Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
  Tủ Sách - Chủ Đề
  Suy Tư - Chiêm Niệm
  Văn Hóa - Xã Hội
  Y Tế - Giáo Dục
Mục Lục

Chương I : Đào sâu và thực hành đặc sủng và linh đạo dòng

Chương II : Củng cố những bước đầu phân định và sống ơn gọi

Chương II : (tiếp)

Chương III : Con đường sống thánh

Chương III : (tiếp)

Chương IV : Đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm

Chương V : Sống triển nở đời sống cộng đoàn, yếu tố sống còn của tu sĩ

Chương V : (tiếp)

Chương VI : Sống tốt đời sống độc thân thánh hiến trong bối cảnh hôm nay

Chương VI : (tiếp)

Chương VII : Sống viên mãn ba lời khấn dòng

Chương VII : (tiếp)

Chương VIII : Những thời khắc quyết định

Phụ lục I

Phụ Lục II

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Người Nữ Tu Sống Tu Đức Toàn Diện
Tác giả: Lm. Trần Minh Huy, pss
CHƯƠNG VII : (TIẾP)

B. BA LỜI KHẤN DÒNG

    Ơn gọi vào đời sống thánh hiến là triệt để đi theo Chúa Giêsu. Đó là lời kêu gọi tới một sự biến đổi con tim nhân loại qua các Lời Khuyên Phúc Âm. Ba Lời Khấn đụng chạm đến ba lãnh vực của con người:

·        Tình cảm - Đức Thanh Khiết

·        Sở hữu của cải - Đức Khó Nghèo

·        Quyền lực - Đức Vâng Lời

 

Mỗi người sống ơn gọi tu sĩ đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà ta có định hướng đúng hay định hướng sai lầm. Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái Tôi: khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị/quyền lực. Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh Khiết, Khó Nghèo, Vâng Lời.

Trong cả hai định hướng này, chúng ta kinh nghiệm sự có mặt của những thúc đẩy của con người tự nhiên: vui thích, tăng trưởng, cho đi và lãnh nhận. Sự kiện này luôn mời gọi chúng ta hoán cải/thay đổi định hướng cuộc sống: Mỗi quyết định trong cuộc sống nhằm mang đến một thay đổi tốt đẹp hơn. Hoán cải là làm nổi lên một căn tính mới; là làm cho chúng ta nhìn thấy thế giới trong một đường lối mới mẻ và khác biệt; đồng thời mang lại một biến đổi triệt để cuộc sống bản thân, tương tác với mọi mối tương quan.

 

 

I. LỜI KHẤN VÂNG LỜI

 

1. Ý NIỆM DẪN NHẬP

 

Trong luật của thánh Biển Đức, vâng lời xem ra là một thành phần căn bản của đời sống đan viện. Cùng với lòng kiên vững và sự hoán cải đời sống, vâng lời là đối tượng của lời hứa hay lời khấn. Nội dung của nó rất phức tạp. Vâng lời bao gồm: Giới răn của Chúa; Các Phúc Âm; Đời sống chung.

 

Tuân phục tất cả những cái đó là tốt về mặt luân lý cho ý muốn của vị bề trên hợp pháp được coi như vị trung gian của Ý Chúa (đặc tính đầu tiên của vâng lời tu sĩ).

 

Tuy nhiên quan niệm này không có nền tảng Thánh Kinh. Thật đúng rằng Chúa Giêsu được trình bày trong Tân Ước như kiểu mẫu của đức vâng lời:

·        Ga 4,34: “lương thực của Ta là thi hành ý muốn của Cha”

·        Phil 2,8: Chúa Kitô vâng lời cho đến chết”

·        Dt 5,8: “Ngài học vâng lời…”

·        Lk 2,49tt: “con phải ở trong nhà của Cha con”

Nhưng đó là sự vâng lời Thiên Chúa, chương trình cứu độ của Ngài, ý muốn của Ngài cho Chúa Giêsu. Ý muốn mà Chúa Giêsu khám phá ra trong: Thánh Kinh; Các biến cố; Lời cầu nguyện.

 

Như Chúa Giêsu, người tín hữu vâng lời Thiên Chúa xuyên qua cuộc sống của mình, lắng nghe Phúc Âm như chính lời của Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa của câu nói “ai nghe các con là nghe Thầy” (Lk 10,16), vì mỗi người phải vậng phục Phúa Âm (Rm 10,16) và lời giảng đức tin (Rm 1,5).

 

2. PHÂN BIỆT RÕ VÂNG LỜI VÀ TÙNG PHỤC

 

Từ ngữ vâng lời được Tân Ước sử dụng trong cụm từ mối tương quan của một người với Thiên Chúa, ví dụ sự vâng lời của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha.

 

Khi đó là những mối tương quan giữa các con người với nhau thì ngữ vựng vâng lời hầu như không bao giờ được sử dụng: người ta nói đến sự tuân phục (nhất là thánh Phaolô)

 

Các điểm qui chiếu về sự tuân phục trong thánh Phaolô:

·        Phải tuân phục trật tự được thiết định, tuân phục xã hội dân sự (Rm 13,1tt)

·        Phải tôn trọng các cơ cấu gia đình (vợ chồng, cha mẹ, con cái): Col 3,18-21; và các cơ cấu xã hội (chủ tớ): Col 3,22-24.

·        Trong cộng đoàn kitô, tuân phục lẫn nhau: Eph 5,21.

·        Đối với những người lãnh đạo cộng đoàn, thay vì đòi hỏi sự tuân phục, thánh Phaolô khuyến dục “họ hãy đặt mình phục vụ các thành viên của mình”: 1 Cor 16,15-16.

·        Còn đối với các thành viên, ngài ra lệnh rằng họ phải kính trọng các vị lãnh đạo và nâng đỡ họ trong nhiệm vụ phục vụ của họ: 1 Th 5, 12-13; phải tùng phục những ai thực thi sứ vụ thánh và những ai cộng tác với họ trong Giáo Hội: 1 Cor 16,16.

·        Như thế không có chỗ nào trong Tân Ước xuất hiện ý tưởng rằng một người có thể đòi hỏi sự vâng lời dưới bất cứ yêu sách xã hội nào.

 

Trái lại, Chúa Giêsu nói cách rất thận trọng với tất cả những ai có một chỗ đứng đặc biệt trong cộng đoàn kitô:

·        Họ không nên hành động như những vị chúa tể, không thống trị, cũng không độc tài (Mk 10,41-44).

·        Không tự cho mình các tước vị (là Cha, là Thầy v.v..): Mt 23,8-12.

·        Nhưng tốt hơn, phục vụ và rửa chân cho người khác: Ga 13,14-15.

·        Những điều này không vọng lại nhiều trong các cộng đoàn tu!

 

            Vâng lời Thiên Chúa, thánh ý và kế hoạch của Ngài như được diễn tả ra trong các Phúc Âm và trong giáo huấn kitô là bó buộc cho tất cả những kẻ tin (mệnh lệnh kitô)

 

            Các mối tương quan với con người và ở bên trong các cộng đoàn được đặt trên sự chấp nhận lẫn nhau, tuân phục và trợ lực (đó là bối cảnh sự tuân phục của một người đối với người lãnh đạo của nhóm). Điều này áp dụng cho tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng cho tu sĩ.

 

            Đàng khác, việc trình bày nhà lãnh đạo như vị trung gian đặc ân cho ý muốn của Chúa trong cuộc sống cụ thể của người tín hữu xem ra thiếu nền tảng Thánh Kinh.

            Nếu đời sống thánh hiến thích nghi kiểu mẫu này thì đó là từ văn hóa, lịch sử, chứ không phải từ Thánh Kinh (xem cấu trúc phẩm trật gia trưởng Hy lạp tự do… Cấu trúc này tồn tại qua dòng lịch sử và tìm được nhà trong các nền văn hóa vốn được cấu trúc theo phẩm trật).

 

3. THỰC HÀNH VÂNG LỜI

    TRONG VIỄN ẢNH LỊCH SỬ

 

            Bắt đầu với Sa mạc: việc thực hành đức vâng lời phát triển hai thành phần được kể như các phương tiện để lớn lên:

·        Vâng lời như TỊCH LIÊU (Solitude): đòi buộc rằng người nào muốn trở thành thầy dòng hay chị dòng phải sống ít năm dưới sự hướng dẫn thiêng liêng của một tổ phụ hay tổ mẫu dày kinh nghiệm trước khi đi vào tịch liêu.

·        Vâng lời như TỪ BỎ: hình thức khổ hạnh thiêng liêng.

 

Xem ra khuynh hướng đan viện khởi thủy không tương ứng với tất cả đường lối tu đức của Chúa Giêsu trong Tân Ước (đặc biệt dựa trên một khía cạnh của đời sống Chúa Giêsu: cơn cám dỗ của Chúa Giêsu ở trong sa mạc)

 

Trong Tân Ước, vâng lời trước tiên được xem như một phương tiện tăng trưởng. Tân Ước không nói tới việc hãm dẹp ý muốn của một con người, nhưng nói đến sự kết hiệp với ý muốn cứu độ của Chúa Cha. Tân Ước không nói tới sự Tuân Phục, nhưng nói đến đức Vâng Lời (lắng nghe)

 

            Các môn đệ sẽ phải sẵn sàng cho những từ bỏ khó khăn nhất, kể cả mạng sống nếu cần, nhưng chỉ khi họ được đòi hỏi như vậy vì sứ mệnh của họ.

 

 

4. THẦN HỌC THÁNH KINH VỀ VÂNG LỜI

 

a. Chúa Kitô vâng lời Chúa Cha: việc Chúa Giêsu chu toàn ý muốn của Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài, là thái độ thường xuyên của Ngài: Ga 8,29.55, một thái độ luôn luôn lắng nghe là một nét đặc trưng của thần trí Chúa Giêsu.

 

            Việc giải thích rằng Chúa Giêsu coi Torah như được tóm tắt lại trong hai giới răn yêu thương chỉ rõ cùng một hướng: Mt 22, 37-40. Trọn vẹn ý muốn của Chúa tập trung lại nơi Tình Yêu.

 

            Các qui tắc Cựu Ước về Mười Điều Răn (đạo đức học của Torah) đơn giản là một lời mời gọi phát triển nhân tính của một người được đầy đủ trong công bình, sự thật… Nó được sử dụng như nguyên tắc chỉ đạo của lời mời gọi đầu tiên: mời gọi trở nên một con người nhân bản. Những người Dothái theo văn hóa Hy lạp cổ coi các qui tắc lễ nghi như những qui tắc nhân bản.

 

            b. Đức Vâng Lời của người môn đệ: cũng cùng thái độ căn bản đó phải được tìm thấy căn rễ nơi đời sống của các môn đệ Chúa Giêsu. Các môn đệ được qui cho là “những kẻ vâng lời Ngài” (Dt 5,9)

 

            Hiển nhiên rằng qua sự đổi chỗ từ Chúa Giêsu qua các môn đệ, ý nghĩa của vâng lời thay đổi một phần. Nơi Chúa Giêsu, vâng lời là việc chấp nhận ý Chúa Cha và sứ mệnh của Ngài. Còn đối với các kitô hữu, Tân Ước nói về tuân phục:

  • đức tin (Cvtđ 6,7)
  • Lời Chúa (2 Th 3,14)
  • Phúc Âm (Rm 6,17; 10,10; 1 Th 1,8; 1 Pt 1,22)

 

Ý muốn cứu độ của Thiên Chúa được mạc khải nơi Chúa Giêsu đạt tới các môn đệ nhờ giáo huấn của Phúc Âm được chấp nhận trong đức tin.

Đây không phải là việc ứng xử luân lý, nhưng là của một thái độ tôn giáo: Vâng lời của Đức tin, ví dụ sự trở lại của thánh Phaolô được định nghĩa như “nhận biết ý của Chúa trong hành động lắng nghe Lời của Chúa Kitô” (Cvtđ 22,14a).

 

Nơi thánh Phaolô, luật mà các tín hữu phải vâng lời là luật của Thánh Thần, Đấng ban cho chúng ta sự sống và làm cho chúng ta được tự do (Rm 8). Thánh Phaolô lặp lại rằng Ngài là một tông đồ do Ý muốn của Thiên Chúa (đoạn đầu của 1 và 2 Cor; Eph; Col và 2 Th 1)

 

c. Vâng lời trong ơn gọi của mỗi người. Đời sống thánh hiến được khai sinh từ hành động vâng lời Thiên Chúa, Đấng đã chỉ định một sứ mệnh ở trong Giáo Hội. Hình ảnh Thánh Kinh của người môn đệ từ bỏ mọi sự để vâng lời tiếng nói của Chúa Kitô và đi theo Ngài đã là nguồn gợi hứng lớn lao cho đời sống thánh hiến, khởi đầu với lối sống đan viện: thầy dòng là người biết lắng nghe Chúa ở trong mình làm sao.

 

            Như vậy, đời sống tín hữu xuất hiện như là hậu quả của đức vâng lời ý muốn của Thiên Chúa được biểu lộ ra trong Chúa Kitô: Ý muốn của ơn cứu độ phổ quát. Trái lại, vâng lời đối với con người dứt khoát được đặt ở mức độ thấp hơn, và từ ngữ “tuân phục” đã được sử dụng.

 

            Ý muốn thần linh và vâng lời không ở trong cái ít áp bức nhất, nhưng trái lại có tính cách giải phóng sâu xa nhất. Điều mà Thiên Chúa muốn là sự sống và sự sung mãn của con người.

 

Không có nơi nào trong Tân Ước có ý niệm khổ hạnh về đức vâng lời, nghĩa là từ bỏ tự do của mình như là một giá trị tự nó. Sự từ bỏ một lợi ích lớn có thể được đòi hỏi chỉ bởi sự trung thành với một lợi ích lớn hơn: ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, sứ mệnh, những đòi hỏi của Phúc Âm, sự bình an của cộng đoàn. Trung thành với Chúa là sự nhấn mạnh của vâng lời. Lời kêu gọi của Chúa là một lời mời gọi phong phú với ba chiều kích: là con người, là kitô hữu và là tu sĩ.

 

 

5. ĐỨc Vâng LỜi Ở trong Thánh Kinh                         

 

a. Vâng Lời như Lắng Nghe

 

Trong ý nghĩa Thánh Kinh sâu xa nhất của nó, Vâng lời liên hệ với lắng nghe: “Hỡi Israel, hãy lắng nghe” (đó là giới răn đầu tiên của Israel).

 

Chúng ta được kêu gọi để lắng nghe Chúa khi Ngài nói, truyền thông, mạc khải chính Ngài trong Thánh Kinh, trong giáo huấn của Giáo Hội, trong tha nhân, trong các thời triệu, trong lương tâm và những kích động của con tim chúng ta.

 

Như vậy, lắng nghe có thể mặc nhiều hình thức, từ việc chấp nhận chính mình, qua sự háo hức đi theo một tiếng gọi đặc biệt bên trong cộng đoàn kitô, và sau cùng chấp nhận thời gian và cách thế của cái chết của mình.

Lời nói của Samuel “Lạy Chúa, xin hãy phán, tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe” (1 Sm 3,10) là thái độ và lời cầu nguyện căn bản, kéo dài suốt đời của bất cứ người sống đời tận hiến nào.

 

Nhưng vấn đề của Israel luôn luôn là sự không vâng lời. Sự không vâng lời đã mang lại tai họa cho dân tộc họ. Sự không vâng lời được kể ngang hàng với tội thờ ngẫu tượng (x. 1 Sm 15,22-23).

 

Mô hình của vâng lời trong Israel là các ngôn sứ. Họ vâng nghe lời Chúa cả với giá sự sống của mình. Chúa Kitô đi vào cùng phạm trù đó. Ngài đã không vâng lời quyền bính tôn giáo và chính trị, nhưng đã vâng lời Cha Ngài.

 

Vì thế, chúng ta cần phải rất thận trọng khi nói về đức vâng lời. Truyền thống Thánh Kinh không biết đến vâng lời quyền bính trần gian. Chỉ có Gia-vê là Vua và Chúa của Israel. Dân chỉ vâng lời quyền bính khi quyền bính vâng nghe lời Chúa. Đối tượng chính của đức vâng lời là Lời Chúa, như đã được mạc khải trong Luật Môsê và các tiên tri.

 

Tính cách bao gồm rộng khắp của đức vâng lời cũng được thánh Phaolô nhấn mạnh trong câu “vâng lời đức tin”: “Qua Ngài, chúng tôi đã lãnh nhận ân sủng và sứ vụ tông đồ để rao giảng sự vâng lời đức tin cho tất cả dân ngoại hầu tôn vinh danh Ngài” (Rm 1,5; 16,25-26)

 

Ở đây vâng lời rõ ràng không phải là một nhân đức luân lý đặc biệt, nhưng là một lời đáp trả trọn vẹn của con người với Tin Mừng đã được rao giảng trong giáo huấn của các tông đồ. Sứ mệnh của thánh Phaolô là đem dân chúng đến với Thiên Chúa trong sự qui phục đức tin.

 

Sự qui phục này không có tính cách cưỡng ép, vì nó có thể bị từ chối. Nó là một sự chấp nhận và đáp trả lại Lời cách tự do. Nó là kinh nghiệm triệt để của sự hoán cải mà việc trở lại của chính thánh Phaolô trên đường Damas có thể được coi là một mô hình. Rốt cục đối với thánh Phaolô tin là vâng lời và vâng lời là tin, trong khi không tin là không vâng lời và không vâng lời là không tin.

 

Trong Cựu Ước, Abraham nêu gương cho cặp đôi đức tin-vâng lời này, cả trong việc ông đáp lại lời mời gọi của Chúa (St 12,1-5) và trong việc ông sẵn lòng hiến tế con trai mình là Isaac (St 22,1-18).

Nhưng kiểu mẫu nguyên thủy của đức vâng lời kitô là sự vâng lời của con người trưởng thành Giêsu đối với Chúa Cha:

  • “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc của Người” (Ga 4,34)
  • “Tôi không thể tự mình làm gì; … điều tôi nhắm đến không phải là làm theo ý của tôi, nhưng là ý muốn của Đấng sai tôi” (Ga 5,30)
  • Trong khi chu toàn ý muốn của Chúa Cha, Chúa Kitô trở nên “vâng lời cho đến chết” (Phil 2,8; Dt 5,8), để lại cho chúng ta gương mẫu hoàn hảo của sự vâng lời đầy yêu thương.

 

b. Kinh nghiệm của Chúa Giêsu về Chúa Cha

 

Có một điều mà tất cả các học giả Thánh Kinh đều đồng ý với nhau:

  • Chúng ta không thể hiểu Chúa Giêsu, sứ điệp của Ngài, sứ vụ của Ngài và cả cái chết của Ngài, nếu không kể đến mối liên hệ duy nhất của Ngài với Thiên Chúa.
  • Linh đạo của Chúa Giêsu nằm trong cốt lõi của truyền thống Dothái cùng với sự say mê tìm kiếm ý Chúa trong mọi sự của nó.
  • Chúa Giêsu trải nghiệm lại Thiên Chúa của Xuất Hành, vị Thiên Chúa giải phóng, đem lại tự do, tái tạo, mang lại đời sống mới và chỉ con đường đi tới một tương lai tốt đẹp hơn còn chưa biết.
  • Kinh nghiệm này đặt Chúa Giêsu vào trong truyền thống ngôn sứ: vị ngôn sứ có khả năng thách đố bất cứ quyền bính nào, dù là quyền bính của các vua chúa hay của các tư tế, vì ngôn sứ vâng lời Thiên Chúa.
  • Chúa Giêsu đã có thể thách đố quyền bính của các luật sĩ, thượng tế và các biệt phái, vì Ngài cắm rễ sâu vào Cha Ngài.
  • Chúa Giêsu kinh nghiệm Thiên Chúa như một người cha thấu cảm và Ngài đã chia sẻ sứ điệp này với tất cả những ai đang cần đến nó.
  • Bí quyết của các xác tín, sự thấu hiểu, giáo huấn và đường lối hành động của Chúa Giêsu lần theo kinh nghiệm liên đới bền bỉ với Thiên Chúa. Kinh nghiệm này đưa Ngài tới liên đới sâu xa với mọi người nam cũng như nữ và với thiên nhiên.
  • Kinh nghiệm về Chúa Cha làm cho Chúa Giêsu thành một con người duy nhất được giải phóng, can đảm, không sợ hãi, độc lập, đầy hy vọng, chân thật.

 

c. Ai vâng lời Chúa Giêsu?

 

Chúa Giêsu có một uy quyền, và lệnh Ngài truyền phải được vâng lời. Những kẻ vâng lời Ngài là: ma quỉ, các bệnh tật, tội lỗi, gió và biển. Như thế, Chúa Giêsu đòi được uy quyền trên sự ác, nhưng chúng ta không thể nói rằng Ngài đòi được uy quyền trên các con người.

 

Chúa Giêsu không đến để cai trị dân. Ngài đến để giải thoát họ khỏi sự lôi cuốn của tội lỗi, lề luật và sự chết. Ngài làm cho dân hy vọng rằng mọi sự có thể sẽ khác đi (tốt hơn), vì Thiên Chúa của Xuất Hành, Người Cha thấu cảm ở bên cạnh họ, vì đối với Ngài mọi sự đều có thể.

 

6. ĐỨc Vâng LỜi trong hoẠt đỘng                                          và lỜi dẠy cỦa Chúa Giêsu

 

Vua chúa của dân ngoại cai trị trên dân chúng và những ai thi hành quyền trên họ thì tự gọi mình là ân nhân. Nhưng các con thì không được giống như thế. Người lớn nhất trong các con hãy làm người nhỏ nhất và người cai trị hãy làm như người phục vụ” (Mk 10,42-44).

Phêrô được trao cho “chìa khóa Nước Trời” (Mt 16,13-19). Chúa Giêsu thổi hơi trên các tông đồ và nói “Hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha, các con cầm buộc tội ai thì tội người ấy bị cầm buộc” (Ga 20,22-23).

 

Như thế, Quyền bính Chúa Giêsu ban ở trong sứ điệp và sự trung kiên rao giảng hay là ở trong chính các tông đồ? Ai thừa kế các tông đồ? Tất cả tập thể những người tin hay chỉ những người lãnh đạo kế vị trực tiếp xuống từ các tông đồ? Sứ điệp chứng thực nhiệm vụ hay ngược lại?

 

a. Các cộng đoàn Giáo Hội vào thời kỳ đầu

 

Không có mô hình quyền bính rõ ràng trong các cộng đoàn Giáo Hội sơ khai. Các cộng đoàn Giáo hội ấy tùy thuộc vào sự nuôi dưỡng của các tông đồ lưu động, các ngôn sứ và các lãnh đạo địa phương do các tông đồ lưu động cắt cử. Với thời gian, cán cân quyền bính được chuyển giao cho các giám mục (episcopoi) và linh mục (presbyteroi) địa phương.

 

Mỗi cộng đoàn Giáo Hội hay nhóm giáo hội phát triển các đặc tính riêng của mình. Tiến trình ấy có thể được thấy rõ trong các bản văn Tân Ước: Không chuyên quyền mà cũng không dân chủ. Các cộng đoàn Giáo Hội sơ khai phối hợp được cả hai yếu tố cùng phát triển cân bằng: sức mạnh, quyền bính, quyền hạn của giới lãnh đạo và các yêu sách của các tín hữu bình thường.

 

Chúa Giêsu Kitô có thể lại đến sớm, không cần dựng lên hệ thống phẩm trật hay làm phức tạp sứ vụ. Tính chất riêng biệt rõ rệt của Giáo Hội sơ khai là chính những giải thích khác nhau và tương phản về đức tin ở giữa những kẻ được đón nhận là thành viên của cộng đoàn kitô. Tình trạng này vẫn xuôi chảy cho đến thế kỷ thứ hai và chẳng ai quan tâm đặt vấn đề.

 

Tuy nhiên, về sau quyền bính hướng tới Thần quyền: các thực tại quyền bính tự khẳng định mình. Đức tin và trật tự được thống trị bởi chức giám mục (Roma, Carthage, Ephêsô, Alexandria, và Antiochia). Mãi cho đến thế kỷ thứ tư, xem ra đó là hệ thống được chỉ định để điều hành toàn thể Giáo Hội.

 

b. Thánh Phaolô bảo vệ quyền bính mình thế nào?

 

Cái mà thánh Phaolô đòi hỏi công nhận ngài là một tông đồ chính là sứ điệp và phẩm chất đời sống của ngài: “Tôi không khoe khoang, vì tôi không muốn bất cứ ai có ý nghĩ cao hơn về tôi do kết quả mà y có vì đã nhìn thấy việc tôi làm và nghe tôi nói” (2 Cor 12,7).

 

Ngài không do dự kết án sự tôn sùng cá nhân, thầy dạy giả và chủ nghĩa độc đoán: “Anh em đành chịu người ta áp chế, cấu xé, tước đoạt, đối xử ngạo ngược và tát vào mặt” (2 Cor 11,20).

 

Có một mồi liên hệ chặt chẽ giữa lời kêu gọi, sứ điệp và hạnh kiểm. Ơn kêu gọi, dù là chủ quan, cần phải được thử nghiệm: đương sự có sống trong Thánh Thần không? Giáo huấn chính thống phải được cân nhắc bằng truyền khẩu và cả chữ viết. Về hạnh kiểm -trong nhiều trường hợp phải có tiêu chuẩn rõ ràng- phải bao hàm không chỉ một tiêu chuẩn cao về luân lý cá nhân, mà còn về tình huynh đệ chân thật nữa.

 

7. ĐỨc Vâng LỜi trong đỜi sỐng tU SĨ

 

Sự vắng mặt của đức vâng lời trong đời sống đan viện khởi thủy: Nhìn vào lịch sử, sự kiện trước tiên nổi lên là đời sống thánh hiến bắt đầu không có sự người tín hữu này vâng lời một tín hữu khác. Tịch liêu (solitude) là cấu trúc căn bản của đời sống ẩn tu. Người được thánh hiến đầu tiên được gọi là “thầy dòng”, “người sống đơn độc”, vì trải qua đời mình một mình hay cũng được gọi là “ẩn sĩ”, “người sống cách biệt, xa khỏi mọi người”. Để tìm ý Chúa, vị ẩn sĩ chỉ có cuốn Thánh Kinh.

 

Đức vâng lời xem ra không được đề cao như là một nét căn bản của đời sống đan viện, cả với những thầy dòng mà đời sống tịch liêu có chế giảm cách nào đó và định kỳ có gặp gỡ với thầy dòng khác (một nửa ẩn sĩ).

 

Nếu có trải qua một thời gian với một thầy dòng khác (một kiểu Nhà Tập) thì chỉ là để học trở thành một thầy dòng, nghĩa là một người sống đơn độc một mình. Tương quan thầy trò này thường là tạm thời: sự vâng lời chấm dứt khi nhà tập chấm dứt. Người tự cai trị lấy mình, theo đúng chính lương tâm của mình, là một thầy dòng. Như vậy vị thầy dòng thực sự là một ẩn sĩ: đơn độc.

 

a. Vâng Lời Như Sự Từ Bỏ

 

Các ẩn sĩ đã khám phá thấy rằng đôi khi những đau khổ và hãm xác khủng khiếp của mình đầy phù phiếm và kiêu ngạo. Nhờ thế họ trở nên ý thức rằng sự khổ hạnh lớn nhất là cái gì nội tâm hơn, đó là ý muốn của họ. Cần làm cái trái ngược mà họ mong muốn hay bắt chính mình tùng phục ý muốn của người khác. Như thế, đức vâng lời như sự từ bỏ tự do cá nhân.

 

Chúng ta đối mặt với một quan niệm về vâng lời được gọi là “tùng phục”, chứ không phải vâng lời được gọi cách thích hợp như “lắng nghe, nghe lời” (“Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng [không nghe lời] cha mẹ trăm đường con hư”). Quan niệm này xem vâng lời như sự từ bỏ ý riêng và hậu quả là một hình thức tu đức khổ hạnh. Các thầy dòng đầu tiên rất coi trọng sự khổ chế thân xác (ăn chay, chế dục, canh thức, làm việc tay chân nặng nề v.v…). Bây giờ họ chuyển sang một khổ hạnh thiêng liêng mà tột đỉnh là từ bỏ ý riêng.

Từ bỏ là cốt lõi của nền tu đức kitô. Hậu quả của Tinh thần nhị nguyên: Chúa một bên và dân một bên, Chúa đối nghịch thế gian, vĩnh cửu đối nghịch thời gian, tinh thần đối nghịch vật chất, linh hồn đối nghịch thân xác… là người ta càng vươn tới Chúa khi càng lìa bỏ thế giới đàng sau; Thể xác càng yếu đi thì linh hồn càng mạnh hơn; Sự không dính bén bản thân đạt tới trình độ cao nhất của nó trong sự từ bỏ ý riêng.

 

Giáo thuyềt về vâng lời – tùng phục như sự từ bỏ ý riêng đạt tới đỉnh cao của nó trong Luật của Vị Thầy với những ý nghĩa đặc biệt. Vị thầy xem ra rất bi quan đối với sự tín nhiệm mà một người có thể đặt vào sự phán đoán riêng của mình. Ý riêng, tự do cá nhân phải được hãm dẹp. Nhiều khi lý do vị thầy đưa ra cho vài qui tắc hay cấm đoán đơn giản chỉ để ngăn ngừa thầy dòng khẳng định chính mình. Thầy dòng phải vâng lời để từ bỏ ý riêng của mình.

 

Tân Ước không nói đến việc hãm dẹp ý riêng, nhưng nói đến việc kết hiệp với ý muốn cứu độ của Chúa Cha; hay nói cách khác, không nói đến tùng phục mà nói đến lắng nghe. Các môn đệ phải sẵn sàng cho những từ bỏ khó khăn nhất, ngay cả mạng sống nếu cần, nhưng chỉ khi nào sự việc đòi hỏi họ phải như thế. Cái làm nên người môn đệ không phải là lìa bỏ, nhưng là đi theo.

 

b. Vâng Lời Như Bác Ái

 

Thánh Pachomius (292-346) và cộng đoàn của ngài

Các đồ đệ thánh Pachomius trải qua từ đời sống bán ẩn sĩ đến đời sống cộng đoàn nhờ họ dần dần khám phá ra giá trị của sự hiệp thông kitô, nhưng vẫn giữ kiểu mẫu cộng đoàn Giêrusalem. Nhóm đồ đệ thánh Pachomius vượt qua vài khủng hoảng làm cho họ hiểu được giá trị của trật tự trong cộng đoàn để bảo vệ mối hiệp nhất của cộng đoàn trong đức ái.

 

Khi vài “làng” đồ đệ thánh Pachomius đông hơn cả ngàn thành viên thì sự cần thiết của kỷ luật và tổ chức rất được nhấn mạnh. Tuy nhiên các đồ đệ thánh Pachomius đã không nhấn mạnh về phương diện giáo thuyết đến đức vâng lời và cũng không cho nó một giá trị tu trì lớn lao.

 

Thánh Basil (331-379) và cộng đoàn của ngài

Các tu sĩ sống thành từng nhóm nhỏ, với Phúc Âm là luật duy nhất. Nhóm những người nam luôn được gọi là “huynh đoàn” và các thành viên được gọi là “huynh đệ.”  Đức vâng lời nhắm tới đời sống huynh đệ và các kiểu mẫu là nhóm môn đệ quanh Chúa Giêsu, cộng đoàn Giêrusalem và các cộng đoàn của thánh Phaolô.

 

Trong cộng đoàn thánh Basiliô, Bề trên không phải là đầu của thân mình (chỉ có Chúa Kitô là đầu), nhưng chỉ là mắt (mắt không cai trị, nhưng hướng dẫn), dù bề trên là người thứ nhất trách nhiệm về cộng đoàn.

 

Thánh Augustine (354-430) và cộng đoàn của ngài

Ngài thiết lập cộng đoàn linh mục sau khi thụ phong Giám mục. Trung tâm đời sống theo Phúc Âm của họ là đức ái, con tim của cộng đoàn kitô đầu tiên.

 

Vai trò của quyền bính lúc ấy là gì? Bác ái huynh đệ có lẽ đủ để duy trì sự bình an trong cộng đoàn, nhưng khi có khó khăn nổi lên thì một quyền bính sẽ can thiệp cách khôn khéo. Không có luật của uy quyền nhưng là một dịch vụ bác ái. Các anh em/ chị em sẽ vâng lời không như tôi tớ, mà như những con người tự do.

 

Thánh Phanxicô

Cộng đoàn thánh Phanxicô cùng đường hướng với thánh Basiliô: Phúc Âm mang họ lại với nhau và Phúc Âm sáng tạo nên huynh đoàn. “Bề trên” phải là và được gọi là thừa tác viên: ngài phục vụ. Mọi anh em sẽ vâng lời và phục vụ lẫn nhau, vì “như đó là sự vâng lời đích thực và thánh thiện đối với Chúa Giêsu Kitô”

 

c. Vâng Lời Như Lắng Nghe

 

Ý niệm này bắt nguồn từ đời sống đan tu ở trong sa mạc, trong đó các ứng sinh chọn cho mình một người lớn tuổi đã được khai sáng để dạy dỗ mình trên con đường của Chúa Thánh Thần (linh hướng). Từ sự kiện này mà có ý tưởng nguyên thủy về cộng đoàn như chỉ là tình trạng chuyển tiếp, như sự chuẩn bị cho đời sống ẩn sĩ hoàn hảo.

 

Ý niệm vâng lời này tìm được diễn tả cao nhất của nó trong Luật của Thầy (RM, Regula Magistri) và Luật của các đan sĩ Biển Đức (RB, Regula Monasteriorum of St. Benedict) của thánh Biển Đức (470-547). Các luật này định nghĩa đời sống tu viện như phục vụ lẫn nhau dưới Luật và viện phụ. Kết quả là vai trò của viện phụ được giải thích như là then chốt trong tất cả đời sống đan viện. Đặc quyền của viện phụ là giảng dạy, quyết định và ra lệnh. Trước hết, viện phụ là thầy/chủ, nhưng ngài phải dạy dỗ và lãnh đạo bằng hành động của mình hơn là bằng lời nói.

 

Cha linh hướng/mẹ linh hướng được thể chế hóa. Không còn là lúc sự thánh thiện cá nhân của họ khêu gợi lòng tín nhiệm và thuyết phục kẻ khác tin rằng họ nói lên giáo lý trung thực của Chúa Kitô (như các giáo phụ sa mạc), nhưng bây giờ họ là hiện thân của Chúa Kitô và có thẩm quyền nói nhân danh Chúa Kitô cách cụ thể, vì họ là đầu của đan viện.

 

Luật của Vị Thầy cũng cố gắng bảo vệ sự hiện hữu trong Giáo Hội của hai phẩm trật: phẩm trật của các Giám mục và phẩm trật của các viện phụ. Cá nhân mỗi thầy dòng tìm biết và thực thi ý Chúa hiện diện trong Thánh Kinh. Luật là cách đọc và tổng hợp đúng đắn Thánh Kinh cho thầy, và viện phụ là người giải thích đúng về Luật theo tiến trình từ trên xuống: Thiên Chúa-Thánh Kinh-Luật-Viện phụ-Thầy dòng.

 

Luật của Vị Thầy nói rằng Chúa Kitô nói qua viện phụ, hay tốt hơn nữa, viện phụ/viện mẫu là người giải thích và là người trung gian của truyền thống linh đạo đối với từng cá nhân. Từng cá nhân thành viên của đan viện lắng nghe Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh, thấm nhuần Luật, luôn mở lòng cho giáo huấn của truyền thống do người đứng đầu tu viện trình bày. Đầu thực thụ của các đan sĩ là Chúa Kitô, nhưng viện phụ “hành động thế Ngài” và đại diện Ngài ở giữa cộng đoàn.

 

d. Vâng Lời Vì Sứ Vụ Tông Đồ

 

Các hậu quả phát sinh từ việc đặt vâng lời làm trọng tâm cho sứ vụ tông đồ là yếu tố trung tâm của các Dòng Tu hiến dâng cho việc ấy:

·        Trước hết đặt đức vâng lời nối kết với sứ mệnh Phúc Âm hóa của Giáo Hội,

·        Do đó có nhu cầu hiệp thông với phẩm trật: Không chỉ có quyền bính của Bề trên, mà quyền bính của Giám mục, của Giáo Hoàng cũng phải quan tâm.

·        Đức vâng lời không được xem như một giá trị khổ hạnh, nhưng đúng hơn là một phương tiện đặc ân của sứ mệnh phải chu toàn trong Giáo Hội.

 

Các tu sĩ Phanxicô

Thánh Phanxicô là một trong những người đầu tiên liên kết đức vâng lời với sứ vụ tông đồ. Ngài đã từ bỏ giàu sang để tận hiến cho “Đức Mẹ Nghèo” (Madonna Poverta) và để săn sóc người bệnh, không thu mình trong một đan viện. Sau đó, dù không là linh mục, Ngài đã bắt đầu giảng thuyết. Quanh Ngài, huynh đoàn đã được khai sinh: “Các anh em hèn mọn”

 

Trong một xã hội mà người ta muốn làm “bề trên” và trong Giáo Hội mà tất cả mọi người theo Phúc Âm đều là “anh em”, tu sĩ Phanxicô muốn không chỉ là “anh em” mà còn “hèn mọn”: là những anh em kém hơn để phục vụ mọi người.

 

Ý tưởng nguyên thủy của vâng lời là khiêm hạ và phục vụ. Tuy nhiên, đúng trình tự, Phanxicô đã chuyển tới vâng lời có tính cách giáo luật hơn. Ngài sẽ thay đổi ý tưởng về đức vâng lời.

 

Cuối cùng, hai kiểu vâng lời giữ lấy chỗ cùng thời gian: vâng lời có tính cách Phúc Âm của huynh đoàn và vâng lời để hành xử đúng theo Luật.

 

Các tu sĩ Đa Minh

Nhiệm vụ và mối bận tâm của các nhà giảng thuyết (Đaminh) là Lời Chúa, được sống trong hiệp thông huynh đệ chặt chẽ, suy niệm và cử hành trong học hỏi và phụng vụ, loan báo cho đến tận cùng thế giới.

 

Bề trên là trung tâm ý chí năng động của huynh đoàn. Bề trên được cộng đoàn bầu lên và kiểm soát, nhưng mọi người hứa vâng lời ngài. Thật ý nghĩa khi công thức tuyên khấn của Đaminh  là hứa vâng lời người đứng đầu Nhà Dòng. Sự vâng lời này nằm trong viễn ảnh sứ vụ của tất cả cộng đoàn.

 

Thánh Ignatius Loyola (1491-1556)

Theo thánh Ignatiô, các tu sĩ Dòng Tên phục vụ Đức Giáo Hoàng ở bất cứ đâu trong Giáo Hội, ăn mặc như các linh mục khác, với sự tự do cá nhân lớn lao bên trong một Nhà Dòng được cấu trúc mạnh mẽ.

 

Đức vâng lời căn bản hướng tới coi sự hữu hiệu của Nhà Dòng như một phương tiện cho việc Phúc Âm hóa trong Giáo Hội. Ý niệm đức vâng lời nhằm đến sứ vụ này làm cho tất cả đời sống cộng đoàn được đức vâng lời tác động và cấu trúc, và đức vâng lời này đóng vai trò hết sức quan trọng.

 

Đối với Ignatiô, đức vâng lời phải trọn vẹn và vô điều kiện. Phải vâng lời Bề Trên không phải vì Bề Trên khôn ngoan, tốt lành hay có nhiều tài, nhưng vì bề trên thay mặt Chúa và quyền bính của Chúa (Thư về đức vâng lời 3). Đức vâng lời này có ba cấp độ:

§         Chỉ chu toàn bề ngoài: không đáng được gọi là nhân đức.

§         Sự tùng phục của ý muốn: phù hợp với ý muốn của Bề Trên.

§         Sự tùng phục của phán đoán: cái gì Bề Trên truyền lệnh là tốt nhất cho những kẻ vâng lời (Thư về đức vâng lời 14).

 

Theo Ignatiô, các tu sĩ Dòng Tên phải nhìn thấy Chúa trong con người của Bề Trên. Họ phải sẵn sàng biện minh cho ý muốn của Bề trên, giả thiết và tin rằng mọi mệnh lệnh đều đến từ Ý muốn của Chúa, và vì thế phải vâng lời một cách “tối mặt.” [“Thầy vâng lời tôi, không phải vì tôi có một đặc sủng hay vì tôi làm gương sáng cho thầy. Thầy vâng lời tôi vì tôi là bề trên của thầy. Bây giờ tôi đang tại nhiệm. Thầy hiểu chưa? – Vâng ạ!]

 

Và kiểu vâng lời này phải được đưa vào thực hành bởi các cấp dưới trong tương quan với các Bề Trên địa phương, bởi các bề trên địa phương vói các bề trên Giám tỉnh, bởi các bề trên Giám tỉnh với Bề Trên Cả, và bởi Bề trên Cả với Đức Giáo Hoàng (Thư về vâng lời 20).

 

Tu sĩ Dòng Tên trước hết liên hệ với Bề trên, chứ không phải với cộng đoàn, và qua Bề trên với toàn thể Hội Dòng: Đức vâng lời hoàn toàn có tính cách hàng dọc. Mối tương quan với các Bề trên và Hội Dòng như là một toàn thể là rất mạnh mẽ, nhưng tương quan với cộng đoàn thì yếu. Do đó một tu sĩ Dòng Tên có thể đi làm sứ vụ một mình, nếu được Bề Trên sai đi (điều này hoàn toàn không thể hiểu nổi trong các hình thức đời sống thánh hiến khác: các tu sĩ phải sống cộng đoàn, được sai đi từng hai người, nhất là các nữ tu).

 

Sự vâng lời Đức Giáo Hoàng là mục đích của lời khấn thứ tư của một số tu sĩ Dòng Tên, không phải tất cả; chỉ các linh mục và những ai được Bề trên chỉ định; nhưng các bề trên và những ai có một trách nhiệm quan trọng được bầu chọn và chấp nhận phải tuyên lời khấn thứ tư này. Mục đích của lời khấn thứ tư này là để tu sĩ Dòng Tên luôn có thể đi bất cứ đâu mà Đức Giáo Hoàng sai họ (Const VII,1).

 

Quyền bính tối thượng thuộc về Tổng Công Nghị bầu chọn Bề Trên Cả và bàn cãi những công việc khác. Nhưng loại hội họp này rất hiếm hoi, thường chỉ khi nào Bề Trên Cả qua đời. Quyền cai trị thông thường của Hội Dòng thuộc về Bề Trên Cả, với sự giúp đỡ của Ban Cố Vấn để ngài tham khảo mà không buộc phải theo ý kiến của họ. Bề Trên Cả bổ nhiệm tất cả các Bề trên, kể cả các bề trên địa phương, và ngài có thể quyết định trực tiếp trên mỗi tu sĩ Dòng Tên mà không cần các trung gian. Có một sự tương tự sâu sắc giữa Bề Trên Cả của Dòng Tên với Đức Giáo Hoàng.

 

Tuy nhiên, kiểu vâng lời này tự nó là một phương tiện chứ không phải mục đích. Nó được tác động bởi sự hữu ích tông đồ, chứ không đơn giản bởi một bó buộc hay một sự hoàn thiện, nhưng trong đức tin nó có một ý nghĩa tu trì, khổ hạnh và cả thần bí. Vì thế đường lối sống bên trong Dòng Tên không giống như chế độ độc tài: việc đối thoại là luôn luôn có thể.

 

 

 

8. ĐỨC VÂNG LỜI TRONG CÁC TU HỘI ĐỜI

 

Đức Vâng Lời trong các Tu Hội Đời thuộc về đặc sủng của huynh đoàn đời mà các thành viên phải sống riêng biệt chứ không phải trong một cộng đoàn.

 

Không có một cộng đoàn cơ cấu hữu hình, nhưng có mối hiệp thông thiêng liêng rõ ràng giữa các thành viên của Tu Hội Đời. Có một sự tùy thuộc thiêng liêng từ một linh hứng chung, mỗi người được hoàn toàn độc lập để cùng nhau quyết định trong các vấn đề của tu hội.

 

Chúng ta có thể nói rằng đức vâng lời của tu hội đời trước hết là vâng lời tinh thần đã định nghĩa và khai sinh huynh đoàn. Nó là một sự vâng lời của linh hứng, chứ không có tính cách pháp lý.

 

Trong bối cảnh này, một người điều hành đóng vai dấu chỉ của đặc sủng và của toàn thể huynh đoàn. Sứ vụ của người điều hành là trở nên chứng tá cho huynh đoàn đặc sủng, và nếu cần, làm cho mọi người trung thành với đặc sủng; người điều hành bảo đảm căn tính thiêng liêng của tu hội.

 

Đặc sủng của một người thánh thiện sáng tạo nên một cộng đoàn: Những người đi theo tập hợp lại quanh người. Phúc Âm sáng tạo nên cộng đoàn huynh đệ.

 

9. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA VÂNG LỜI

 

Vâng Lời là một đặc sủng của Chúa Thánh Thần tác động lên tự do của chúng ta, từ từ đồng nhất chúng ta với Chúa Kitô, vâng phục ý Cha và phục vụ mọi người, đồng thời thúc đẩy chúng ta yêu thương “với tất cả linh hồn và đời sống chúng ta.”

 

Tất cả mọi sinh hoạt con người đều cần một bối cảnh và hướng tới một mục đích. Chúng ta hãy xem đức Vâng Lời được mở ra và thực hiện trong những chiều kích nào.

 

a. Chiều kích truyền giáo và chính trị của đức vâng lời: Đời sống và hoạt động của tu sĩ trực tiếp hướng tới những người bị áp bức và bị gạt ra ở bên lề, gánh lấy hoàn cảnh của họ và phục vụ họ, chiến đấu cùng họ vì các quyền lợi và sự giải phóng của họ, và khi cần, hiến dâng mạng sống mình cho công lý. Tu sĩ sẻ chia đức vâng lời truyền giáo của Chúa Giêsu sẽ tìm được sức mạnh phục vụ yêu thương, đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, dù đôi khi phải đương đầu với những cản trở của quyền lực thế gian.  

 

b. Chiều kích cộng đoàn của đức vâng lời: Cùng với anh chị em của chúng ta trong cộng đoàn thiết lập trật tự, một đời sống chung cộng đoàn đích thực của sự cộng tác, đồng trách nhiệm, cam kết thực hiện một dự án chung của sứ mệnh để cùng với anh chị em của chúng ta trong đức tin thiết lập một cộng đoàn đích thực của những người môn đệ của Chúa Giêsu. Vì “chỉ có một linh hồn” nên cần thiết lập những cộng đoàn ở đó có sẻ chia đời sống chung, phân định, quyết định và phục vụ, hầu làm cho sứ điệp của Chúa Giêsu trở nên khả tín. Tác vụ quyền bính đến từ cộng đoàn và cho cộng đoàn.

 

c. Chiều kích thần bí của đức vâng lời: Thiên Chúa là gốc rễ của mọi sự. Tu sĩ say mê vâng theo ý Chúa, thông hiệp với đức vâng phục của Chúa Giêsu, vâng lời như là đức tin vào Chúa (Abraham, Maria), để Chúa kiện toàn ý muốn của Ngài nơi chúng ta. Khi vâng lời là chúng ta biểu lộ tình yêu của chúng ta đối với Chúa, biết rằng lệ thuộc vào ý Chúa và phục vụ Nước Chúa là con đường để đạt được sự sung mãn cá nhân cũng như cộng đồng xã hội.

 

d. Chiều kích sinh học của đức vâng lời: Hơn ai hết, tu sĩ sống giao ước với cả tạo thành, đi vào tương quan với tạo thành, trở nên người quản lý của tạo thành, chăm sóc thiên nhiên khi nó bị đe dọa. Từ khước một sự thống trị độc đoán lên thiên nhiên, cũng như bất cứ hình thức phá hoại và nô lệ hóa nào đối với môi trường sinh thái.

 

e. Chiều kích biểu tượng, tiên tri và chứng tá cánh chung của đức vâng lời: Sống đức vâng lời theo gương Chúa Giêsu là ký ức sống động về Chúa Giêsu, đối kháng trước quyền lực thế gian, báo trước thực tại cánh chung khi ý Chúa đang được kiện toàn trong mọi sự. Theo đường lối này, chúng ta trở thành “hình tượng sống động” của Chúa Giêsu, Đấng không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ; người tu sĩ cũng trở nên hình tượng sống động của hình ảnh Giáo Hội, tôi tớ của tình yêu, và tiên tri của cuộc giải phóng vượt quá mơ tưởng giới hạn của con người (utopia) của Nước Trời.

 

f. Vâng lời như là “lắng nghe và mở rộng tai” cho tiếng nói của Chúa: Trong ý thức tôn giáo, vâng lời là thái độ thực hành của việc lắng nghe Lời Chúa. Trong viễn ảnh thần học, vâng lời qui về mối liên hệ mà một con người duy trì với Chúa: lắng nghe Lời Chúa và sống theo thánh ý Ngài. Những mẫu gương tuyệt hảo của kiểu vâng lời đó là các ngôn sứ.

 

g. Đức vâng lời của tu sĩ như đặc sủng: Ai có thể vâng lời thánh ý Thiên Chúa? Làm sao có thể được? Điều đó có thể được nếu người ta được Chúa Thánh Thần tác động. Đức vâng lời của người kitô là một đặc sủng, một quà tặng đến từ Chúa Thánh Thần. Không ai trong chúng ta với nỗ lực riêng của mình có thể vâng lời, tùng phục ý muốn của Chúa Cha như Chúa Giêsu, nếu người đó không được Chúa Thánh Thần tác động.

 

h. Đức vâng lời của tu sĩ như trách nhiệm: Vâng lời của tu sĩ là sự tham dự vào đức vâng lời của Chúa Giêsu Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Vì thế họ được mời gọi lấy Chúa Giêsu làm luật của đời sống mới trong tự do của họ. Họ được mời gọi cho đi các kế hoạch cá nhân, mơ ước và khát vọng của họ, và ôm ẳm lấy sứ điệp Nước Trời, là thứ mà Chúa Giêsu đã sống và chết vì nó. Quả thế, Chúa Giêsu đã vâng lời ý Chúa Cha và trả giá bằng cái chết của Ngài. Vâng lời của Chúa Giêsu mang lại hoa quả cứu độ. Vâng lời của Chúa Giêsu không để cho luật, các thể chế, các ý thức hệ, cũng chẳng để cho vương quốc trần gian. Vâng lời của Chúa Giêsu là để cho Nước Thiên Chúa.

 

 

 

 

II. LỜI KHẤN KHÓ NGHÈO

(Slideshow NÉN BẠC)

 

1. TÌM MỘT ĐỊNH NGHĨA ĐÚNG

 

Ngày nay, chúng ta hiểu phải Sống Khó Nghèo là sống một cuộc đời giản dị, bằng lòng với những gì mình có, và lưu tâm đến điều kiện sống của đa số dân chúng ở chung quanh mình.

 

Khó nghèo là một đời sống thanh thoát, không dính bén, sống không chỉ cho dân Chúa là những người được kể như “những người nghèo của Gia-vê”, nhưng là sống với họ, chia sẻ thân phận và cuộc sống của họ.

 

Ta có thể hiểu được ý nghĩa của đức khó nghèo từ cuộc sống tận hiến của chính Chúa Giêsu và qua cuộc sống của nhiều vị thánh, chẳng hạn như thánh Phanxicô At-xi-di, Mẹ Têrêsa Calcutta, v.v.. Chúa Kitô đã mặc lấy hình hài một con người, sống trong một gia đình nghèo của con người ở Nazareth như bất cứ ai khác. Ngài chẳng cần cuộc sống nghèo khó đó cho Ngài, nhưng Ngài đã tự hạ và đã soi sáng cho hàng triệu triệu người bởi đời sống giản dị của Ngài.

 

Những người đã trải qua nhiều năm ý thức chiến đấu, bây giờ sống đức khó nghèo trở thành một phần của đời sống họ. Họ chỉ mua những gì thực sự cần thiết cho cuộc sống. Họ đã học chỉ mua những gì họ cần chứ không phải mua những gì họ muốn. Họ cũng ngưng chồng chất thêm các vật dụng trong phòng. Thật phong phú khi sống một cuộc đời thanh thoát.

 

2. NhỮng bẢn văn Thánh Kinh cẦn đỌc:

·        Mk 6, 7-13

·        Mt 10,1-16

·        Lk 9,1-6

·        Lk 10,1-12

·        1Cor 9,12

·        Cvtđ 2, 44-45

 

Theo các nghiên cứu chú giải hiện nay, giáo huấn Phúc Âm về đức khó nghèo có thể được gom lại trong ba trục chính: 

  • Người nghèo là những khách hàng đặc ân của Chúa: họ được công bố là “được chúc phúc” vì Thiên Chúa can thiệp để chấm dứt tình trạng nhục nhã và khốn cùng của họ (x. Magnificat và Tám Mối Phúc Thật).

 

  • Đặt tin tưởng không đúng chỗ vào Tiền bạc/Giàu có (x. Mt 6,24; Lk 16,13-14; Cvtđ 5,2-4)

-          xuất hiện như một vị chúa tể giả,

-          đối thủ cạnh tranh với Chúa

-          cám dỗ và lừa dối.

 

  • Của cải vật chất phải được dùng để chia sẻ:

-          phải được đặt làm của chung (Cvtđ),

-          chia sẻ với người nghèo

-          Việc từ bỏ vật chất căn bản được nhìn trong viễn ảnh hiệp thông/chia sẻ, một yêu sách của việc đi theo Chúa Giêsu.

-          Việc từ bỏ vật chất không bao giờ được nhìn theo quan điểm khổ chế.

 

 

3. ĐỨc khó nghèo Ở trong CỰu ƯỚc

 

a. Khó nghèo trong bối cảnh xã hội của nó

 

Kinh nghiệm sa mạc là một lý tưởng (Tv 68,8-11; Dnl 15,4). Đó là thời của đức nghèo khó tập thể và tình liên đới sâu xa. Rồi cuộc định cư ở Canaan đã mang lại sự phân chia đất đai giữa các bộ tộc, chi phái và gia đình. Các vấn đề xã hội bắt đầu xuất hiện.

 

Thế kỷ thứ tám trước Công nguyên đã mở ra một giai đọan khủng hoảng xã hội đặc biệt nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng xem ra bắt nguồn từ tiến trình đô thị hóa với việc phát triển các mối liên hệ với các quyền lực ngoại bang và việc bành trướng nền cai trị của vua, cùng với việc gia tăng nhiều viên chức cao cấp… Các tiên tri thời ấy đã mạnh mẽ chống lại sự xa hoa của những người quyền thế, cả ở Israel (Am 3,12.15; 4,1; 5,11; Hos 7,5; 8,14), cả ở Giuđa (Is 2,7.13-16), và chống lại cái ách nặng đè xuống trên người nghèo.

 

Vào cuối thế kỷ thứ 8, sự can thiệp của Assyria đã triệt hạ vương quốc Israel (năm 721) và làm tan nát vương quốc Giuđa (Is 22,8-11; 2 V 16,8; 18,14-16). Tình trạng ấy đã đem lại bần cùng hóa cho dân, nhất là người nghèo. Rồi đến thời kỳ Giêrusalem bị phá hủy (587-586) và lưu đày sang Babylon. Chỉ có người nghèo được để lại.

 

Cuộc lưu đày trở về năm 537 bắt đầu một thời kỳ khắc khổ. Dân từ Babylon trở về phải vất vả xây dựng lại một đền thờ khiêm tốn (Hg 2,3; Ez 3,12), trong khi người Samaria lân cận lại chống đối việc tái thiết của họ (Ez 4; Neh 3,23-4,2). Người Dothái nghèo gặp phải nạn đói phải bán con làm nô lệ để có lương thực sống và trả thuế cho nhà vua (Neh 5,1-5). 

 

Sự cách biệt giữa giàu nghèo ngày càng lớn. Herođê Cả đã đánh thuế quá cao vì lối sống phung phí và xây cất dinh thự của ông. Sách Khôn Ngoan mô tả sự nghèo khó đó: lười biếng (Pr 6,6-11), chuyện vô tích sự (Pr 14,23), chạy theo những chuyện phù phiếm (Pr 28,19), tìm kiếm lạc thú (Pr 21,17; 23,20-21). Chúng ta không thể không nghĩ rằng lịch sử lặp lại cho thời chúng ta đang sống hôm nay.

           

b. Nghèo khó như một hình phạt

 

Phản ứng đầu tiên của người tôn giáo cổ thời đối diện với nghèo khó là giải thích nó trong sơ đồ phần thưởng tạm thời: Nghèo khó là một sự dữ, vì thế nó là một hình phạt, do đó giàu có được coi như phúc lành của Chúa: Abraham (St 13,2) Isaac (St 26,13-14), Giacob (St 30,43).

 

c. Gương xấu của Nghèo khó

 

Israel cũng nhận thấy rằng người nghèo không luôn luôn là người có tội, cũng như người giàu không phải luôn luôn là kẻ công chính (x. Mi 6,12; Jb 21,7-12; Tv 73,1-14). Vì thế, người tín hữu phải cố gắng làm một cái gì về việc đó:

  • Bổn phận giúp đỡ người nghèo, người góa bụa, kẻ mồ côi
  • Tìm kiếm sự trợ giúp của Chúa bằng cầu nguyện
  • Nghèo khó là xấu: chúng ta phải chiến đấu chống lại nó bởi sự trợ giúp cộng đồng; không ngừng kêu xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi nghèo khó: ít nhất chúng ta có thể coi nó như một trắc nghiệm để giáo dục chúng ta; chúng ta luôn hy vọng được cứu thoát khỏi nghèo khó, và sự cứu thoát này chỉ được quan niệm nơi đời này, với những giá trị tạm thời.
  • Tuy nhiên, Kinh nghiệm đau đớn về nghèo khó lắm khi đưa người nghèo đi đến chỗ chấp nhận điều kiện hiện tại của mình trong sự tín thác vào Chúa, Đấng yêu thương những người bị tước quyền thừa kế và sẽ giải thoát họ. 

 

d. Phê phán sự giàu có

 

Dân Israel nhận thấy rằng sự giàu có lắm khi liên kết với bất công. Những kẻ áp bức người nghèo rất lắm khi là người giàu (Is 53,9; 1 V 21). Người khôn ngoan phân tích sự giàu có dẫn đến tội như thế nào: giàu có là nguồn gốc của kiêu ngạo (Pr 28,11), của việc không tin vào Chúa (Pr 30,9), của việc đặt lòng tin vào các của cải trần gian mà xây lưng lại với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa (Tv 52,9; Pr 11,28; Giop 31,24; Sir 5,1-8).

 

e. Cách hiểu có tính cách tôn giáo về khiêm nhường

 

Đức tin truyền thống vào Gia-vê coi Ngài là Đấng bảo vệ người nghèo dần dần mang tới một đánh giá mới về sự nghèo khó. Dù luôn là sự dữ, nghèo khó cũng cho người ta một tư cách đặc biệt đối với Chúa. Người nghèo có thể chấp nhận điều kiện của mình và cho nó ý nghĩa nào đó. Chúng ta có thể nói tới một sự nghèo khó thiêng liêng như là một sự tùng phục trong đức tin, một sự nhỏ bé được chấp nhận, một sự khiêm nhường đạo đức.

 

 

 

f. Thiên Chúa hay Tiền bạc?

 

Ngay từ đầu, Thiên Chúa là giá trị tối thượng đối với Israel. Chỉ trong ánh sáng của sự vô vị lợi này mà các ngôn sứ đã liều mạng sống mình vì sứ vụ, không hy vọng gì ở đời sau (Giêrêmia là một thí dụ). Dù chưa có sự chọn lựa được thực hiện giữa Thiên Chúa và Mammon, tuy nhiên chúng ta có thể kết luận rằng người tín hữu trong Cựu Ước đã gắn bó với Thiên Chúa hơn là gắn bó với các quà tặng của Ngài.

 

 

4. SỰ hoàn thiỆn VÀ đỨC khó nghèo

 

a. Mời gọi và Thách đố của mỗi người môn đệ

·        Mt 19,21tt: “Nếu ngươi muốn nên hoàn thiện, hãy đi và bán những gì ngươi có rồi cho người nghèo.”

·        Lk 14,33: “Không ai trong các ngươi có thể làm môn đệ Ta, trừ khi nó cho đi tất cả của cải của mình”

 

b. Lời khấn khó nghèo như sự tước đoạt

Nhiều vị thánh công giáo lớn qua dòng lịch sử xem ra đã trải kinh nghiệm lời mời gọi phải chịu đựng hay muốn bị tước đoạt.

 

Chú giải Mt 8,20: “Con Người không có nơi tựa đầu” diễn tả là sự thiếu bất cứ nơi nào có thể được gọi là “nhà.” Đó là một hy sinh lớn, nhưng không nhất thiết là ý nghĩa của đức Khó nghèo.

 

Lý lẽ bào chữa duy nhất cho việc chọn lựa tự ý bị tước đoạt là Nhu Cầu của Việc Tông đồ. Điều này hàm ý cho cách hiểu đương thời của chúng ta về đức khó nghèo của tu sĩ: Chúng ta phải trải qua sự bị tước đoạt của cải vật chất/tiện nghi là chỉ vì lợi ích của việc tông đồ.

 

Việc bị tước đoạt tự nó không phải là cái gì thánh thiện hay có tính chất kitô cả. Nhưng nếu nó được đảm nhận vì lý do đúng thì nó sẽ rất thánh thiện và rất có tính chất kitô. Các lý do phải rõ ràng:

-          như một phương tiện cần thiết cho việc rao giảng Tin Mừng

-          như một hậu quả cần thiết của việc rao giảng này, ví dụ như sự khốn cùng của Chúa Giêsu trên thánh giá, là hậu quả không thể tránh được trong sứ vụ của Ngài.

Tóm lại, chúng ta chia sẻ sự cơ cực của Chúa Kitô vì chúng ta chia sẻ sứ vụ của Ngài. Tự nguyện bị tước đoạt của cải chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh sứ vụ.

 

5. NGHÈO KHÓ TỰ NGUYỆN

    TRONG BỐI CẢNH SỨ VỤ

 

a. Các tham chiếu Tân Ước:

·        Các chỉ thị Chúa Giêsu cho 12 tông đồ khi Ngài sai họ đi làm sứ vụ: Mk 6,7-13; Mt 10, 1-16; Lk 9,1-6.

·        Sai 72 môn đệ: Lk 10,1-12

 

Đâu là bối cảnh? Nhiệm vụ khẩn cấp? Động lực của tước đoạt? 1 Cor 9,12: Thái độ của thánh Phaolô đối với hỗ trợ tài chánh của ngài: hầu như đối nghịch với hai bản văn Thánh Kinh trên. Ngài đã làm việc để sống và kiếm tiền để trợ giúp chính mình, dù rõ ràng ngài cũng nhìn nhận quyền “sống nhờ Phúc Âm” của ngài.

 

1 Thes. 2:9; 2 Thes. 3:7-8: Thánh Phaolô đã tự tước đoạt sự hỗ trợ tài chánh mà ngài có quyền hưởng và tự kiếm sống vì những lý do tông đồ. Đó không chỉ đơn giản là phương tiện cho một mục đích mà là một biểu lộ tình yêu cách hùng hồn và có sức mạnh: cho đi của cải vật chất ngõ hầu kết hợp mật thiết hơn nữa với Chúa Kitô trong công cuộc cứu rỗi, chữa lành và thăng tiến nhân loại của Ngài. Như thế, đức khó nghèo được quí chuộng và chọn lựa vì Chúa Kitô và sứ mệnh của Ngài. Một kitô hữu có thể cảm thấy được kêu gọi thực hành triệt để đức khó nghèo để mang lại cho Giáo Hội và thế giới một chứng tá tiên tri, ví dụ như Thánh Phanxicô Khó Khăn.

 

Cvtđ 2,44-45 và 4,32: Chia sẻ của cải, đặc trưng đức khó nghèo của các cộng đoàn tu:

·        không nhất thiết phải sống trong ham muốn

·        của cải vật chất không được phép gây nên chia rẽ giữa dân chúng: mọi người sống từ ngân qủy chung.

·        đôi khi cá nhân và cộng đoàn tu sĩ có thể bị đòi hỏi sống trong sự tước bỏ lớn lao, nhưng điều này phát xuất do tính chất tông đồ của tu sĩ, chứ không do đời sống cộng đoàn.

·        Trong Công vụ tông đồ, mục đích của Luca không phải để mô tả đời sống cộng đoàn tu sĩ lý tưởng, nhưng để mô tả lý tưởng của Giáo Hội (cộng đoàn tu sĩ giống như Giáo Hội thu nhỏ).

 

6. THÁI ĐỘ THÁNH KINH ĐỐI VỚI CỦA CẢI

           

Thái độ Thánh Kinh đối với của cải dựa trên hai bản văn Công vụ tông đồ (Cvtđ 2, 44-45; 4,32-37 x.5,1-11), mà tiền đề căn bản là “Một đời sống đức tin kitô có nghĩa là một đời sống của sự duy nhất.” Hai điểm nổi bật:

  • Các kitô hữu tiên khởi không giũ bỏ tất cả giàu sang của cải của họ, nhưng họ chia sẻ chúng.
  • Mỗi người lệ thuộc vào cộng đoàn về cuộc sống thể chất.

 

Như thế, đức khó nghèo kitô có hai mặt:

·        Giao cho cộng đoàn tất cả những gì mỗi người có

·        Chia sẻ trách nhiệm về đời sống vật chất của cộng đoàn.

 

Thật rõ ràng: cá nhân hoàn toàn bị tước đoạt hay thiếu những phương tiện để tồn tại là không tốt. Chúng ta không tìm thấy trong Phúc Âm ca tụng sự đói kém, chết đói, thiếu dinh dưỡng, bệnh tật v.v… Trái lại, Thánh Kinh nói về tự do cho kẻ tù đày, sức khoẻ cho người đau yếu, những hình ảnh về tiệc cưới, dư dật rượu, lương thực và tất cả những của ngon (Mk 2,22; Mt 8,11; Lk 22,16-18)

 

Chúng ta giải quyết thế nào lập trường có lỗi gây bối rối cho nhiều tu sĩ chân thành rằng “chúng ta không phải là người nghèo theo Phúc Âm?

 

            Có sự chú giải sai lầm về Tân Ước, đặc biệt về Tám Mối Phúc Thật và câu chuyện chàng thanh niên giàu có.

 

            Đoạn văn Lk 6,20-21 về Bát Phúc này lắm khi được đọc như là sự ban phúc lành cho tình trạng nghèo khó và bị bách hại, và Nước Trời sẽ chỉ thuộc về những người ấy.

 

            Người thanh niên giàu có (Mt 19,16-22; Mk 10,17-22; Lk 18,18-23) nhấn mạnh về sự chia sẻ và cất đi bất cứ chướng ngại nào cho đức tin, chứ không nhấn mạnh về sự bần cùng.

 

            Chúa Giêsu không kêu gọi người thanh niên giàu có vào đời sống tu trì, nhưng cho đời sống kitô hữu mà thánh Matthêu gọi là một đời sống hoàn thiện.

 

            Sau cùng, câu chuyện nói về bản chất nền tảng của đức tin đích thực. Mọi sự đứng ở giữa người tin và người đầu hàng vô điều kiện bản thân mình cho Chúa Giêsu.

 

 

7. Chúa Giêsu VỚI sỰ giàu có và tài sẢn

 

            a. Chúa Giêsu mời gọi và khuyến cáo

 

Chúa Giêsu thấy sự giàu có là một mối nguy hiểm cho sự cam kết trọn vẹn cho Thiên Chúa và chấp nhận lời rao giảng về Nước Trời của Ngài.

 

Trong truyền thống Marcô, chúng ta có câu chuyện chàng thanh niên giàu có muốn “thừa kế sự sống đời đời” (Mk 10,17-22). Chúa Giêsu đã nói với anh ta là anh ta chỉ thiếu “một điều” (một điều này là tất cả những gì anh ta có). Anh ta được mời gọi từ bỏ đi theo nghĩa mặt chữ và trở nên môn đệ. Anh ta không thể chấp nhận yêu sách triệt để đó.

 

Sau việc đó, Chúa Giêsu bình luận rằng thật khó cho một người giàu được cứu độ (ẩn dụ con lạc đà chui qua lỗ khu kim: Mk 10,23-27). Chỉ có Thiên Chúa có thể cứu độ người giàu.

 

Như thế, ở đây chúng ta thấy rằng giàu có như là một trở ngại, không những cho việc theo Chúa, mà còn cho ơn cứu độ nữa. Quan điểm này được củng cố bởi những câu chuyện và hình thức khác của Phúc Âm, chẳng hạn Phúc Âm chứa đựng những lời hết sức khắt khe với người giàu và sự giàu có: “khốn cho ngươi là kẻ giàu có” (Lk 6,24; x. 16,25: dụ ngôn nhà phú hộ và Lazarô). Không ai có thể làm tôi hai chủ (Mt 6,24). Chúa Giêsu khuyến cáo chống lại kẻ tìm bảo đảm ở nơi tài sản (Lk 12,15). Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài tin tưởng vào Thiên Chúa (Mt 6,25-34).

 

 

 

 

b. Tại sao có quan điểm đó?

 

Tư tưởng khải huyền của Dothái nói chung có một cái nhìn rất tiêu cực về của cải giàu có.

Lối sống triệt để của Chúa Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Ngài đòi hỏi phải từ bỏ công việc và nhà cửa. Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài phải lệ thuộc vào những dâng cúng tự nguyện về tiền bạc, của cải, và lòng hiếu khách của những người ủng hộ tương đối khá giả.

 

c. Tại sao người giàu có bị đòi hỏi cho đi hết mọi thứ?

 

Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan hay Lêvi không bị đòi phải bán hết mọi thứ và cho kẻ nghèo khó. Phêrô có thể chiêu đãi Chúa Giêsu tại nhà ông ở Capharnaum sau khi ông được gọi (Mk 1,29-30).

 

Chúng ta biết những người phụ nữ hỗ trợ sứ vụ của Chúa Giêsu, và Gia-kêu, Maria, Matta và Lazarô đã tiếp đón Chúa Giêsu.

 

Điều đó chứng tỏ rằng ơn cứu độ không tùy thuộc vào việc chu toàn Mười Điều răn. Chúa Giêsu đòi hỏi đừng lo lắng về lương thực, quần áo và những của cải khác. Ngài đòi phải tín thác vào sự chăm sóc quan phòng của Đấng Tạo Hóa và là Cha. Phải lo tìm kiếm Nước Trời trước hết, Chúa sẽ chăm lo mọi thứ còn lại (Mt 6,25-33; Lk 12,22-31)

 

Chúa Giêsu cũng đòi hỏi phải chọn lựa một giữa hai sức mạnh điều khiển con người: Thiên Chúa hoặc Mammon (Mt 6,24; Lk 16,13). Chữ Mammon thay cho sự giàu có, tiền bạc, tài sản. Chúa Giêsu nhân cách hóa Mammon như một vị chúa tể giả dối. Cha của Chúa Giêsu là một Thiên Chúa hay ghen, nhưng Mammon cũng là một chúa tể hay ghen. Do đó, ta phải chọn lựa. Không thể có thỏa hiệp được.

 

Lời phê bình mạnh mẽ về sự giàu có này được cân bằng bởi mối bận tâm của Chúa Giêsu cho người nghèo: Phúc cho ngươi là kẻ nghèo khó (Lk 6,20). Dụ ngôn bữa tiệc trọng đại với người nghèo và ốm đau (Lk 14,16-24).

 

Luca đặc biệt quan tâm tới sự giàu có và nghèo khó. Chẳng hạn chúng ta có dụ ngôn về Lazarô (Lk 16,19-31), dụ ngôn người giàu có khờ (Lk 12,16-21) và cuộc tranh luận để chia gia tài (Lk 12,13-14). Chúa Giêsu không muốn can thiệp vào cuộc tranh luận. Xem ra khi Nước Trời đến thì có lẽ người ta sẽ bận tâm đến nhiều việc quan trọng hơn là tài sản.

 

d. Chúa Giêsu đối với việc sở hữu của cải và tài sản

 

Chúa Giêsu đòi hỏi tất cả các môn đệ Ngài và những ai tài trợ cho Ngài một sự tín thác trọn vẹn vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa, một sự tín thác làm cho người ta được thanh thoát khỏi mọi âu lo hay nô lệ cho “những vị chúa tể giả dối” của tiền bạc và của cải; không quá tin tưởng vào tiền bạc và của cải! Từ bỏ mối bận tâm và sống dựa vào các tặng vật tự nguyện và những cống hiến do lòng hiếu khách!

 

Chúa Giêsu không đòi bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài phải bỏ nghề nghiệp sinh nhai và nhà cửa, hay bán đi tất cả những gì mình có và cho người nghèo! Không! Giữa những người đi theo Chúa, có những người giàu và có tài sản của mình. Hãy nhớ Matta, Maria và một người phụ nữ khác đã tài trợ cho Chúa. Cả ông Gia-kêu giàu có nữa.

 

Hãy nhớ mỗi người có một ơn gọi khác nhau: Với người này, Chúa đòi bán đi mọi sự và cho người nghèo!; với người khác: hãy bỏ lại đàng sau mọi thứ (nhà cửa, công việc làm ăn, tài sản); với người khác: hãy tài trợ và cho đỗ nhà. Chúa là để cho người nghèo, nhưng không bao giờ Chúa gọi mình là người nghèo.

 

e. Hệ luận

 

Chúa Giêsu Nazareth chống lại mối bận tâm quá đáng hay lòng tin cậy vào tiền bạc và tài sản. Ngài đã bỏ lại đằng sau công ăn việc làm, nhà cửa, và bên ngoài như lệ thuộc vào những quà tặng tự nguyện và những cống hiến do lòng hiếu khách.

 

Ngài đòi hỏi các môn đệ bỏ lại đàng sau nhiều sự cho một tương lai vô định. Ngay cả Ngài đòi người thanh niên giàu có bán đi mọi sự anh ta có và cho người nghèo khó rồi đến theo Ngài. Những người giàu có gặp nguy hiểm nghiêm trọng về mặt thiêng liêng, ơn cứu độ của họ chỉ Chúa lo được.

 

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không đòi hỏi tất cả các môn đệ của Ngài (những người tin vào Ngài và sứ điệp của Ngài) phải cho đi của cải giàu sang, tài sản, nhà cửa hay đời sống gia đình. Có nhiều người vẫn giữ phương kế sinh nhai và nhà cửa, và từ những thứ đó họ đã cung cấp những gì cần thiết cho Chúa Giêsu và sứ vụ của Ngài.

 

Cuối cùng, sứ điệp của Chúa Giêsu là trực tiếp cho người nghèo (Lk 7,22; 4,18), nhưng không bao giờ Ngài tự gọi mình là người nghèo. Chắc chắn về mặt kinh tế, Chúa Giêsu nghèo (tất cả các học giả Thánh Kinh đều quả quyết như thế), nhưng Phúc Âm dành danh nghĩa “người nghèo” cho những ai Chúa Giêsu quan tâm và sứ điệp của Ngài trực tiếp nhắm tới: “Người nghèo các người có luôn với các ngươi, nhưng Ta các ngươi không có luôn đâu” (Mk 14,7; Ga 12,8).

 

 

8. Nghèo khó và cỦa cẢi sau PhỤc sinh

 

1. Tình hình cộng đoàn tín hữu

 

Đối với những người được gọi đi theo Chúa Giêsu, những đòi hỏi này sau Phục Sinh có còn quan trọng không? Người ta theo Chúa Giêsu thế nào sau các biến cố Ngài bị loại trừ, chịu đóng đinh và sống lại?

 

a. Một cộng đoàn khủng hoảng

 

Trong thời kỳ khó khăn, các tín hữu phải trải qua một cuộc khủng hoảng. Họ là ai? Là thế hệ kitô hữu thứ hai (có lẽ là những người kitô hữu Hy lạp-Dothái, căn bản ở Rôma).

 

Các dấu hiệu khủng hoảng: Kinh nghiệm của họ là gì? (Dt 10,32-39): một số người bị tù đày; Một số khác bị trịch thu tài sản; Họ trải nghiệm sự bị bách hại, thù ghét, tra tấn; Họ bị công khai lạm dụng và chế nhạo; không tham dự các buổi hội chung; Muốn trở lui về với Dothái giáo; Đức tin yếu kém; Mệt mỏi vì kinh nghiệm hằng ngày về sự sỉ nhục và xấu hổ.

 

Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng: Sự trì hoãn việc Chúa Kitô trở lại có thể có hậu quả làm nản lòng ở trong cộng đoàn; Nền kitô học từ trên: lâu về thần tính nhưng ngắn về nhân tính của Chúa Giêsu không giúp được các kitô hữu đang phải đau khổ vì đức tin; Đời sống phụng vụ và nghi thức nghèo nàn, thiếu sự an toàn giữa các tín hữu, so sánh với truyền thống lâu đời của Dothái giáo đang được Nhà nuớc bảo vệ khỏi bách hại; Những người tin không thể mong đợi được bước theo dấu chân của Đấng không cùng đi với họ.

 

Trả lời cho cơn khủng hoảng: Khoa Kitô học từ dưới đã được thêm vào: Chúa Giêsu đã trở thành một người trong chúng ta (Dt 2,11), bị cám dỗ như chúng ta (Dt 4,15), vâng lời Chúa Cha trong nước mắt và nguyện cầu (Dt 5,7-8), và phải chết (Dt 2,14); chịu sĩ nhục thập giá (Dt 12,2). Chúa Giêsu, đã được mô tả chân dung như nhà vô địch và hoàn hảo của cuộc lữ hành đức tin, chỉ cho những người đi theo Ngài làm thế nào để chịu đựng khổ đau, thù ghét và coi thường sự sĩ nhục (Dt 12,1-3).

 

Vượt lên khủng hoảng và tiến về phía trước: Bây giờ chúng ta hãy đi theo Chúa Giêsu ra ngoài trại và cam lòng gánh vác nỗi khổ nhục Ngài đã chịu (Dt 13,13); Hãy nối kết cùng những kẻ giống như Abraham đã lìa bỏ quê hương để đi tìm một quê hương tốt đẹp hơn, coi mình là ngoại kiều và lữ khách trên mặt đất (Dt 11,8-16); Hãy sẵn sàng để sống vô danh tiểu tốt, địa vị và nơi chốn trên trần gian (cuộc sống của một lữ khách); Sẵn sàng để cho đi mọi thứ bảo đảm và chắc chắn do định chế cống hiến bằng cái giá của rủi ro bao hàm trong cuộc sống theo Chúa.

 

2. Tinh thần nghèo khó đối với thánh Phaolô

 

Thánh Phaolô nói rằng ngài “làm cho mình thành nô lệ của tất cả mọi người” (1 Cor 9,19), ngài lặp lại lời những kẻ lăng mạ ngài: họ coi ngài như kẻ ti tiện, đê hèn (2 Cor 10,1). Nhưng ngài nhận lấy sự mô tả tiêu cực này và cho nó một ý nghĩa mới. Ngài đổi nó thành một lời tuyên bố tích cực: ngài hạ mình xuống để nâng những người khác lên, nghĩa là làm cho kẻ khác nên phong phú bởi việc rao giảng Phúc Âm. Như vậy theo thánh Phaolô nghèo khó làm cho kẻ khác nên giàu có: “Chúng tôi nghèo hèn, nhưng chúng tôi làm cho nhiều người nên giàu có” (2 Cor 6,10); Chúa Giêsu “làm cho mình nên nghèo khó, nhờ đó anh em trở nên giàu có” (2 Cor 8,9).

 

Vì thế, thánh Phaolô cảm thấy được thỏa mãn trong bất cứ điều kiện sống nào mà ngài phải đối mặt. Ngài biết thế nào là dư dật, nhưng ngài cũng biết chịu đựng những thiếu thốn hay phải đói khát. Thánh Phaolô đem Phúc Âm biếu không (2 Cor 11,7) và ngài đã học tự lấy làm đủ (Ph 4,11). Ngài có thể sống kiếp sống ấy vì Chúa nâng đỡ ngài trong mọi tình huống (Ph 4,13). Ngài là mẫu gương sáng chói trong lịch sử Giáo Hội sơ khai.

 

Thánh Phaolô dạy hãy làm việc để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Vì của cải của thế gian này không có giá trị bền vững, tín hữu không được gắn bó với chúng (1 Cor 7,28-31). Thánh Phaolô đòi hỏi mỗi tín hữu phải tự cung ứng cho nhu cầu của mình bằng cách nghiêm túc làm việc thích hợp (1 Th 4,12; 2 Th 3,10; Cvtđ 20,34tt). Cả đến những mối bận tâm tôn giáo, như trông đợi ngày Chúa quang lâm, cũng không được chước miễn điều bó buộc này. Ngài đã làm việc để tài trợ cho mình và sứ vụ của mình. Xem ra thánh Phaolô không biết đến một sự nghèo khó tự nguyện. Chúng ta không bao giờ được quên rằng theo trật tự xã hội cổ thời, những ai phải làm việc đều thuộc về giai cấp “không giàu” nghĩa là nghèo khó.

 

3. Cộng đồng của cải (Cvtđ 2,42-47; 4, 32-35)

 

Việc đặt tất cả những gì mình có làm của chung không phải là bắt buộc. Không phải mọi tín hữu noi theo gương của Barnabas (Cvtđ 4,36-37). Nhưng khi gán cho mọi tín hữu của Giáo Hội sơ khai sự quảng đại mà thực ra chỉ tìm thấy ở vài người, thánh Luca muốn giữ trước mắt các đọc giả của ngài một kiểu mẫu và một lý tưởng luôn có thể gợi hứng cho cộng đoàn kitô.

 

Kiểu mẫu lý tưởng cho cộng đoàn tu sĩ: Việc chia sẻ của cải là một dấu hiệu Nước Thiên Chúa đã khởi đầu. Kế hoạch của Chúa cho Dân Người: việc không có ai nghèo túng giữa các ngươi (Cvtđ 4,34; Dnl 15,4) đã trở thành một thực tại ở giữa cộng đoàn kitô đầu tiên.

 

Việc đặt của cải thành của chung cũng là hậu quả của ý thức rằng các tín hữu phải cùng nhau hình thành một cộng đoàn duy nhất, một thân mình trong đó mỗi người biết rằng mình sống trong liên đới với tất cả mọi người: không phải nghèo khó, cũng chẳng phải không dính bén, nhưng là tình yêu huynh đệ; Không phải yêu đức khó nghèo mà là yêu người nghèo khó; Điều đó không thúc đẩy chúng ta làm cho mình ra nghèo khó, nhưng là chu đáo nhìn xem để không ai phải túng nghèo.

 

Bổn phận bố thí: Thánh Gioan nghiêm nghị nói “Tôi hỏi anh làm sao tình yêu Thiên Chúa có thể tồn tại trong một con người có đủ mọi của cải thế gian này mà đóng lòng lại với một người anh em khi thấy họ đang lâm cảnh túng bấn” (1 Ga 3,17).

 

Người kitô được kêu gọi làm việc bác ái. Việc thực thi bác ái này không chỉ được xác định là bố thí, nhưng còn những hành động của lòng thuong xót nữa (x. Mt 25,35-46). Có gương của những người được cứu rỗi vì việc bác ái của họ (Cvtđ 9,36-43:Tabitha; 10, 2.4.31:Cornelius). Thánh Phaolô lên Giêrusalem mang theo của bố thí cho dân mình (Cvtđ 24,17).

 

Lạc quyên cho Giêrusalem (2 Cor 8-9): Cuộc lạc quyên là dấu hiệu của lòng quảng đại và hiệp nhất. Một đàng dân ngoại tuyên xưng đức tin vào Tin Mừng, như người ta nghe nói ở Giêrusalem, và đàng khác lòng quảng đại của cộng đoàn dân ngoại đối với các tín hữu ở Giêrusalem là dấu hiệu và chứng tá lòng chân thành của mình. Cuộc lạc quyên là dấu hiệu hiệp nhất giữa người kitô Dothái và người kitô Dân ngoại. Cuộc lạc quyên cũng là bằng chứng của tình yêu quảng đại.

 

Kết luận: Tu sĩ phải cảnh giác chống lại sang giàu; Phải phải rõ ràng chọn Thiên Chúa, chống lại sự chọn tiền bạc và giàu sang; Được gọi rao giảng Nước Thiên Chúa, tu sĩ phải chuẩn bị cho sự từ bỏ (bao gồm đời sống gia đình, tài sản và sở hữu); sẵn sàng để đối mặt với mọi thứ khổ đau và thiếu thốn vì Chúa Giêsu Kitô và hãy quảng đại với người nghèo.

 

Để suy tư: “Mang lấy thập giá” luôn là điều kiện để đi theo Chúa Giêsu. Đi theo Ngài sau Phục sinh có nghĩa là tham dự vào mầu nhiệm hủy mình ra không của Chúa Kitô (Ph 2,6-8). Bình luận về lời tuyên bố này: Bạn phản ứng thế nào? 

 

 

9. Nghèo khó trong đỜi sỐng thánh hiẾn

 

a. Khi mọi kitô hữu đều nghèo

 

Chúng ta có thể nói rằng suốt trong các thế kỷ đầu, các kitô hữu nói chung đều nghèo theo hai quan điểm xã hội học và Tin Mừng. Quả thế, hầu hết họ đều thuộc về giai cấp thấp nhất của xã hội: trở thành kitô hữu có nghĩa là bị kết án gạt ra bên lề (1Cor 1,26-31).

 

Trong thời gian ấy, người kitô không có được các quyền đúng mức như các công dân khác có, bằng chứng là họ liên tục phải chịu bách hại. Nhưng chính hoàn cảnh xã hội-chính trị đã tạo nên tình liên đới lớn lao giữa họ khiến các dân ngoại ngưỡng phục, theo như lời Tertulianô: “Xem kìa, họ thương yêu nhau là dường nào!” (Apol. 39,7). Hãy nỗ lực xây dựng cộng đoàn chúng ta nên nhưn thế.

 

b. Nghèo Khó như một phản kháng của đời sống đan viện khởi thuỷ

 

Kitô giáo được tuyên bố là tôn giáo chính thức vào năm 380. Những cuộc trở lại tập thể bắt đầu. Một số người gia nhập Giáo Hội và đã được rửa tội, họ chưa được trưởng thành xét về phương diện thiêng liêng và giáo lý. Việc đó mang lại tình trạng lỏng lẻo trong đời sống kitô. Nhiều người được rửa tội, nhưng không thực sự trở lại. Bây giờ trở thành kitô hữu có nghĩa là đi vào trong một xã hội có nhiều ảnh hưởng.

 

Nhiều kitô hữu ý thức không còn cảm thấy thoải mái trong một xã hội như thế nữa. Trái lại, họ cảm thấy đó như là một sự thù nghịch và là một cạm bẫy. Và họ đã trốn vào sa mạc, họ đi tìm sự nhiệt tình không thể tìm thấy hoặc không thể duy trì ở trong thành thị.

 

c. Đặc tính của nghèo khó giữa các đan sĩ đầu tiên

 

Ở giữa các tu sĩ ẩn tu: Làm việc chân tay để tự tài trợ lấy, đi kèm theo cầu nguyện và lectio Divia; Một cuộc sống khắc khổ ; Quản trị những gì đã kiếm được và để được thực sự là nghèo khó, họ phân phát cho người bần cùng tất cả những gì còn lại sau khi họ tự cung ứng cho mình các nhu cầu trực tiếp. Không dành dụm gì cho tương lai. Chúa sẽ cung cấp.

 

Ở giữa các tu sĩ sống đời hiển tu: Tài sản chung, nhưng không có gì cho bản thân họ; Mọi tu sĩ đều phải làm việc. Thành quả của công việc dùng để bảo trì tu viện và làm việc bố thí; sử dụng của cải người ta giúp.

 

Như thế tương quan của các đan sĩ với của cải vật chất ăn rễ sâu vào trọng tâm của nguyên tắc kitô về tình yêu tương hỗ. Một việc quan trọng đối với họ là việc cá nhân từ bỏ của cải trước khi chấp nhận vào cộng đoàn, về sau được triệt để vâng giữ.

 

Một đặc tính điển hình của của sự nghèo khó ẩn tu thực tế bị mất: sự thiếu an toàn cho ngày mai và sự nương tựa trọn vẹn của họ vào tình yêu từ phụ của Thiên Chúa. Đối với đời sống hiển tu, sự an toàn tương lai được Dòng tu bảo đảm.

 

Vì công việc của các tu sĩ hiển tu sinh lợi về mặt tài chánh, các tu sĩ hiển tu sớm bắt đầu thu tích của cải. Vài cộng đoàn đã trở nên những trung tâm sản xuất nông nghiệp và tiếp thị. Họ bắt đầu cần những người giúp việc; vài cộng đoàn sở hữu tàu thuyền chuyên chở sản phẩm ra thành thị. Nhưng vì khó tính toán các nhu cầu trực tiếp của các cộng đoàn lớn, và vì các thành viên sản xuất được nhiều hơn cái họ cho người nghèo, nên mối liên kết giữa công việc tay chân và sự hiệp thông với người bần cùng bị đánh mất.

 

d. Từ phản kháng đến đối thoại

 

Từ phản kháng, một cuộc trốn chạy khỏi thế gian (đời sống đan viện Tây phương vẫn duy trì thái độ này trên thực tế cho đến ngày nay), các tu sĩ dần dần chuyển sang đối thoại với thế giới và xã hội.

 

Nhân vật chìa khóa là thánh Biển Đức. Ngài đã nỗ lực xây dựng lại đời sống đan tu và xã hội đã bị đảo lộn do các cuộc xâm lăng man di. Nhờ sự ổn định của đan viện, thánh Biển Đức đã giải thoát đời sống đan tu khỏi tai họa: sự quá lười biếng của nhiều tu sĩ thời ấy, và đời sống đan viện muốn trở thành kiểu mẫu cho xã hội chung quanh, bây giờ được hình thành bởi các người nhập cư xem ra không muốn chấm dứt cuộc sống lang thang của họ.

 

e. Khó nghèo như sự sẻ chia

 

Đối với các tu sĩ Biển Đức, đức nghèo khó như hậu quả của một sẻ chia huynh đệ theo đúng cộng đoàn Giêrusalem. Đối với thánh Biển Đức, lao động là thuốc giải độc tốt nhất chống lại tất cả những nguy hại cho hòa bình và tình huynh đệ (RB 48); theo đường lối này, đời sống đan sĩ phải quay quanh hai trụ này là lao động và cầu nguyện. Sau khi ca tụng Chúa trong huynh đoàn phượng tự thánh (Opus Dei), các tu sĩ Biển Đức ra đi làm việc tay chân và trí óc, cùng với lời cầu nguyện của mình và luôn luôn ở trong huynh đoàn.

 

Kết quả của công việc này được sử dụng để duy trì đan viện và chia sẻ với những người thiếu thốn, trên hết bằng tiếp đón khách và chăm sóc người ốm đau (RB 53). Họ phải nhìn thấy Chúa Kitô trong khách trọ, người hành hương hay bệnh nhân (RB 36,53). Nhưng vì công việc lao động tiếp diễn của các thế hệ đan sĩ mang lại kết quả, đan viện cũng có thể có sở hữu về mặt kinh tế. 

 

Tuy nhiên, sự trở nên giàu có của các đan viện về mặt kinh tế đã hùn vào sự xuống cấp của đời sống đan tu thời trung cổ: các đan sĩ bắt đầu bỏ việc lao động chân tay và sống nhờ vào thu nhập của thế hệ trước, rơi vào chế độ phong kiến. Thánh Biển Đức đã nói rằng những gì là dư thừa phải cho đi (RB 55), nhưng hiếm khi được đưa vào thực hành. 

 

f. Phản ứng của Tu sĩ khất thực

 

Bối cảnh: Phẩm trật của Giáo Hội (Giáo Hoàng và các Giám mục) có liên hệ sâu xa với giới quý tộc, đại lãnh chúa và những đan viện giàu có nhất. Những thay đổi xã hội sâu xa đã đưa lên giới trung lưu, thương gia và ngân hàng. Tiền bạc trở nên nguồn quyền lực trong một chiều hướng mới, một tiêu chuẩn phân biệt đối xử xã hội (Ai chi tiền người đó điều khiển), trước sự nghèo khó của quần chúng.

 

Phản ứng: Trở về với Phúc Âm: sự nghèo khó lữ hành của Chúa Giêsu; Phản ứng được bộc lộ bởi nhiều phong trào coi nghèo khó như tiêu chuẩn kitô giáo đích thực. Diễn từ truyền giáo của Chúa Kitô (Mt 10; Lk 10) trở thành nguồn cảm hứng chung. Trong bầu khí xã hội-tôn giáo này, lý tưởng của một sự khó nghèo tuyệt đối được khai sinh. Các Dòng Khất Thực đúng là ít cành của cái cây khổng lồ làm nên bởi các phong trào bần cùng thời trung cổ.

 

Thánh Phanxicô Atxidi (1182-1226)

Ý nghĩa của khó nghèo Phanxicô: Sự trở lại và bắt chước Chúa Kitô khó nghèo trong một Giáo Hội mà mọi người đều là anh em, và các tu sĩ Phanxicô tự coi mình là thấp hèn bé nhỏ ở giữa họ và để phục vụ họ (Các Anh Em Hèn Mọn). Cái mới là không những chỉ các thầy dòng không có gì, mà ngay cả huynh đoàn Phanxicô cũng không được cho phép có bất cứ cái gì (sự nghèo khó tập thể).

 

g. Những thách đố mới

 

Nhân bản thuyết đã tạo nên một đảo lộn trong cổ thời (văn hóa Hy lạp đã trở nên một thời trang, con người nằm ở trung tâm, chứ không còn là Thiên Chúa nữa). Các khám phá khoa học và địa lý đã gây hứng thú và sự tiếp cận mới với thực tại vật chất, tích cực hơn. Kỹ nghệ gia tăng. Martin Luther và phản ứng của ông chống lại quyền bính Giáo Hội và đời sống đan tu.

 

Sự mới mẻ lớn lao trong hình thức mới của đời sống thánh hiến là Hàng Giáo Sĩ Triều. Thêm vào ý niệm truyền thống “Anh Em” sống trong một cộng đoàn, nghèo khó, tận hiến cho việc lao động để phụng sự Chúa là “Hàng Giáo Sĩ” nghĩa là những người được Chúa Kitô chọn cách đặc biệt để đảm trách một “sứ mệnh thánh thiêng” trong Giáo Hội và trong thế giới.

 

Việc thực hành nghèo khó trong hình thức mới của đời sống thánh hiến có hai khía cạnh: sự nghèo khó cá nhân và sự nghèo khó của Dòng tu (khía cạnh thứ hai này luôn bị bỏ quên). Sự nghèo khó cá nhân khắc khổ nhất được nhấn mạnh như sự vâng lời vô điều kiện (hoàn toàn lệ thuộc vào Bề Trên). Một loại nghèo khó của khổ hạnh từ bỏ mọi sự và sẵn sàng cho việc tông đồ.

 

Trong khi sự nghèo khó cá nhân được đặc trưng trong các Dòng tu tân thời cách rất rõ nét, thì sự nghèo khó tập thể đã được hiểu một cách rất khác biệt. Việc tông đồ của tập thể được thực hiện với một sự triển khai qui mô các phương tiện kinh tế. Các cá nhân thực sự là nghèo, nhưng Dòng tu trở nên giàu có và rất mạnh về mặt kinh tế. Chúng ta có thể nói rằng một cách nào đó kiểu nghèo khó này dường như theo mẫu gương của thánh Phaolô: sống nhờ công việc cá nhân, tự hiến hoàn toàn cho việc rao giảng Phúc Âm, cố gắng để được tự do khỏi mọi bận tâm về kinh tế để không nên gánh nặng cho bất cứ ai (2 Th 3,8).

 

Tóm lại, một số Dòng tu đã được lập nên để phục vụ người nghèo, rõ ràng vì người nghèo quá nhiều, đã đổi sang phục vụ người giàu với ý hướng rất tốt là để phục vụ người nghèo tốt hơn, nhưng ý hướng đó đã bị bỏ quên trọn vẹn hay một phần. Tinh thần mạnh dạn đó đã chiếm được nhiều tu sĩ và dần dần họ đã trở nên trưởng giả.

 

Lúc ban đầu của mỗi Dòng Tu cái rất được nhấn mạnh là thừa tác vụ được ban nhưng không và từ chối thu nhập, nhưng về sau hầu hết đều xin Tòa Thánh chuẩn cho.

 

h. Tóm lại, có bốn kiểu nghèo khó:

·        Khổ chế: công việc chân tay, chia sẻ với người nghèo và tín thác vào Chúa

·        Các tu sĩ hiển tu: Mọi sự là của chung (Cộng đoàn Giêrusalem)

·        Tu sĩ khất thực: cố gắng thực sự nghèo, đi theo lối sống lữ hành của Chúa Giêsu.

·        Giáo sĩ triều: sẵn sàng cho sứ vụ ở trong Giáo Hội và trong thế giới.

 

10. ĐỨc nghèo khó trong các Tu HỘi ĐỜi

 

Có hai loại tu hội đời: Những tu hội đời trong một chừng mực nào đó có một thứ đời sống cộng đoàn: họ sống cùng dưới một mái nhà, ăn cùng một bàn, cùng làm một việc…nhiều khi có cùng một ngân quỹ;

 

Những tu hội đời có các thành viên sống biệt lập, mỗi người ở nhà riêng mình, tự do chọn lấy công việc, tự trách nhiệm lấy sự tồn tại của mình, giữ lấy tiền lương của mình, quản lý ngân quỹ riêng của mình, có bảo hiểm tương lai riêng, giống như bất cứ công dân nào khác làm.

 

Ở đây chúng ta để ý đến loại tu hội đời thứ hai này, còn loại thứ nhất có cùng những vấn đề như các Dòng tu có đời sống chung đã được bàn cãi rồi.

 

Các thành viên của tu hội đời vẫn là giáo dân nên lối sống nghèo của họ sẽ giống như các tín hữu khác. Ở cấp độ cá nhân, họ bị bó buộc không được dính bén của cải vật chất, sống giản dị, không để mình bị lôi kéo vào hưởng thụ và tiện nghi, họ sống giống như lữ hành hướng về Chúa Cha. Họ cam kết triệt để làm những gì mà mỗi tín hữu phải làm.

 

Tín hữu này không phải lệ thuộc vào Bề Trên của Dòng tu liên quan đến kinh tế của mình, nhưng cách chung, người tận hiến nhìn nhận Bề Trên có quyền biết tình trạng vật chất của mỗi thành viên. Điều đó được thực hiện bên trong những giới hạn của một sự dè dặt khôn ngoan, một thông tin đầy đủ, dù không phải đi vào chi tiết tình trạng kinh tế của mình, như thế là đủ, không phải vì họ cần đến phép tắc, nhưng họ cần đối thoại và được sự giúp đỡ từ quan điểm tu đức của tu hội.

 

11. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA KHÓ NGHÈO

 

Lời Khấn Khó Nghèo là một đặc sủng của Chúa Thánh Thần, tác động lên tự do của chúng ta, từ từ đồng nhất hoá chúng ta với Chúa Giêsu, khó nghèo vì Nước Thiên Chúa, yêu thương người nghèo, và thúc đẩy chúng ta yêu thương “với tất cả sức lực và của cải của chúng ta.” Chúng ta cũng cần xem xét tầm ảnh hưởng của việc sống lời khuyên Phúc Âm này.

 

a. Chiều kích truyền giáo và chính trị của đức khó nghèo: Đời sống và hoạt động của tu sĩ phải trực tiếp hướng tới người nghèo khó nhất, cố gắng hết sức sống như họ sống, bảo vệ công lý, và chia sẻ với họ những của cải cộng đoàn của chúng ta, vì cùng với Giáo Hội, tu sĩ phải chọn đứng về phía người nghèo. Chúng ta biết về mạng lưới bất công toàn cầu và bao nhiêu triệu triệu anh chị em của chúng ta sống ở ngưỡng cửa của nghèo khó. Chúng ta không thể chấp nhận được điều đó. Chúng ta được mời gọi đến một giao ước mới của tình liên đới, đặt căn bản trên trách nhiệm chung đối với tất cả anh chị em của chúng ta.

 

b. Chiều kích cộng đoàn của đức khó nghèo: Noi gương cộng đoàn tín hữu đầu tiên, các tu sĩ phải có mọi sự làm của chung. Thiết lập một cộng đoàn trong đó không ai cảm thấy cần hay lấy cái gì thuộc của chung làm của riêng mình. Nhưng có mối nguy hiểm là làm giàu cho cộng đoàn và chúng ta trở nên xa rời với lớp người nghèo. Lối sống nghèo là một việc, nhưng nó phải được cung cấp bởi những cấu trúc giản dị của các cộng đoàn của chúng ta. Có mọi sự làm của chung, nhưng không phải để dự trữ, mà để chia sẻ.

 

c. Chiều kích thấn bí của đức khó nghèo: Chúng ta phải yêu mến Chúa với tất cả sức lực của chúng ta. Tin tưởng vào Ngài rằng chúng ta ở trong tay Ngài. Chia sẻ thân phận nhập thể và nhập thế của Chúa Giêsu (Kenosis). Sống lời khấn khó nghèo là chúng ta biểu lộ tình yêu của chúng ta cho Chúa, Ngài là kho tàng duy nhất của chúng ta, biết rằng mọi sự tìm được nơi Chúa nguồn gốc và sự viên mãn, và nếu không có Chúa thì chúng chẳng là gì cả và không gì có thể làm chúng ta thỏa mãn được.

 

d. Chiều kích biểu tượng, tiên tri và chứng tá cánh chung: Có mọi sự làm của chung, chúng ta cố gắng không để ai cơ cực trong cộng đoàn như dấu hiệu khởi đầu của một cái gì mới mẻ = cánh chung. Chúng ta trở nên “hình tượng sống động” của Chúa Giêsu nghèo khó và của Giáo Hội, cam kết sống cho người nghèo, trong niềm hy vọng được vào hiệp thông với các thánh.

 

e. Chiều kích sinh học của đức khó nghèo: Một tình yêu đích thực không có thái độ sở hữu, thuần túy khai thác và hưởng thụ đối với thiên nhiên, nhưng canh tác, chăm sóc và bảo vệ thiên nhiên khỏi mọi thứ lạm dụng, coi mọi thứ thuộc về tất cả các con cái Chúa. Không sở hữu, nhưng chiêm ngưỡng. Điểm này là một phát triển hiện nay bên trong nền tu đức kitô. Thiên nhiên cũng là một phần của giao ước. Lối sống nghèo phải tỏ ra yêu thương và trân trọng thiên nhiên.

 

f. Sự nghèo khó Phúc Âm như một quà tặng và điều kiện đặc sủng: Một trong những hậu quả của lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ nam/nữ của Ngài là dẫn đưa họ vào lối sống nghèo khó, tuyệt đối tin tưởng và phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa, chia sẻ của cải của mình với tha nhân, quảng đại phục vụ những người nghèo khó nhất.

 

Đức khó nghèo chỉ có thể được như một quà tặng. Đức bác ái là một nhân đức chỉ rõ tính chất của đức khó nghèo: “Nếu tôi trao tặng tất cả những gì tôi có cho người nghèo, ngay cả hiến dâng cả thân xác tôi, nhưng không vì đức ái thì có lẽ chẳng có giá trị gì cho tôi (1 Cor 13,3).

 

12. CAM KẾT ĐỨNG VỀ PHÍA NGƯỜI NGHÈO

 

a. Ba Hình Thức cam kết đứng về phía người nghèo

·        Đi thăm người nghèo

·        Làm mục vụ cho người nghèo

·        Ở với người nghèo

 

b. Các lý do thần học của việc chọn đứng về phía người nghèo :

 

Động lực thần học: Thiên Chúa đã chọn đứng về phía người nghèo: “Ta đã thấy sự khốn cực của dân Ta ở Ai cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta đã biết nỗi khổ đau của chúng, Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật” (Xh 3,7-8; x. Is 1,10-17; 58,6-7).

 

Động lực Kitô học: Chúa Giêsu đã thực hiện một chọn lựa cá nhân đứng về phía người nghèo và lấy họ làm những người nhận lãnh chính Nước Trời. “Khi Ngài đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng, Ngài vào hội đường như Ngài vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Ngài cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Ngài mở ra, gặp đoạn chép rằng: Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. Ngài cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Ngài. Ngài bắt đầu nói với họ: ‘Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe’" (Lk. 4, 16-21; x.Lk. 6,20; 7,21-22; 10,25-37).

 

Động lực Thánh Mẫu học: Mẹ Maria là người phụ nữ ngôn sứ và giải phóng của người nghèo. Mẹ là ngôn sứ của Kinh Magnificat, báo trước lời loan báo ơn giải thoát của Con Mẹ. Mẹ tỏ ra chăm chú và cảm thông với thân phận của người thấp hèn và bị đè bẹp. Trong khung ảnh ca ngợi Chúa, Mẹ đã cất tiếng tố cáo và kêu xin giải pháp thần linh cho mối liên hệ giữa những kẻ áp bức và những người bị áp bức.

 

Động lực cánh chung: Những gì sẽ được tính đếm trong ngày chung thẩm đều do thái độ chấp nhận hay khước từ người nghèo của chúng ta: 

"Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

 

Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu? " Đức Vua sẽ đáp lại rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."

 

Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng." Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu? " Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy." Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời" (Mt. 25,31-46).

 

Động lực Tông đồ: Các Tông đồ và những người theo các ngài đã chia sẻ mọi sự làm của chung khiến chẳng có ai phải nghèo túng ở giữa họ: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu (Cvtđ 2,42-45). “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cvtđ 4,32).

 

Động lực Giáo Hội học: Hội Nghi Medellin (1968) chọn lựa người nghèo; Hội Nghi Puebla (1979) cũng chọn lựa người nghèo; Hội Nghi Sto. Domingo (1992) ưu tiên chọn lựa người nghèo; Công Nghi của Giáo Hội Philippines PCP II (1992) tình yêu ưu tiên đối với người nghèo “để trở nên chứng nhạn khả tín cho Tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô… giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ của Giáo Hội Công giáo tại Philippines phải trở nên Giáo Hội của người nghèo”

Giáo Hội trong Thế giới Hôm nay: Vui Mừng và Hy Vọng:Vì thế, mỗi người có quyền có được đầy đủ của cải trần thế cho họ và gia đình họ. Đây là ý kiến các Nghị phụ dạy dân chúng có bổn phận trợ giúp những người nghèo, và làm thế không chỉ bằng của cải dư thừa của họ. Những người gặp phải hoàn cảnh quá cần thiết được quyền lấy những gì họ cần từ sự giàu có của kẻ khác. 

 

Đối mặt với thế giới hôm nay trong đó có quá nhiều người đau khổ vì thiếu thốn, Công đồng xin các cá nhân và các Chính phủ nhớ lời nói của các nghị phụ: “Hãy cho người đang chết đói ăn, vì nếu ngươi không cho họ ăn là ngươi giết chết họ.” “Và Công đồng cũng thúc đẩy họ tùy theo khả năng của mình mà sẻ chia và sử dụng của cải của mình mà giúp đỡ người khác, nhất là cống hiến cho họ sự trợ giúp khả dĩ làm cho họ tự giúp và phát triển chính mình” (GS 69).

 

Công Lý trên Thế giới: Lắng nghe tiếng khóc của những ai đang phải đau khổ vì bạo lực và bị bách hại bởi những hệ thống và cơ cấu bất công, và khi nghe lời kêu gọi cứu giúp của một thế giới đang nghịch lại kế hoạch của Thiên Chúa vì sự sai trái của nó, chúng tôi chia sẻ ý thức ơn gọi của Giáo Hội là hiện diện trong lòng thế giới bằng cách loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, tự do cho người bị áp bức và niềm vui cho kẻ buồn phiền” (GS 5).

 

Tình huống hiện tại của thế giới, nhìn trong ánh sáng đức tin, kêu gọi chúng ta trở về với cái rất cơ bản của sứ điệp kitô, tạo nên trong chúng ta ý thức sâu xa về ý nghĩa đích thực và những đòi hỏi cấp bách của nó. Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng truyền khiến chúng ta trong thời gian hiện tại phải hiến dâng chính mình cho việc giải phóng dân chúng ngay trong chính lúc họ đang hiện diện trong thế gian này. Chỉ khi sứ điệp kitô về tình thương và công lý chỉ rõ hiệu quả của mình qua hành động vì công lý trên thế giới thì nó mới chiếm được lòng tin của dân chúng thời đại chúng ta.

 

Nhằm phát triển các Dân Tộc: “Nếu kẻ nào có của cải trần gian này thấy người anh em đang túng quẫn mà đóng lòng mình lại thì làm sao Tình yêu Thiên Chúa ngự ở trong người ấy được?” (1Ga 3,17). Ai cũng biết những lời rất mạnh mà các Nghị phụ dùng để mô tả thái độ thích hợp của những người có mọi thứ đối với những người quẫn bách. Xin trích dẫn lời thánh Ambrose: “Ngươi không cho người nghèo cái gì từ những gì ngươi đang có, là ngươi đã lấy mất cái là của họ. Như thế, ngươi đã đòi bậy cho ngươi những gì đã được ban chung cho mọi người sử dụng. Thế giới này được ban tặng cho tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng cho người giàu” (GS 23).

 

Về mối quan tâm xã hội: Một đề tài nhất quán của Giáo huấn xã hội của Giáo Hội là ưu tiên yêu thương hay chọn lựa đứng về phía người nghèo. Ngày nay, mối ưu tiên này phải được chuyển tải rộng rãi tới mọi chiều kích của thế giới, ôm ẳm con số bao la của những người đói, cùng khốn, vô gia cư, những ai không được chăm sóc y tế, những ai sống không hy vọng vào ngày mai (x. GS 42).

 

 

III. LỜI KHẤN KHIẾT TỊNH

 

1. ĐẦu mỐi tỪ Thánh Kinh

 

  • Cái nhìn của Thánh Kinh về giới tính: Theo trình thuật sáng tạo, giới tính là một cái gì tốt đẹp, một phúc lành của Chúa ban cho con người để tiếp tục công trình sáng tạo của Ngài (suy tư: Giới tính đối với tôi là gì? Trong nền văn hóa của tôi? Trong Dòng tu của tôi?
  • Giới tính là Phúc lành hay Nguyền rủa (không sinh hoa kết quả): Is 54,1-6
  • Chỉ một mình Chúa có thể thay đổi một lời nguyền rủa thành một phúc lành (ví dụ Sara, Anna, Elizabeth)

 

2. BỐI CẢNH TÂN ƯỚC

 

Các kitô hữu tiên khởi phải đối đầu với hai vấn đề nghiêm trọng:

  • Hôn nhân loạn luân nơi dân ngoại: Lv 18,6-18; 1 Cor 5,1-5.
  • Người dân ngoại trở lại kết hôn trong cộng đoàn kitô, bị vỡ mộng, trở lại nền văn hóa/tôn giáo cũ và kết hôn trở lại bên ngoài cộng đoàn kitô.

 

Qui chiếu cổ điển của đức Khiết tịnh là Mt 19,10-12 mà bối cảnh là hôn nhân. Mt 19,12 kiên quyết đòi hỏi họ vẫn giữ mình không kết hôn hầu trở nên “yêm hoạn vì Nước Trời”

 

Điều quan trọng nhất mà Mt 19,12 nói đến là lý do tại sao Chúa Giêsu sống độc thân: “VÌ NƯỚC TRỜI”... sức mạnh không thể cưỡng lại được của sự hiện diện của Nước Trời trong đời sống của Ngài khiến Chúa Giêsu sống độc thân.

 

Như vậy, Nước Trời hay Tình yêu của Chúa thay đổi tôi nên yêm hoạn (Chúa sẽ làm cho tình trạng yêm hoạn của tôi thành một phúc lành, chứ không phải là một nguyền rủa)

 

Các đối thủ của Chúa Giêsu đã biết hai loại yêm hoạn: Một loại sinh ra như vậy và một loại do con người làm nên không thể chấp nhận tình trạng kết hôn bình thường. Chúa Giêsu đưa vào loại thứ ba: Vì Nước Trời, tôi đã trở nên yêm hoạn.

 

1 Cor 7,35: Chúa Giêsu sống độc thân vì sự chú tâm không phân chia cho Chúa của Ngài mà Ngài gọi là “Cha”

 

Lời khấn độc thân khiết tịnh vừa là quà tặng vừa là chọn lựa được thực hiện trong tự do để yêu mến Thiên Chúa trở lại (vì Ngài đã yêu thương con người trước). Lòng đam mê chi phối của một con người đối với Thiên Chúa là trọng tâm của mọi cuộc đời.

 

Đam mê nung nấu/Lòng nhiệt thành: Sự tận hiến không phân chia và không nghỉ ngơi đối với Chúa Cha không phải là một cuộc sống tự buông thả, nhưng là một cuộc sống được siêu việt hóa.

 

Khiết Tịnh là một cam kết trở nên say mê Chúa như Chúa Giêsu đã say mê Cha Ngài. Độc thân là một từ chuyên môn có nghĩa là không kết hôn (là một người yêm hoạn). Độc thân khiết tịnh bao gồm toàn thể thực tại của con người (căn tính và giới tính, thể lý, tinh thần, trí não, ý hướng, khát vọng, chọn lựa, v.v…)

 

3. YÊM HOẠN VÌ NƯỚC TRỜI (1 Cor 7,32-40)

 

Những lý do ở đàng sau gợi ý của thánh Phaolô để đào sâu chú ý với những việc thông thường: để ý nỗi lo lắng đang đe dọa; thời gian hạn định rất ngắn ngủi; hình thức thế giới này sẽ qua đi

 

Việc giải quyết ba vấn đề trong Mt 19, 3-12 luôn đòi hỏi các nhà chú giải:

  • giải thích tại sao Matthêu đưa vào khoản ngoại lệ 19,9 và đoạn văn 10-12
  • cả hai khoản lồng vào được giải thích bằng việc liên kết chúng với cùng một vấn đề mục vụ: tình trạng hôn nhân ngoại lệ
  • giải thích câu 12 trong bối cảnh của các câu 3-12.

 

Lý do chính thúc đẩy chúng ta kết luận rằng Mt 19,12 là cái mà ngày nay Chúa Giêsu nói đến: “Yêm họan vì Nước Trời”

 

4. ĐỘc thÂn thÁnh hiẾn trong                              ThÁnh Kinh vÀ TruyỀn thỐng DothÁi

 

a. Đời sống độc thân trong Cựu Ước

 

Đời sống độc thân theo truyền thống Dothái: “Bất cứ người đàn ông nào không có vợ không phải là đàn ông, vì ‘Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ và gọi tên là Adam’” (St 5,2). Các nhà khôn ngoan Dothái đặt giá trị cao nhất trên hôn nhân và gia đình. Họ nhìn phụ nữ như nền tảng của đời sống nhân đức. Họ quả quyết rằng một người đàn ông không cưới vợ không thể đạt được nhân đức.

 

Trường hợp duy nhất của đời sống độc thân trong Cựu Ước là Giêrêmia (Jer 16,1-4). Như bất cứ ngôn sứ nào, đời sống của Giêrêmia là biểu tượng sứ điệp của ông. Đời sống và sứ điệp của ông chống lại cái mà Israel lấy làm thiết thân: một đại gia đình. Sự vô sinh bị coi như một lời nguyền rủa và một đời trinh nữ lâu dài là một lý do để than khóc (thân phận gái già).

 

Khi một quốc gia bị phá hủy và những gia đình bị tan vỡ hay bị phá hủy, Israel có thể nhìn vào Giêrêmia cô độc và bị bỏ rơi, và nhờ đồng hóa với ông mà thấu hiểu được sự tận hiến anh hùng của ông và đạt được sự thanh tẩy vào đời sống mới. Đời sống độc thân của Giêrêmia liên kết ông với dân chúng và làm cho sứ vụ của ông thêm hữu hiệu.

 

b. Đời sống độc thân trong Tân Ước

 

1) Tại sao người Corintô đặt câu hỏi: Đàn ông không gần gũi đàn bà là điều tốt (1Cor 7,1)?

Đó là vì Viễn ảnh thực hiện cánh chung; do lời giải thích một câu nói được gán cho Chúa Giêsu về cuộc sống sau khi sống lại (Mt 22,30), và Gương của thánh Phaolô (1Cor 7,7)

 

2) Câu trả lời của thánh Phaolô:

Hôn nhân bao gồm trọn vẹn đời sống tính dục là đáng ao ước, trừ khi hai người thỏa thuận với nhau để cầu nguyện, hoặc khi một bên có ơn ban sống độc thân.

 

Hôn nhân không bị tháo gỡ, trừ khi bên không tin muốn chia lìa bên theo công giáo (đặc ân Phaolô)

 

Luật chung phải theo về giới tính và hôn nhân là luật kép phải theo trong mọi Giáo Hội của thánh Phaolô (1 Cor 7,17): sống theo các ân ban Chúa đã ban cho anh (1 Cor 7,17a); và sống đúng theo ơn gọi kitô của chị (1 Cor 7,17b) hay là giới răn của Chúa (1Cor 7,19b)

 

Để cho rõ ràng, thánh Phalô nói: Nếu anh có ơn ban độc thân, hãy sống như vậy; nếu anh không có ơn ban độc thân, đừng cố sống như thế; còn nếu anh đã kết hôn thì hãy cứ ở như vậy (như Chúa đã truyền)

 

Vì sự sai lầm về thời cánh chung của mình (cánh chung đã được thực hiện rồi!), người Côrintô tin rằng bây giờ họ phải sống như các thiên thần bằng cách siêu việt hóa đời sống tính dục của họ.

 

Thánh Phaolô nói rằng không có vấn đề thần học về hôn nhân, cả hai (hôn nhân và độc thân) đều là những chọn lựa chính đáng của người kitô. Tuy nhiên, xem ra ngài nghiêng về độc thân. Tại sao? Các kitô hữu không phải là thiên thần!

 

5. ViỄn tưỢng cÁnh chung cỦa PhaolÔ

 

a. Viễn tượng cánh chung của Phaolô có hai cực:

1)      Cánh chung chưa đến: ưu tiên hôn nhân

Các kitô hữu sống ở chỗ các thế hệ gối lên nhau, ngày sống lại chung của các kẻ tin vẫn còn là tương lai (1 Cor 15): Chưa đến! Kết luận: công cuộc sáng tạo, như hôn nhân, vẫn tiếp tục. từ viễn ảnh này mà có một sự đánh giá tích cực về hôn nhân của thần học.

 

2)      Cánh chung đã đến rồi: ưu tiên độc thân

Thánh Phaolô tin rằng, ít nhất vào thời gian viết lá thư này, ngài có thể còn sống khi Chúa trở lại (1 Cor 15,51; 1 Th 4,15). Với sự sống lại của Chúa Giêsu, sự sống lại chung đã bắt đầu (1 Cor 15,20): Đã đến rồi! Thánh Phaolô cũng tin rằng các kitô hữu đang sống trong những đau khổ cứu thế của Thời Đại Mới. Sống trong một hoàn cảnh như thế, người tín hữu cần chiến đấu tinh thần, cụ thể là một sự tận hiến ý thức cho Chúa. Kết luận: Đời sống độc thân được ưu tiên

 

b. Hệ luận: Con đường phải sống

Hãy thực hiện một viễn ảnh cách chung đúng đắn trong đời sống tính dục của chính anh.

 

Cuộc chiến đấu để duy trì một viễn ảnh cách chung đúng đắn là ở đàng sau tất cả cuộc tranh luận trong 1 Cor 7,1-40.

 

Yêm hoạn vì Nước Thiên Chúa (Mt 19,12)

 

Chúa Giêsu không nói rằng đây là ơn kêu gọi cao hơn những ơn kêu gọi khác hay là tất cả những ai theo Ngài đều tìm phục vụ trong đường lối này: điều đó trái nghịch sự thúc giục của Chúa trong St 1-2.

 

Chúa Giêsu nói rằng đòi hỏi của Nước Trời vượt cao hơn tất cả những đòi hỏi khác và chỉ một số người được kêu gọi phục vụ trong con đường độc thân, cũngnhư những người khác được kêu gọi phục vụ trong hôn nhân. Bất cứ lời kêu gọi của một người là gì thì ân sủng cũng được ban cho để ơn kêu gọi sẽ được hoàn tất.  

 

c. Vấn đề sự sống lại (Mt 22,23-33)

Hai điều phải nói liên quan đến đoạn văn này:

·        Có sự sống lại của kẻ chết.

·        Đời sống sau khi sống lại chung sẽ khác nhau.

 

 

 

6. ĐỘc thÂn thÁnh hiẾn

trong lỊch sỬ kitÔ giÁo

 

1.      Ý niệm về đời sống độc thân từ ban đầu

 

Hình thức đời sống thánh hiến lâu đời nhất: thánh hiến lòng trinh tiết (hầu hết là phụ nữ) trong các cộng đoàn kitô ở đô thị trong thế kỷ thứ nhất.

 

Các phụ nữ hiểu đời sống họ trong ẩn dụ “kết hôn với Chúa Kitô.” Tiết dục là diễn tả bề ngoài của lòng trung thành hôn nhân.

 

Người nam thấy cuộc đời mìnhg trong hình thức khổ chế. Độc thân thanh khiết là hình thức tự chủ.

 

Trinh tiết của người phụ nữ chiếm ưu thế. Các trinh nữ cùng với các góa phụ có một vị trí công cộng ở trong Giáo Hội, và thực thi một số thừa tác vụ nào đó.

Đề tài thánh hiến hôn nhân với Chúa Kitô đã được phát triển: các trinh nữ để dành cả tinh thần lẫn thân xác cho Chúa.

 

Dù được đặt trong bối cảnh đức tin và tình yêu, sự toàn vẹn thân xác được đề cao theo truyền thống Hy lạp và Rôma. Chúng ta phải đương đầu với ý niệm Hy lạp-Rôma về vị thành niên hay trinh nữ có mối liên hệ đặc biệt với thần thánh.

 

Vào cuối thế kỷ thứ ba, đời sống độc thân đã được coi như một tình trạng tốt hơn hôn nhân. Nó được ca ngợi qua các ẩn dụ: đời sống thiên thần, ‘hôn thê của Chúa Kitô”, đám cưới thần bí, hiến dâng trọn hảo.

 

2. Đời sống thiên thần

 

Đời sống đan viện đôi khi được gọi là sống như thiên thần, bởi vì nhờ lời cầu nguyện liên lĩ, các đan sĩ bắt chước các thiên thần luôn luôn sống trong sự hiện diện của Chúa. Họ cũng bắt chước các thiên thần bằng cách hãm dẹp thân xác, nhất là bằng cách kiềm chế nhục dục (tiết dục).

 

Có những bản văn coi đời sống độc thân như sự báo trước của điều kiện cánh chung, nhưng đa số nhấn mạnh đến khổ chế: chế ngự dục vọng của mình.

 

3. Trở lại Địa Đàng

 

Có vài luận thuyết nói rằng Adam và Evà là đồng trinh khi ở trong Địa đàng và hôn nhân là hậu quả của việc tổ tông sa ngã. Theo St 4, Cain và Abel đã được sinh ra sau câu chuyện về tội.

 

Đức đồng trinh được xem như sự trở lại địa đàng. Nhân tính thực sự như Chúa nhắm đến chỉ ở trong sự đồng trinh, và liên hệ tính dục là một diễn tả của sự suy thoái lịch sử của loài người (Gregory of Nyssa, John Chrysostom và Jerome).

 

Lối hiểu méo mó này về tính dục vẫn kéo dài cho đến ngày nay ảnh hưởng đến cách hiểu về Luân lý công giáo và đời sống thánh hiến.

 

Quả thế, chúng ta đã được kêu gọi đi theo Chúa Giêsu, chứ không phải các thiên thần. Và chúng ta không tìm kiếm địa đàng đã mất, nhưng chúng ta hướng về sự viên mãn của Nước Thiên Chúa trong trời mới đất mới.

 

4. Đời sống độc thân linh mục

 

Luật hiện tại: Các linh mục không được phép cưới vợ. Họ phải sống một mình và hứa độc thân. Đây là qui tắc chung trong Giáo Hội. Việc truyền chức cho những người có vợ bị cấm trong Giáo Hội Latinh; mặc dầu trong mấy thập kỷ gần đây một số Mục sư Tin Lành trở lại Công giáo đã xin được phép thụ phong linh mục và thi hành thừa tác vụ mà vẫn tiếp tục đời sống gia đình của họ. Trong Giáo Hội Đông phương, chỉ các Giám mục phải sống độc thân; nhữg ai muốn làm linh mục phải cưới vợ trước khi nhận lãnh chức Phó tế. Luật này có từ thế kỷ XII.

 

Không có qui tắc nào trong Tân Ước ngăn cản một người có vợ thi hành thừa tác vụ linh mục. Các Thư Mục Vụ đòi hỏi rằng thừa tác viên phượng tự (Giám mục, Linh mục, Phó tế) phải là một “người chồng của một người vợ” và chu toàn tốt các bổn phận của mình đối với vợ và con cái (x. 1Tm 3,2-5,12; Tit 1,6).

 

Trong ba thế kỷ đầu không có luật lệ nào đối với vấn đề này, ngoại trừ các linh mục không được phép cưới vợ lần thứ hai. Giáo Hội phong chức cho các người lớn đã có gia đình cũng như các tu sĩ khổ hạnh.

 

Sự thay đổi đã đến từ thế kỷ thứ tư và thứ năm khi càng ngày càng có nhiều tu sĩ khổ hạnh cưới vợ.

 

5. Những lý do đàng sau việc đó:

 

Với sự chế ngự thân xác, vị linh mục khôi phục lại cho thân xác phẩm giá ban đầu của nó: Sự hoàn thiện nguyên thủy được phục hồi (xem thần học ảnh hưởng lên thực hành thế nào).

 

Sự chế ngự thân xác giúp linh mục sẵn sàng hơn cho thừa tác vụ thiêng liêng của mình.

 

Do ảnh hưởng của Tân thuyết Platon, có một cái gì không trong sạch trong mọi liên hệ tính dục, do đó không thích hợp với những thực tại thánh thiêng và phượng tự mà một linh mục phải đảm trách. Tính không thích hợp này ngày càng được tái khẳng định.

 

Từ chối xác thịt có nghĩa là để cho sự hiện diện của Thánh Thần tăng trưởng.

 

Chế ngự thân xác cho phép một linh mục sẵn sàng hơn cho sứ vụ của mình.

 

Đời sống độc thân của linh mục là nguồn sinh hoa kết quả thiêng liêng.

 

 

 

 

 

6. Cuộc canh tân của Grêgôriô (tk XI và XII)

 

Những ai đang sống đời độc thân phải giữ như vậy: còn những người khác phải cho vợ hay kẻ chung sống ra về (x. Latêranô I năm 1123 và Latêranô II năm 1139).

 

Không có gì mới sau thời kỳ ấy liên quan đến đời sống độc thân. Ngày nay lại có vấn đề nóng bỏng về gương xấu tính dục của các linh mục.

 

Nhưng có một điều phải nói là xét về mặt thần học, đời sống độc thân không phải là điều kiện tất yếu (sine qua non) cho chức linh mục. Chức linh mục và đời sống độc thân là hai cái khác nhau.

 

Tóm lại:

Đời sống độc thân là một lời mời gọi đặc biệt hiện diện ở trong mọi tôn giáo.

 

Đời sống độc thân có mặt trong truyền thống Thánh Kinh và Dothái, dù được nhìn thấy như một ơn gọi đáng sợ và khủng khiếp (Giêrêmia).

 

Chúa Giêsu đi theo lối sống gây sốc này, vì sự tận hiến trọn vẹn của Ngài cho việc rao giảng Nước Thiên Chúa (sẽ đến và đã có mặt).

 

Các nam nữ tu sĩ luôn nhìn thấy sự đồng trinh khiết tịnh là đặc điểm chính yếu ơn gọi của họ.

 

Mặc dù luôn chỉ được nhìn dưới viển ảnh khổ hạnh, lối sống độc thân bắt rễ từ gương Chúa Giêsu, trong sự tiếp nối sứ vụ của Ngài (chiều kích ngôn sứ và cánh chung), trong sự liên hệ sâu xa với Thiên Chúa /Chúa Giêsu (chiều kích thần bí) và được sống trong cộng đoàn những kẻ tin (chiều kích Giáo Hội).

 

Lối sống này được nhìn thấy như một đặc sủng, một quà tặng của Chúa Thánh Thần ban cho một số người để xây dựng Giáo Hội.

 

7. ChÚa GiÊsu vÀ ĐỜI SỐNG ĐỘc thÂn

 

a. Đôi khi bạn nghe rằng Chúa Giêsu có kết hôn. Có thật không?

 

Giả dụ nền đạo đức Dothái tích cực đối với phái tính và hôn nhân vào thời Chúa Giêsu thì sự thinh lặng của Tân Ước liên quan đến một người vợ của Chúa Giêsu có lẽ được giải thích như một phương tiện rằng Chúa Giêsu trong thực tế đã có một người vợ, ít nhất về một phương diện nào đó của cuộc đời Ngài. Đó là quan điểm của William E. Phipps. Tại sao có ý kiến như vậy?

 

Một số người nói “Có”

Người Dothái cho rằng tính dục và hôn nhân là những phúc lành Tạo Hóa tốt lành đã ban cho nhân loại. Đời sống độc thân là lối sống đối với người tu sĩ Dothái bình thường, và cách đặc biệt cho một thầy dạy (rabbi), có lẽ không được nghĩ đến vào thời Chúa Giêsu.

 

Hình ảnh Chúa Giêsu như một người luôn luôn độc thân là sản phẩm về sau của thần học kitô phải chịu đựng một quan điểm méo mó truyền thống về tính dục và hôn nhân.

 

Bạn có chắc về “ý kiến có” này không?

Trước hết, người Dothái nhìn thấy tính dục và hôn nhân như những phúc lành (đúng). Tuy nhiên có một truyền thống Dothái mạnh mẽ ưu tiên cho đời sống độc thân. Trong số này có ba nhóm khổ chế Esseniens, Qumran và Therapeutae (thế kỷ I trước và sau Công nguyên).

 

Có một truyền thống các rabbi coi Moses như là một người độc thân sau khi gặp gỡ Thiên Chúa; Gioan Tẩy Giả rất có thể là người độc thân.

 

Nhìn thấy Giêrêmia, Gioan Tẩy Giả và Moses sau khi gặp Chúa, chúng ta có thể nói rằng: Vị ngôn sứ trực tiếp nhận được mạc khải thần linh tìm thấy cả cuộc sống mình bị thay đổi triệt để vì ơn gọi ngôn sứ của mình. Sự đổi khác và biệt riêng này bởi Lời Chúa và cho Lời Chúa được thể hiện rõ nét đối với nhiều người Dothái trong ơn gọi độc thân hiếm hoi, đáng sợ và khủng khiếp.

 

Tiếp đến, có sự thinh lặng trong Tân Ước về vợ con của Chúa Giêsu (đúng). Nhưng Tân Ước không thinh lặng về Chúa Giêsu và gia đình của Ngài (mẹ và cha Ngài, anh em và chị em của Ngài cũng được nhắc tới). Nhà văn Dothái Kitô Hegesippus thế kỷ thứ hai nói cho chúng ta về Clopas, cậu của Chúa Giêsu và Symeon, một người anh em họ.

 

Kết luận: Như thế sự thinh lặng về vợ con của Chúa Giêsu trong bối cảnh này chỉ có thể được giải thích theo một đường lối duy nhất là không có. Vì trước khi mời gọi ai theo Ngài và đòi hỏi họ phải lìa bỏ vợ con thì Chúa Giêsu phải là người trước tiên và triệt để hy sinh: triệt để độc thân.

 

b. Tại sao Chúa Giêsu chọn đời sống độc thân?

 

Đời sống độc thân của Chúa Giêsu là một dụ ngôn trong hành động, là một hiện thân của một sứ điệp cao cả kích thích người ta suy nghĩ về Chúa Giêsu và về chính họ. Chúa Giêsu có ý qui tụ lại một Israel mà tội lỗi đã phân mảnh. Ngài có ý chuẩn bị họ sám hối chờ cuộc trở lại cuối cùng của Nước Thiên Chúa.

 

Ý thức của Chúa Giêsu về một lời mời gọi ngôn sứ duy nhất thúc đẩy Ngài hiến dâng trọn vẹn cho sứ vụ này cho Israel vào cuối thời, thời khắc sinh tử của lịch sử có thể giải thích đời sống độc thân của Ngài, ít ra một phần.

 

Mt 19,12 là một lời tuyên bố rất đụng chạm và rất kích thích. Danh từ “yêm hoạn” và động từ “thiến” chỉ xảy ra trong Phúc Âm của Thánh Matthêu. Danh từ này chỉ xảy ra một lần nữa ở trong Cvtđ 8,27-39 (câu chuyện về viên thái giám Ethiopian. Động từ xảy ra ở đây trong Tân Ước.

 

Không có chỉ dẫn nào là Chúa Giêsu đã đòi hỏi những ai muốn gia nhập nhóm môn đệ của Ngài phải giữ đời sống độc thân.

["Chính vì thế, sau nhiều lần xem xét kỹ lưỡng tất cả các tình huống, Đức Thánh Cha Benedict XVI quyết định miễn chuẩn Giám mục Fernando Lugo khỏi tình trạng giáo sĩ, và kết quả tất yếu là các quyền vốn có của một giáo sĩ tự nó không còn, bên cạnh đó cũng miễn trừ Giám mục Fernando Lugo khỏi những lời khấn đã khấn hứa khi trở thành giáo sĩ của Dòng Ngôi Lời (Society of the Divine Word, SVD) và, miễn trừ Giám mục Fernando Lugo khỏi tình trạng độc thân giáo sĩ (cf. CIC can. 291) cũng như các thừa tác vụ mà tình trạng giáo sĩ đòi buộc (cf CIC can. 292)."]

 

8. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA THANH KHIẾT

 

a. Đời sống độc thân thánh hiến như đặc sủng

Đời sống độc thân thánh hiến là một đặc sủng của Chúa Thánh Thần, tác động lên tự do của chúng ta và thúc đẩy chúng ta yêu thương “với tất cả con tim của chúng ta,” được trao ban cho một số ít người, được lãnh nhận trong tự do và được sống trong niềm vui. Đời sống độc thân thánh hiến được đặt để phục vụ Nước Trời. Nó là dấu hiệu của sự tận hiến và yêu thương vô điều kiện đối với Chúa. Nó được sống trong viễn ảnh Chúa đến lần thứ hai (Parousia)

 

b. Chiều kích truyền giáo của đức khiết tịnh

Phục vụ sự sống. Đời sống độc thân thánh hiến tuyên xưng rằng Thiên Chúa ở bên cạnh những người cô đơn và bị bỏ quên. Nó kêu gọi đánh mất mạng sống mình cho tha nhân mà không kể cái giá phải trả (Giêrêmia và Chúa Giêsu, Oscar Romero, Martin Luther King, các nhà truyền giáo). Nó được mật thiết kết nối với tử đạo.

 

c. Chiều kích cộng đoàn của đức khiết tịnh

Các người sống đời độc thân khiết tịnh làm nên cộng đoàn của “chỉ một con tim”. Đời sống độc thân thánh hiến kêu gọi một mối liên hệ sâu xa giữa anh chị em: mối liên hệ bằng hữu. Nó giúp chúng ta nhận ra rằng chúng ta đều là con cái của cùng một Cha, rằng chúng ta đều là anh chị em trong Chúa Kitô, và được ban quyền đó cũng bởi một Chúa Thánh Thần. Do đó, chúng ta được mời gọi thiết lập một cộng đoàn bằng hữu, vượt thắng các ràng buộc xác thịt, máu huyết và lướt thắng tình ái nhục dục.

 

d. Chiều kích thần bí của đức khiết tịnh

Đức khiết tịnh biểu lộ tình yêu của chúng ta cho Chúa, vẻ đẹp vĩnh cửu, trong mọi sự và trên mọi sự, biết rằng mọi thứ tình yêu tìm được trong Ngài nguồn gốc và sự viên mãn, và nếu không có Ngài thì chẳng có bền vững được. Đời sống độc thân thánh hiến của tu sĩ tìm kiếm những sự của Thiên Chúa, diễn tả sự say mê tìm kiếm vẻ đẹp của Thiên Chúa và liên hệ thân tình với Chúa Giêsu. Cái thực sự đã ngăn cản Chúa Giêsu kết hôn là Nước Thiên Chúa, lý do duy nhất của sự hiện hữu, sự sống và cái chết của Ngài. Chúng ta cũng có thể nói như thế về mỗi nam nữ tu sĩ.

 

 

e. Chiều kích chứng tá tiên tri của đức khiết tịnh

Chúng ta trở nên những “hình tượng sống động” của Chúa Giêsu, vươn tới với mọi người, đặc biệt là những ai không được yêu thương, và của Giáo Hội, hiền thê của Ngài, mà tình yêu và lòng trung thành sẽ lên đến cực điểm trong thời sau hết.

 

f. Chiều kích sinh học của đức khiết tịnh

Một tình yêu vươn tới mọi tạo vật thế giới, đi vào hiệp thông với chúng, bảo vệ sự sống của thiên nhiên, khước từ mọi thái độ bạo lực và lôi cuốn. Thiên nhiên giống như thân xác chúng ta. Thiên nhiên không phải là một cái gì ở bên ngoài chúng ta; chúng ta cũng là một phần của thiên nhiên. Đời sống độc thân thánh hiến/khiết tịnh mang lại một mối liên hệ với thiên nhiên: cảm thông, trân trọng, tôn kính.

Tác giả Lm. Trần Minh Huy, pss

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!