Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
  Tủ Sách - Chủ Đề
  Suy Tư - Chiêm Niệm
  Văn Hóa - Xã Hội
  Y Tế - Giáo Dục
Mục Lục

Chương 1: Mấy dặm sơn khê

Chương 2: Hải đảo Phú Quốc

Chương 3: Đà nẵng - Hội an

Chương 4: Thừa Thiên - Huế

Chương 5: Hà nội

Chương 6: Hạ Long

Chương 7: Thành phố Sapa

Chương 8: Lên miền Cao nguyên

Chương 9: Đáo Trường Thành

Chương 10: Bắc Kinh

Chương 11: Thượng Hải & Hàng Châu

Chương 12: Nhà Truyền Thống/ Văn Hóa & Đức Tin

Chương 13: Tu hội truyền giáo Vinh Sơn

Chương 14: Đan Viện Biển Đức Thiên Phước

Chương 15: Trẻ em khuyết tật

Chương 16: Những bào thai bị giết

Chương 17: Trung Tâm Trọng Điểm

Chương 18: Nhóm Tiếng Vọng

Chương 19: Khóa Tĩnh Huấn Vũng Tàu

Chương 20: Thánh lễ cầu cho bệnh nhân HIV/AIDS

Chương 21: Những thách đố đối với giáo hội Công giáo VN

Chương 22: Hiến Sinh Lâm Võ Hoàng

Chương 23: Linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích (1891-1978)

Chương 24: Cụ Văn Đình Tôn Thất Bản (1890-1973)

Chương 25: Lm. Thiên Phong Bửu Dưỡng (1907-1987)

Chương 26: Lm. Bửu Đồng (1912-1968) & Bửu Hiệp (1914-1988)

Chương 27: Bà Maria Tôn Nữ Ngọc Hoè (1897-1954)

Chương 28: Giáo sư Bùi Xuân Bào (1916-1991)

Chương 29: Giáo Sư Phan Huy Đức (1913 - +…)

Chương 30: Giáo Sư Nguyễn Khắc Dương (1925…)

Chương 31: Cựu Hoàng Bảo Đại (1913-1997)

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Những Nẻo Đường Việt Nam
Tác giả: Nhà Văn Hương Vĩnh
CHƯƠNG 23: LINH MỤC GIUSE MARIA NGUYỄN VĂN THÍCH (1891-1978)

Trước đây, linh mục Nguyễn Văn Thích thường đạp chiếc xe đạp cổ lỗ sỉ của thời xa xưa – được gọi là “con ngựa sắt” – qua các phố phường ở cố đô Huế. Thật đúng là con ngựa sắt, vì loại xe đạp đó làm bằng sắt rất nặng, để lộ màu “đen sì”, nhưng rất chắc và không phải sơn lại bao giờ. Trái lại xe đạp mới sau nầy thì bằng nhôm, nhẹ hơn, nhưng mỏng dòn hơn và một hai năm phải sơn lại.

Thuở nhỏ, tôi có gặp cha Thích một vài lần, với một số bạn bè cũng còn nhỏ tuổi như tôi. Vào thời đó, chúng tôi không biết thưa hỏi điều gì, chỉ biết “dựa cột mà nghe” và nhiều khi không thấu hiểu ý nghĩa những gì ngài nói. Trông ngài có vẻ nghiêm nghị, ít nói, chẳng khác nào một cụ đồ nho. Nhìn dáng dấp bề ngoài, cha Thích mặc áo dòng chùng thâm, còn các cụ đồ nho mặc áo dài đen, mang quần dài trắng và đội khăn đóng.

Trong tập sách nhỏ “Từ Ánh Sáng Mặt Trời Tình Yêu” (tập II), nữ tu Mai Thành, Dòng Đức Bà, đã tóm tắt cuộc đời của Linh Mục Sảng Đình Nguyễn văn Thích (1891-1978) như sau: Các môn sinh của linh mục Giáo sư Nguyễn văn Thích đã kính cẩn gọi người Cha và người Thầy kiệt xuất của mình bằng danh hiệu “Hiền nhân của thời đại”. Đó là một danh hiệu mà tất cả môn sinh của ngài ở Việt Nam cũng như trên khắp thế giới – hàng trăm nghìn người – đều biểu đồng tình.

Tôi xin toát lược cuộc đời của LM Nguyễn Văn Thích được nữ tu Mai Thành sưu tập như dưới đây.

TIẾT MỘT
CẬU ẤM NGUYỄN VĂN THÍCH
Hai cụ thân sinh
Cậu ấm Nguyễn Văn Thích chào đời ngày 22/9/1891, là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn văn Mại, người làng Niêm Phò cũng là làng Kẻ Lừ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Cụ Nguyễn văn Mại đỗ thủ khoa thi Hương, rồi Phó Bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri Phủ An Nhơn (Bình Định), làm quan đến chức Thượng Thư. Cụ Thượng Mại đã từng làm Chánh chủ khảo các khóa thi Hương, thi Hội và Quản giáo môn Hán tự tại trường Quốc học. Cụ đã tháp tùng vua Khải Định qua Pháp với tư cách là một danh sĩ của Triều đình. Trước khi về hưu, Cụ được thăng tước Hiệp Tá Đại học sĩ.
Cụ bà là Thân Thị Vỹ (1862- 1946), họ Thân Trọng, ở làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên, một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như Cụ Thân Trọng Huề, Thượng Thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.
Trường Dòng Pellerin
Từ 4 tuổi, cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán rồi lớn lên vác lều chõng thi Hương, đến trường ba thì hỏng (chuẩn bị bằng Cử nhân). Thời gian nầy, cậu Thích cũng học chữ quốc ngữ và chữ Pháp rồi vào học trường Pellerin gọi là «Trường Dòng», ở Huế, do các Sư Huynh Lasan (Saint Jean Baptiste de La Salle) điều khiển và giảng dạy.
Trường nầy được thành lập năm 1904 và cậu học sinh Nguyễn văn Thích thuộc thế hệ đầu tiên được các Sư Huynh truyền dạy kiến thức cả đời lẫn đạo. Nơi đây cậu ấm được học hỏi, trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về Giáo lý Kitô giáo. Không chỉ những lời giảng dạy mà còn gương sống hy sinh tận tụy của các “Thầy Dòng” đã giúp cậu học sinh con nhà Nho thấy được phần hòa âm tuyệt diệu giữa Nho giáo và ánh sáng Tin Mừng.
Nho Giáo và Kitô Giáo
Sau nầy, khi Thân Phụ là Cụ Thượng Mại chống đối mạnh mẽ Đạo Công giáo thì cậu ấm Thích trình bày cho Thân Phụ rằng chữ TRỜI là THIÊN của Khổng giáo cũng là THIÊN CHÚA của Đạo Công giáo. Sau khi trưng dẫn 30 câu trong các sách Nho về chữ THIÊN, thầy Nguyễn Văn Thích giải bày: chữ Thiên đây không phải là bầu trời với trăng sao vằng vặc hay mặt trời chói lọi mà là một Ngôi Vị thiêng liêng, là Đấng Tạo Hóa Tối Cao và Toàn Năng Toàn Ái.
Ngài là Thượng Đế sáng tạo vũ trụ, Đấng chí Mỹ, chí Thiện, chí Ái. Quan trọng hơn nữa là Ngài sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài. Phải chăng Nho giáo cũng đã linh cảm điều đó khi khẳng định: “nhân chi sơ tánh bổn thiện”, con người phải hướng về Đấng Thiện Hảo, phải sống cho hợp với Thiên Đạo, với Thiên Mệnh và Thiên Lý… Đạo Nhân của Nho giáo không xa đạo Ái của Tin Mừng với tình yêu không ranh giới: Tứ hải giai huynh đệ.
Trong thời gian học tại Pellerin, cậu học sinh Nguyễn Văn Thích lại có những liên hệ ngày càng mật thiết với linh mục Tuyên Úy Léculier hay Cố Lựu, nên đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa làm Người được thấu hiểu ngày càng thấm đậm trong tâm thức và trí tuệ của chàng thư sinh khao khát Chân, Thiện, Mỹ.
Thờ cúng tổ tiên
Nhưng từ lòng Tin vào Đấng Tối Thiện đến thể hiện niềm Tin ấy đối với người con một gia đình thâm nho như gia đình cụ Thượng Mại là Thượng Thư Bộ Lễ, không phải là chuyện đơn giản tí nào.
Thời đó Giáo hội Công giáo không chấp nhận việc thờ cúng tổ tiên, ngăn cấm người Công giáo thi hành nghi lễ nầy. Trong khi đó đối với truyền thống đạo đức Việt Nam, chữ HIẾU, với lòng thảo kính Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ là thiêng liêng, là nền tảng của đạo làm người. Do đó, Thầy Thích vô cùng khắc khoải vì trở nên Công giáo sẽ bị xem là bất hiếu, nhất là trong một gia đình nổi tiếng, vị vọng của đất Thần Kinh. Ông Bà Nguyễn văn Mại khi biết con mình muốn theo đạo Công giáo thì quyết liệt ngăn cản.

TIẾT HAI
MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI QUYẾT LIỆT
Nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội
Sau 3 năm suy tư, trăn trở và cầu nguyện, cậu ấm Thích chờ thời điểm thuận lợi. Với bằng Cao Đẳng Tiểu Học và một năm Sư Phạm, Thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hòa tháng 2/1911.
Bốn tháng sau, ánh sáng Đức Tin tỏ rạng trong tâm hồn, thúc giục thầy quyết định nhận bí tích Rửa Tội để trở nên con cái Thiên Chúa. Linh mục Charles Eugène Saulcoy, tên Việt là Cố Ngoan, ngày 29 tháng 6, tại Nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, Thành phố Nha Trang, đã ban phép Thánh Tẩy cho thầy giáo Thích với tên thánh là Giuse Maria. Cụ Nguyễn Sen là ông Nội của Linh mục Nguyễn Hữu Phú, Dòng Chúa Cứu Thế, làm Cha đỡ đầu.
Đây là một bước ngoặt đổi đời quyết liệt như vị tân tòng Giuse Maria Nguyễn Văn Thích đã ghi lại trong bài thơ sau đây:
Bỉ cực rồi thì đến thái lai,
Nỗi mừng nửa khóc nửa vui cười.
Muôn vàn cảm đội công ơn Chúa,
Bao xiết cao rao phước phận tôi.
Mấy độ gian nan còn để dạ,
Ba năm cầu nguyện đã như lời.
Thôi thôi đừng bạn cùng ta nữa,
Ôi sự công danh phú quý ôi!
Được tin sét đánh nầy, cụ Thượng không cầm nổi tức giận, dùng roi gậy đánh nhừ tử «đứa con bất hiếu», như bà em Thiếu Hải thuật lại mấy chục năm về sau, ngày mừng lễ thất tuần «Anh Thích»:
Trong nhà dùi, gậy, ba toong,
Rút ra đánh hết, chẳng còn cái mô!
Chị em, ai nấy sững sờ,
Lính tráng, vú bõ, không ai rờ đến cơm…
Thụ phong linh mục
Khi cơn “gia biến” dịu dần với thời gian, Cụ Thượng thân phụ nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà, xin Đức Cha can thiệp làm mai mối với con gái Cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên số phận, không còn gây thêm tai biến nữa. Nào ngờ đâu, khi được “hung tín” nầy, môn đệ của Chúa Giêsu lấy quyết định từ giã gia đình qúy tộc…
Một đêm thanh vắng, thầy Giuse Maria Nguyễn Văn Thích hoá trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi, sáng sớm tháng 9/1917, trực chỉ đến Tiểu Chủng Viện An Ninh tại Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Một trường hợp chưa từng có: muốn được nhận vào Tiểu chủng viện thường là 12 đến 14 tuổi, nhưng thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây?
May mắn là Đức Cha Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo nầy, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Giáo sư chủng viện lúc đó có linh mục Henri Denis còn gọi là Cố Thuận – vị linh mục thành lập Đan Viện Xitô Phước Sơn sau nầy – gửi thư về Pháp cho Mẹ để kể lại sự kiện nầy như sau:
Kính thăm Mẹ yêu quý,
Học trò con đã tề tựu rồi. Năm nay có một chủng sinh xuất sắc. Thường thì học sinh mới vào còn nhỏ tuổi, nhưng người nầy đã trên 26 tuổi. Đó là một giáo sư Pháp văn trường Trung học Nhà Nước, đã xin từ chức để nhập chủng viện. Luật chung không cho phép nhận như thế vì vừa lớn tuổi vừa theo đạo mới được 6 năm. Nhưng Đức Giám Mục đã thi hành một biệt lệ.
Sau 2 năm tu tập vừa làm trò vừa làm thầy nơi đây, thầy giáo «tiểu chủng sinh» được gửi vào Đại Chủng Viện Phú Xuân, Huế, và 6 năm sau được thụ phong linh mục ngày 18/12/1926.

TIẾT BA
THEO ANH, EM CŨNG ĐI TU
Pháp danh “Như Ngộ”
Ảnh hưởng của Linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích trên gia đình ngấm ngầm chiếu tỏa. Em gái của cha, pháp danh Như Ngộ, học chữ Hán lúc 6 tuổi, 9 tuổi học chữ Pháp, chữ Quốc ngữ, rồi làm trợ giáo ở Khánh Hòa cùng một trường với anh. Nhờ sự gần gũi và cảm phục gương sống của anh, cô được hiểu biết và mến Đạo Thiên Chúa.
Sau khi Cha Thích đi tu, cô rời Khánh Hoà, ra dạy ở Hà Tĩnh rồi về gia đình nghỉ hè. Tiếng gọi thiêng liêng thúc bách, một hôm vào 11 giờ trưa, cô từ giã gia đình ra đi, chỉ mang theo một bộ áo quần, để lại một bức thư với tất cả nữ trang… Thật là đau đớn cho cha mẹ khi biết con gái trưởng thành đã dứt khoát ra đi vào Dòng Cát Minh (Carmel) Kim Long, Huế.
Tên Dòng “Marie de l’Eucharistie”
Mẹ Bề Trên Aimée de Marie, thừa sai Cát-Minh người Pháp, đã đón nhận ứng sinh từ nay mang tên là Agnès Nguyễn thị Ngọc. Cụ Bà Nguyễn văn Mại đến Nhà kín chửi mắng, bắt cô trở về gia đình. Cụ Ông cũng đến lôi con gái về, nhưng cô tu sinh khóc to và nằm trì xuống đất, hai cụ thân sinh đều phải thối lui.
Ngày 29/9/1921, nữ tu Agnès Ngọc được mặc áo Dòng với tên Marie de l'Eucharistie. Nhà Dòng mời gia đình cụ Thượng Mại, thầy Thích, các em, các cháu, gia đình cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài, các quan, linh mục, giáo dân đến tham dự. Nghi lễ tiến hành rất trọng thể, uy nghi, khiến cụ Ông và cụ Bà Nguyễn Văn Mại rất xúc động và mến phục chí khí của hai người con dũng cảm, đạo hạnh. Từ đó Hai Cụ có cảm tình với đạo Công giáo.
Mối xúc động của người anh Nguyễn Văn Thích trong dịp nầy, đã được diễn tả trong hai bài thơ dưới đây:
I
Cởi lốt trần gian vào Dòng Kín,
Từ nay sự thế thế là xong,
Lìa nhà chi quản muôn hàng lụy,
Thờ Chúa xin dâng trọn tấc lòng.
Nhẹ gót bước vào nơi tịch mạc,
Vui tình chôn lấp cái hình dong,
Bây giờ ngoảnh lại xem trần thế,
Một bước mà xa mấy vạn trùng.
II
Bên lầu rang rảng tiếng chuông vang,
Trên gối đêm xuân giấc mới tan.
Bảng lảng mắt còn nhìn cõi tịnh,
Bơ vơ lòng những nghĩ thiên đàng.
Quen mùi đạo đức quên mùi tục,
Thoát chữ công danh đặng chữ nhàn.
Mới biết một ngày trong phúc Kín,
Hơn trăm nghìn kiếp phúc trần gian.
(Phú Xuân chủng viện, 29/9/1921)

TIẾT BỐN
SỰ NGHIỆP CỦA LINH MỤC NGUYỄN VĂN THÍCH
Một nhà giáo xuất chúng
Linh mục Nguyễn Văn Thích là một nhà giáo từ tuổi đôi mươi đến ngoài 80. Ngài đã dạy tiểu học ở Khánh Hòa, rồi Huế (1911-1917), Dòng Thánh Tâm Huế (1927-1933), trường Providence Huế (1933-1937), Tiểu Chủng Viện An Ninh Quảng Trị (1937-1942), Trung Học Khải Định (1942-1946), Quốc Học và các trường tư thục Công Giáo Huế (1950-1958).
Từ 1958, cha dạy Đại Học Dalat, Huế, Saigon. Từ năm 1959, cha dạy Hán văn và Triết Đông tại Viện Hán Học Huế. Năm 1963, cha mở một nhà trẻ ở Việt Nam (có lẽ là nhà trẻ đầu tiên ở đây), với tên gọi là Hương Linh, trong khuôn viên trường Bình Linh (Pellerin). Ngoài ra, cha cũng rất quan tâm đến việc giáo dục thanh thiếu nữ.
Một nhà thơ, một nhà báo lỗi lạc
Linh mục Nguyễn Văn Thích đã sáng tác thi ca, được sưu tập trong “Sảng Đình Thi tập”, gồm 153 bài thơ Việt văn, Hán văn và Pháp văn. Thơ của cha rất đa dạng, từ những câu vè 4 chữ, những câu thơ lục bát, tứ tuyệt và thơ Đường, đến những bài Thánh ca, Thánh thi ca tụng Đức Mẹ.
Cha còn là sáng lập viên tuần báo “Vì Chúa”, xuất bản từ 1936, với tam ngữ Việt-Hán-Pháp, được nhiều cộng tác viên như cụ Ưng Trình, cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn…Ngoài ra, cha còn cộng tác với báo “Nguồn Sống”, tạp chí Đại Học Huế hay “Cổ Học Quí San”…
Họa sĩ và nhạc sĩ thời danh
Cha Thích có biệt tài về cổ họa. Một vài bức họa trong báo Vì Chúa, được in lại trong Sảng Đình Thi Tập, như bức “Thác Lớn Bạch Mã” rất tinh vi điêu luyện, bức tự họa “Trầm ngâm chiếc bóng dựa bên tường”, các bức “Đức Từ Mẫu”, “Chân dung Thánh Gioan Vianê”, “Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu”.
Về âm nhạc, cha Thích sử dụng thành thạo các nhạc khí dân tộc như đàn nhị, đàn cò, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tì bà…kể cả các nhạc cụ Tây phương.
Về Thánh ca, bài “Magnificat” Việt ngữ hiện vẫn còn được hát trong các giờ kinh phụng vụ.
Linh mục tuyên úy hướng đạo sinh
Từ 1941, cha Thích sinh hoạt với một trung đoàn ở Huế và năm 1949, giáo quyền địa phận Huế bổ nhiệm ngài làm Tuyên Úy Hướng Đạo Công Giáo Huế. Vào giữa năm 1953, ngài đại diện giáo quyền làm Tổng Tuyên Úy Toàn Quốc. Ngài đã đóng vai trò tích cực và uyển chuyển giữa nhiều khuynh hướng khác nhau của các Huynh Trưởng và Tuyên Úy 3 miền Trung, Nam, Bắc.
Một tâm hồn nghèo khó và yêu thương
Cha Thích làm giáo sư lâu năm, dạy đại học nhiều nơi, với lương bổng rất cao, nhưng ngài không giữ lại chút gì cho mình. Khi nhắm mắt lìa đời, ngài chỉ còn vài bộ áo đã sờn cũ.
Viện Dục Anh nuôi trẻ mồ côi ở Huế luôn được cha quan tâm và trao nhiều tiền bạc cho các nữ tu phụ trách. Cha còn là Tuyên Úy Pellerin và Viện Bài Lao. Cha thường đến bệnh viện dâng Thánh Lễ, luôn đem tiền và quà đến cho bệnh nhân.
Cho tiền người ăn trộm chuối
Bao nhiêu năm làm giáo sư, cha vẫn đi một chiếc xe đạp duy nhất. Một hôm, cha đạp xe đạp đến dạy học tại Chủng Viện Kim Long, tình cờ bắt gặp một người đàn ông áo quần xơ xác đang chặt trộm buồng chuối của Chủng Viện.
Thấy cha, ông ấy hoảng hốt toan bỏ chạy. Cha ôn tồn gọi người đó lại, móc túi đưa thêm ít tiền rồi nói: “Bác có muốn ăn chuối non nầy thì phải thêm cái gì để nấu ăn chứ. Bác cầm lấy chút tiền nầy mua tôm tép gì thêm cho dễ ăn”. Vừa nói, cha vừa đưa tiền rồi đi vào dạy học.
Còn má nầy nữa, xin ngài hãy đánh…
Một chuyện xảy ra làm rung động thành phố Huế. Năm 1950, một bác sĩ tổ chức hội chợ từ thiện, với sự cộng tác của cha Thích. Giữa mấy gian hàng bày trò chơi lại có một sòng bạc thu hút nhiều khách. Cha Thích phản đối: “Cờ bạc không thể đi đôi với việc từ thiện”.
Trưởng ban tổ chức không chịu nghe, cha Thích liền lấy micro khuyến cáo dẹp sòng bạc đó. Bác sĩ tổ chức giật micro trong tay cha. Trong lúc giằng co, bác sĩ tát vào má cha. Hồn nhiên và khiêm tốn, cha liền đưa má kia và nói: “Còn má nầy nữa, xin ngài hãy đánh cho đỡ giận”. Mọi người vây quanh đều sửng sốt ngỡ ngàng. Có người đã thốt lên: “Phải là một đấng thánh mới làm được như vậy!”
Tất cả vì Chúa
“Vì Chúa” không phải chỉ là tên tuần báo nổi danh ở cố đô Huế mà chính là châm ngôn cuộc sống của cha, với tôn chỉ:
Suy tư vì Chúa,
Ngôn luận vì Chúa,
Hành động vì Chúa.
Vì Chúa, ta gắng công,
Ta thẳng lên vì Chúa!
(Số 1, ngày 18/9/1936)
Đấng Mỹ Nhân của lòng tôi
Trong bài “Một buổi sáng sớm” đăng trong “Vì Chúa” số 5, 1936, cha Thích tự thuật về chính mình là chàng thanh niên mỗi sáng sớm ôm sách, xách nón đi bộ đến nhà thờ Gia Hội tham dự Thánh Lễ và rước Thánh Thể.
Đến văn phòng làm việc, thấy anh vui tươi, người bạn hỏi anh đã gặp mỹ nhân nào mà vui thế? Anh mỉm cười không trả lời, nhưng thầm nói: “Phải, tôi đã tìm được một Đấng Mỹ Nhân. Đấng lòng tôi yêu mến mà không có một thế lực nào trên trời hay dưới đất có thể phân ly. Sớm nay, tôi đã rước Đấng Mỹ Nhân ấy vào lòng tôi”.

TIẾT NĂM
VĨNH BIỆT HIỀN NHÂN NGUYỄN VĂN THÍCH
Ra đi êm ái
Ngày 10/12/1978, linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, hội ngộ cùng Đấng Mỹ Nhân Chân-Thiện-Mỹ mà cha đã hiến thân phục vụ đến trọn đời, trọn tình và trọn nghĩa, với tầm vóc cao siêu hiếm có… Phút lâm chung, cha còn vui vẻ hát ca. Chắc hẳn là những ngày, những giây phút chuẩn bị cuộc ra đi, cha đã ngắm nhìn bức tranh Đức Mẹ Maria mà chính tay cha đã kính cẩn họa ra với lời ca chính cha sáng tác:
Bao giờ tôi được lên trời,
Ở cùng Đức Mẹ thì tôi phỉ nguyền.
Giáo Hội Việt Nam và đất nước Việt Nam đã dâng lên Thiên Chúa một người con chí hiếu, một linh mục gương mẫu, một nhân tài sáng giá, một hiền nhân hiếm có. Phải chăng linh mục Nguyễn Văn Thích là tổng hợp của tinh hoa văn hóa Nho Giáo hòa quyện với Hồng Ân dạt dào của Thiên Chúa Tình Yêu.
Những điều tôi yêu
Trong những thi ca của linh mục Nguyễn văn Thích, bài thơ “Những điều tôi yêu”, trích dịch từ bài “Ce que j’aimais” của nữ Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thật tuyệt vời, để lại những nét đẹp dễ thương trong tâm hồn độc giả. Bài nầy trích từ thi phẩm “Sảng Đình Thi Tập”.

Tôi yêu đồng lúa chín vàng,
Tôi yêu núi tía, nẻo đàng xa xa.
Chị em đua chạy hái hoa,
Khí trong đầy ngực, gió hòa đưa chân.
Tôi yêu cúc trắng ủ sương,
Chiều hôm Chúa nhật, dọc đường dạo chơi.
Trên ngành chim hót thảnh tơi,
Bóng trời sáng quắc, nền trời thẩm xanh.
Tôi yêu đi bẻ chủi rành,
Trên rêu chơn chạy lanh chanh nhẹ nhàng.
Đuổi theo con bướm bướm vàng,
Liệng bay xấp xới trên làn cỏ xanh.
Tôi yêu giọt nước long lanh,
Hột châu ban sáng, trên ngành mân khôi.
Trên hoa dưới yến mặt trời,
Ong trinh làm mật, bồi hồi ngày xuân.
Tôi yêu từ chốn Thánh đàng,
Chuông vàng rải tiếng như gần như xa.
Tôi yêu hơi gió thoảng qua,
Chiều chiều ngồi ngắm bóng tà bên non.
Tôi yêu lửa đốm hoàng hôn,
Tôi yêu sao nháy muôn chòm trên không.
Canh vắng vẻ, cảnh mơ mồng,
Tôi yêu trăng bạc, bóng lồng đêm thanh.
Tôi yêu con én liệng vành,
Tôi yêu cưu gáy bên gành dễ thương.
Tôi yêu tiếng dế đêm trường,
Tiếng lằng vỗ cánh, canh sương vừa tàn.
Tôi yêu tiếng suối vỉ van,
Tôi yêu tiếng sét nổ vang giữa lừng.
Tôi yêu thanh vắng đêm trăng,
Họa mi thánh thót, khoảng rừng thanh u.
Tôi yêu đứng ở chốn cao,
Nắng chiều giải ánh giọi vào mặt ta.
Nâng niu mái tóc cha già,
Lòng con nao nức mặn mà cái hôn.
Tôi yêu mắt mẹ ôn tồn,
Miệng cười như nói cùng con mấy lời:
“Mẹ mong ước phước đời đời,
Mẹ mong thấy Chúa cõi trời xanh xanh.”

Tác giả Nhà Văn Hương Vĩnh

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!