai lầm, cha mẹ lúc nào cũng muốn điều tốt đẹp nhất cho con và đã chuẩn bị tương lai để con sống cuộc sống trưởng thành.

 

Con đừng buồn khổ hay bối rối trước tuổi già và thể trạng của cha mẹ. Con cứ ở cạnh cha mẹ, gắng hiểu lối sống của cha mẹ, và cố gắng hết sức mình như cha mẹ từng cố gắng hiểu con ngày con mới ra đời.

 

Hãy giúp cha mẹ bước đi… giúp cha mẹ hoàn tất cuộc đời với tâm tình yêu thương và nhẫn nại.

 

Cách duy nhất để cha mẹ còn có thể cám ơn con, ấy là nở với con một nụ cuời kèm với cả yêu thương.

 

Cha mẹ yêu con lắm, con ơi !

Cha mẹ của con…

 

Tôi chuyển cho bạn vì những lời này làm tôi rất xúc động. Và tôi nghĩ rằng hẳn là bạn cũng cảm động như tôi.

(Slideshow MẸ!)

 

IV. LỜI CỦA CON TRẺ CHO CHA MẸ

 

Sau đây, xin chị em cũng hãy lắng nghe những ước nguyện của con cái đối với cha mẹ. Đó cũng là lời nói chân thành của các thành viên trẻ đang trải qua các giai đoạn đào tạo thưa với Bề Trên và các vị hữu trách.

 

1. Đôi tay con quá bé nhỏ, xin cha mẹ đừng trông đợi sự hoàn hảo khi con tập tễnh làm việc nọ việc kia…

 

Đôi chân con quá ngắn, xin cha mẹ đi chầm chậm để con có thể bước theo kịp cha mẹ.

 

Và khi con không thể đi kịp, xin cha mẹ cổ chờ con với, đừng bỏ con lại một mình trên đường đời…

 

2. Đôi mắt con không nhìn được thế giới như cha mẹ đã nhìn thấy,  xin cha mẹ để cho con được khám phá từ từ... và xin cha mẹ đừng hạn chế con một cách không cần thiết.

 

3. Công việc vẫn luôn bề bộn, nhưng con còn quá nhỏ đối với một lượng công việc như thế trong một thời gian ngắn. Xin cha mẹ hãy sẵn lòng dành thời gian giải thích cho con các việc liên quan đến thế giới kỳ diệu này.

            4.  Các cảm nhận của con còn non nớt, xin cha mẹ vui lòng nhạy cảm với các nhu cầu của con, những mong đợi của con, những lo sợ của con, cả những chán nản và không còn muốn cố gắng nữa của con…

    

            Xin cha mẹ đừng lúc nào cũng rầy la con, và nhắc lại lầm lỡ cũ của con. Xin cha mẹ hãy cho con cơ hội và thời gian để đổi mới. Xin cha mẹ hãy đối xử với con như cha mẹ đã muốn được đối xử khi còn nhỏ.

 

            5. Con là một quà tặng đặc biệt Chúa gửi đến cho cha mẹ, xin cha mẹ hãy trân trọng và giúp con đạt tới lý tưởng tương lai của con như Chúa mong muốn.

 

            Xin cha mẹ coi con có trách nhiệm về các việc làm của con và giúp con phát triển các tài năng của con. Xin cho con những chỉ dẫn để sống, và bắt con giữ kỷ luật một cách đầy yêu thương.

 

6.  Con cần  được cha mẹ động viên và khích lệ để lớn lên, chứ không phải những lời chỉ trích. Xin cha mẹ vui lòng giữ mình đừng lúc nào cũng chê bai chỉ trích con. Xin cha mẹ nhớ rằng cha mẹ có thể chỉ trích những việc con làm, chứ không chỉ trích bản thân con, như Chúa ghét tội, nhưng vẫn hằng yêu thương tội nhân.

 

            7.  Xin cha mẹ vui lòng cho con được tự do có những quyết định liên quan đến chính con, đến ơn gọi và cuộc đời của con như Chúa muốn.

 

Xin cho phép con được vấp ngã, nhờ đó con có thể học được từ những lầm lỗi của con mà nên tốt hơn, vì mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.

 

            Như thế, nhờ rút tỉa được bài học kinh nghiệm quá khứ, con sẽ đứng vững và được chuẩn bị để một ngày kia lấy những quyết định mà cuộc sống đòi hỏi ở con.

 

            8.  Xin cha mẹ đừng làm các việc thay con. Việc đó làm cho con buồn lòng cảm thấy các nỗ lực của con không đáp ứng được những trông đợi của cha mẹ.

 

            Con biết như vậy là khó khăn cho con, nhưng xin cha mẹ hãy dạy con cách làm, giúp con làm, rồi để con làm, và đừng so sánh con với các anh chị của con.

 

9.  Xin cha mẹ đừng sợ vắng mặt khỏi nhà. Trẻ con cần có những lúc không có cha mẹ, giống như cha mẹ cần có những lúc  không bận vướng con cái.

 

10. Xin cha mẹ thường xuyên đưa con đến nhà thờ, nêu cho con một gương tốt để noi theo. Con thích thú được học hỏi thêm về Chúa.

 

Đó cũng có thể là lời của những người mới bắt đầu tiến trình tu luyện nói với các nhà đào tạo đòi hỏi những tiêu chuẩn đánh giá quá cao, so với trình độ tuổi tác, kiến thức, sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của họ.

 

            Thánh Phaolô đã viết: “Tôi đã cho anh em uống sữa, chứ không phải đồ ăn cứng, bởi khi ấy anh em chưa sao chịu nổi, mà cả bây giờ anh em cũng chưa chịu nổi đâu!” (1 Cr 3,2)

 

Còn chính Chúa Giêsu lại phán: “Thầy còn nhiều điều cần nói với các con, nhưng hiện giờ các con không thể hiểu nổi. Khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ dắt các con đi vào Chân Lý toàn vẹn, vì Ngài không tự mình mà nói, nhưng sẽ nói mọi điều Ngài nghe và báo cho các con những gì sẽ đến” (Ga 16,12-13)

Xin cha mẹ, Bề Trên và các nhà đào tạo hãy nhẫn nại cho con. Không ai một sớm một chiều mà nên trưởng thành và  hoàn hảo ngay được. Xin đừng đốt giai đoạn. Đốt giai đoạn là đốt cháy luôn cả cuộc đời con.

 

Chúa Giêsu phải thực sự là TÂM ĐIỂM của đời sống cộng đoàn trong Chúa Thánh Thần…  

Chớ gì mỗi thành viên cộng đoàn thực sự sống điều Chúa Giêsu dạy: "Điều Thầy truyền cho các con là hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" - "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" - "Các con là bạn hữu của Thầy nếu các con tuân giữ những diều Thầy truyền dạy." 

Quả thế, khi Chúa Giêsu thực sự là TÂM ĐIỂM đời sống cộng đoàn của chị em trong Chúa Thánh Thần, cộng đoàn chị em sẽ mở ra với thế giới, và thế giới sẽ hiệp nhất và được cứu độ. 

LẠY CHÚA THÁNH THẦN, XIN CHÚA TIẾP TỤC CHO ĐẾN HOÀN THÀNH TỐT ĐẸP TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG HỘI DÒNG CHÚNG CON THÀNH CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG THỰC SỰ MÀ CHÚA ĐÃ KHỞI SỰ CHO CHÚNG CON VÀ VỚI CHÚNG CON.  AMEN.

Tác giả Lm. Trần Minh Huy, pss

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!