Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Lm. Trần Minh Huy, pss
Bài Viết Của
Lm. Trần Minh Huy, pss
TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN TOÀN DIỆN & CÁC MỐI HIỆP THÔNG TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC HÔM NAY
BÀI GIẢNG LỄ KÉO NGƯỜI TA LẠI GẦN HAY ĐẨY NGƯỜI TA RA XA CHÚA VÀ GIÁO HỘI?
LỄ TẠ ƠN CỦA TÂN LINH MỤC MARTINÔ HỒ ĐÌNH HẢI - Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu - Ngày 8/6/2018 tại Gx. Hương Lâm
LỄ KIM KHÁNH KHẤN DÒNG NỮ TU AGATA VÕ THỊ TRÚC Tại Tu Viện Phủ Cam sáng 16/6/2018
Thuyết Trình: YÊU NHAU, MÃI CÒN YÊU và THÊM YÊU
ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN KHIẾT TỊNH TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI HÔM NAY
CÁC BẠO VƯƠNG HERODE THỜI ĐẠI MỚI (LỄ CÁC THÁNH ANH HÀI, BỔN MẠNG CÁC CHÁU SƠN CA Ngày 28/12/2017)
HÃY CỨU LẤY VÀ BẢO VỆ GIA ĐÌNH CÙNG TRẺ THƠ
CHÚA GIÊSU ĐÃ THỰC SỰ SINH RA CHO CHÚNG TA CHƯA?
HÔN NHÂN VÀ SỰ SỐNG (Giới Trẻ Thanh Đức 20/9/2017)
 Hiệp Thông Trong Đời Sống và Sứ Vụ Linh Mục
VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG HUYNH ĐỆ ĐỂ SỐNG HIỆP THÔNG LINH MỤC
GIẢNG LỄ TẠ ƠN 45 NĂM LINH MỤC
LỄ KIM KHÁNH HÔN PHỐI
GIẢNG LỄ THANH SINH CÔNG TẠI LAVANG (Ngày 21/6/2017)
TÌNH CẢM VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA LINH MỤC NGÀY NAY - Thường Huấn Linh Mục Xuân Lộc 2-3/5/2017
BAN HUẤN LUYỆN ĐAMINH TAM HIỆP - Thường Huấn 4-7/5/2017
ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN - XÂY DỰNG NHÂN CÁCH TU SĨ
QUAN NIỆM ĐÚNG ĐẮN TRONG QUAN HỆ NAM NỮ
Xây dựng Cộng Đoàn Cầu Nguyện và Yêu Thương
NHÀ ĐÀO TẠO TÂM HUYẾT HÔM NAY
ĐÀO TẠO NGƯỜI ĐÀO TẠO - NHÂN BẢN KITÔ GIÁO và ĐỜI TU
MỤC VỤ LINH HƯỚNG - Phân Định và Sống Ơn Gọi
TRỞ NÊN LINH MỤC ĐÍCH THỰC NHƯ LÒNG MONG ƯỚC.
TÌNH CẢM VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC NGÀY NAY
Đào Tạo Trưởng Thành Nhân Bản Kitô Giáo và Đời Tu
BÍ TÍCH GIẢI TỘI, PHƯƠNG THẾ TỐI ƯU ĐỂ SỐNG NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT
CẦU NGUYỆN CÁ NHÂN BÍ QUYẾT TÌNH YÊU VÀ VUI SỐNG
LINH MỤC SỐNG VÀ THỰC THI MỤC VỤ LÒNG THƯƠNG XÓT
Linh Mục Sống và Thực Thi Năm Thánh Lòng Thương Xót - Linh Mục Đoàn Ban Mê Thuột Thường Huấn 29/2 - 4/3/2016
GIỚI TRẺ HƯƠNG PHÚ SỐNG VÀ THỰC THI NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT - Lại Ân, ngày 4 Tết Bính Thân
XIN LỖI VÀ THA THỨ
NGHI THỨC SÁM HỐI CỘNG ĐỒNG (Sinh Viên Di Dân Thánh Tâm Tĩnh Tâm Mùa Vọng)
Đối mặt với các thách thức trong đời sống và sứ vụ Linh Mục của chúng ta hôm nay
SỐNG TRIỆT ĐỂ NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN (Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan - Tĩnh Tâm Năm 5-15/8/2015)
ĐTC MONG ĐỢI GÌ NƠI CHÚNG TA TRONG NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN ?
CẬP NHẬT MỘT CẢNH BÁO NGHIÊM TRỌNG: LẠM DỤNG TÌNH DỤC VÀ CÁC GIẢI PHÁP
SỐNG TỐT ƠN GỌI LINH MỤC TRONG BỐI CẢNH TÂN PHÚC ÂM HÓA (Tĩnh Tâm Năm ĐCV. Vinh Thanh - Ngày 1-6/3/2015)
KÍNH NHỚ TỔ TIÊN ÔNG BÀ CHA MẸ
TOÀN THỂ DÂN CHÚA TÍCH CỰC SỐNG NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Bài 2
VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG VÀ TÁI ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC

 

 TĨNH TÂM THỤ PHONG LINH MỤC

Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12/2007 tại Phú Nhai 
 
  
 Tòa Giám Mục Bùi Chu

2007 


 
 
Chiều 29/11/2007

Bài giảng Khai mạc  

“Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu…” (Gal 2:19-21) 

 

LINH MỤC – MỘT CHÚA KITÔ KHÁC 
 

Kính thưa Đức Cha và Cộng đoàn, cách riêng 16 Thầy Phó Tế, 

Lời mở đầu Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống linh mục của Công đồng Vaticanô II, “trong công cuộc canh tân Giáo Hội, hàng linh mục giữ một vai trò tối quan trọng và càng ngày càng khó khăn… giữa những hoàn cảnh mục vụ và tình trạng nhân loại luôn chịu đựng những biến đổi sâu xa” (PO. 1) có ý nghĩa đặc biệt cho các Thầy đang tĩnh tâm dọn mình chịu chức linh mục trong bối cảnh toàn thể Giáo phận Bùi Chu chúng ta mừng Năm Thánh đặc biệt 150 năm dâng Giáo phận cho Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.  

Thật thế, dù giáo huấn của Giáo Hội có hay ho, dù kế hoạch của Bề Trên có chu đáo, mà nếu linh mục không tích cực cộng tác đem ra thực hiện cùng với đoàn chiên tại các giáo xứ, song chỉ để trong ngăn kéo hay trên kệ sách, thì chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì mới mẻ, chẳng có gì được xây dựng bền vững, trong cả hai hoạt động bổ túc nhau của Giáo Hội là dưỡng giáo và truyền giáo. 

Vì thế, trong mấy ngày này chúng ta kêu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta trực diện với những yếu tố căn bản của chức linh mục, tầm quan trọng của nó trong sứ mệnh của Giáo Hội, cũng như những thách đố phải vượt qua để thi hành thừa tác vụ linh mục cách hiệu quả trong lòng Giáo Hội và Xã hội đang biến đổi từng ngày. 

Tối hôm nay, con xin chia sẻ đề tài đầu tiên, LINH MỤC – MỘT CHÚA KITÔ KHÁC. 

Các Thầy Phó Tế được mời gọi ý thức cao độ về những điều trọng đại đang được chuẩn bị vào thời gian này, là các thầy sẽ nhận lãnh chức linh mục từ tay Giám Mục Bản Quyền, để đại diện Chúa Kitô trong một môi trường cụ thể là tại mảnh đất quê hương và đoàn dân Bùi Chu thân yêu này. 

Từ bao nhiêu thế kỷ nay, linh mục được gọi và được mô tả như một Chúa Kitô Khác. Cụm từ “linh mục – Chúa Kitô Khác” vừa diễn tả cái căn bản của chức linh mục, vừa biểu lộ hậu quả linh đạo linh mục.  

Linh mục hành động nhân danh bản vị Chúa Kitô, in persona Christi, trước hết và trên hết, trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể. Linh mục không nói “Đây là Mình Máu Chúa Kitô”, nhưng ngài dùng những lời nói và hành động của chính Chúa Kitô “Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy”. Chính bản vị Chúa Kitô mà linh mục đại diện và mang đến tại nơi mà ngài đang cử hành Thánh lễ.  

Thánh lễ diễn tả trọng tâm và bản chất của chức linh mục, vì mọi hành động khác của linh mục phải bắt nguồn từ Thánh lễ và qui về Thánh lễ. Linh mục chu toàn phận vụ chính yếu của mình nơi mầu nhiệm hy tế Thánh Thể, nên khi linh mục liên kết với hành động của Chúa Kitô thì hằng ngày ngài cũng hiến dâng mình trọn vẹn cho Thiên Chúa, và khi được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô thì ngài cũng chia sẻ tình bác ái của Chúa Kitô, Đấng đã hiến ban chính mình làm lương thực cho tín hữu (x. PO. 13).  

Và như thế, một cách nào đó trong hoạt động mục vụ, linh mục cũng phải trở nên lương thực cho tín hữu, theo quan niệm của cha Chevrier “linh mục là người bị ăn” 

Việc là “Chúa Kitô Khác” này có nhiều hậu quả đặc biệt cho đời sống thiêng liêng và sứ vụ của linh mục: linh mục càng làm cho Chúa Kitô nhập thể, không chỉ trong cử hành Thánh lễ mà trong cả cuộc sống mình nữa, thì linh mục càng thực sự trở nên một Chúa Kitô khác, và càng ngày càng ý thức về phận vụ chính yếu của mình, cũng như về sự đòi buộc phải trở nên một Chúa Kitô khác. 

Bên kia nền tảng bí tích này, linh mục cũng phải sống và hành động như một Chúa Kitô khác, nghĩa là cách thức ngài nói năng, làm việc, đối xử và tương quan với dân chúng phải phản ánh Chúa Kitô.  

Đại diện Chúa Kitô tại đây và lúc này, linh mục phải làm cho mọi người cảm nhận ngài như một Chúa Kitô khác, không những trong cử hành Thánh Thể và các bí tích, mà cả trong phận vụ rao giảng Lời Chúa và lãnh đạo Dân Chúa nữa. 

Trong khi bí tích Thánh Thể là nền tảng chính yếu của đời sống thiêng liêng của linh mục trong cuộc sống hằng ngày, thì chương trình sống của linh mục phải được nuôi dưỡng bởi lời cầu nguyện đều đặn, sâu xa và nhiều giờ, như sự cởi mở thường xuyên với các thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. 

Chúa Kitô đã được Chúa Cha sai đi và Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong, như Luca 4:18-19 nói: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.”  

Sẽ là một Kitô khác, các thầy để cho Chúa Thánh Thần chiếm hữu và hướng dẫn, như chính Chúa Kitô đã sống. Vì Chúa Thánh Thần là Đấng mà các thầy đã nhận lãnh từ khi chịu phép rửa tội và trở thành đền thờ của Ngài, thì mai kia khi các thầy chịu chức linh mục, Thánh Thần cũng được ban xuống dồi dào trên các thầy với quyền tha tội, như Chúa Giêsu đã phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha; anh em cầm giữ tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ" (Ga 20:22).  

Vì là Chúa Kitô khác, linh mục sẽ được Thần Khí Sự Thật dạy cho mọi điều và nhắc nhở tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói (x. Ga 14:26). Cũng chính Thần Khí đó sẽ dạy linh mục điều ngài phải nói (x. Lc 12:12) và sẽ nói thay cho ngài (x. Mt 10:20; Mc13:11). Linh mục chu toàn thừa tác vụ và cuộc sống linh mục của mình, nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua bảy ơn của Ngài (khôn ngoan, trí hiểu, thông biết, can đảm, tư vấn, đạo đức và kính sợ Chúa). 

Cách ứng xử thích đáng của linh mục là luôn trung thành và “nghe theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần, để được sinh hoa kết trái và mang hoa trái của Chúa Thánh Thần đến cho người khác (bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, quảng đại, dịu dàng, trung tín, khiêm nhường, tiết độ và trong trắng). Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong công trình sáng tạo, trong lịch sử nhân loại, trong cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu, trong Hội Thánh, đặc biệt trong thời gian bắt đạo tại giáo phận Bùi Chu chúng ta với sự can thiệp của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 150 năm trước, và cả bây giờ nữa. 

Cũng vì thế, giờ đây chúng ta đặc biệt tin tưởng hướng về Mẹ Maria, Mẹ của linh mục theo một đường lối đặc biệt, vì khi trên thập giá, vào lúc tột đỉnh của sứ mạng cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ mình cho Gioan và ký thác Gioan cho Mẹ (x. Ga 19: 26-27): “Linh mục cũng hãy đón nhận Đức Maria như Mẹ vào trong nhà nội tâm của chức linh mục của mình.” Được sự che chở và hướng dẫn từ mẫu của Mẹ nâng đỡ và tăng sức mạnh, linh mục có thể nhìn thấy mọi mối tương quan, các giai đoạn đời sống và sứ vụ linh mục của mình, bằng đôi mắt mới, bằng trái tim và trí não mới, và luôn bước đi trên con đường thánh thiện. 

Vì thế, linh mục cần tăng cường lòng sùng kính Đức Mẹ. Sự hiện diện từ mẫu của Mẹ luôn là sự nâng đỡ cho ngài. Trái tim Đức Maria, vừa là của người trinh nữ vừa là của người mẹ, đã luôn theo sát Đức Giêsu Con Mẹ, trong suốt cuộc đời cho đến duới chân thập giá, bây giờ vẫn tiếp tục đồng hành cùng linh mục, một Kitô Khác.

Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI khuyên các linh mục hãy vào trường Đức Maria để học biết yêu thương và bước theo Đức Kitô trên hết mọi sự. Thật vậy, trong trường của Đức Mẹ, chúng ta học đặt Đức Kitô vào chỗ nhất trong đời sống chúng ta, hướng tư tưởng và hành động của chúng ta thực hiện điều Ngài muốn: “Người bảo gì thì anh em hãy làm theo.” Đúng vậy, nơi trường của Mẹ, chúng ta học những điểm mấu chốt của đời sống người môn đệ là biết thinh lặng, biết lắng nghe và phục vụ. Mẹ sẽ giúp chúng ta tiến sâu vào mối tương quan nhân vị và đích thực hơn với Chúa Giêsu để chúng ta yêu mến Ngài và làm cho Ngài được yêu mến. 

Vâng, qua việc chiêm ngắm và lắng nghe Đức Maria, chúng ta sẽ hiểu hơn tác động của Chúa Thánh Thần và sức mạnh biến đổi của Bí tích Thánh Thể, luôn tìm được niềm an ủi và nguồn sức mạnh để bước theo Chúa Kitô và phục vụ Ngài trong anh chị em. 

Linh mục sẽ không bao giờ thiếu sự che chở, nâng đỡ của Mẹ Maria. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, Chúa Thánh Thần sẽ gìn giữ đời sống độc thân trong trắng của linh mục như Ngài đã làm cho Đức Maria và Thánh Giuse. Vì thế, cuối bức Tông Thư của ngài, Đức Phaolô VI đã khuyên nhủ: “Anh em hãy hướng con mắt và trái tim, với niềm tín thác được đổi mới và lòng cậy trông con thảo, về Mẹ rất yêu dấu của Chúa Giêsu và Mẹ của Hội Thánh, và hãy kêu xin sự cầu bầu vạn năng và hiền mẫu của Mẹ cho chức linh mục Công giáo” (Sacerdotalis Caelibatus 98a). 

Là Chúa Kitô khác, linh mục phải luôn sống và làm việc hiệp thông phẩm trật và cơ cấu với Giáo Hội, cụ thể là với Giám mục Bản quyền và linh mục đoàn dưới quyền điều khiển của ngài, bởi vì từ ngài mà linh mục nhận lãnh và thông dự vào chức linh mục thừa tác đầy đủ của ngài. Muốn được thế, chúng ta hãy luôn chạy đến với Mẹ Maria, cầu nguyện với Mẹ Maria và cầu nguyện cùng Mẹ Maria để xin Chúa Thánh Thần ngự đến trong cuộc đời và mọi sinh hoạt của chúng ta, như Mẹ đã làm với các tông đồ và cho các tông đồ trong ngày khai sinh của Giáo Hội, cũng như Mẹ đã ban ơn đặc biệt cho Giáo phận Bùi Chu thân yêu của chúng ta trong suốt thời kỳ bị bách hại đã qua, và nay Mẹ làm mới lại và tiếp tục thi thố sự can thiệp từ mẫu đầy quyền năng của Mẹ cho toàn thể giáo phận và mỗi người chúng ta, không những trong Năm Thánh, mà trong suốt cuộc đời sống Đạo và truyền Đạo cho Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa trị đến và Ý Chúa luôn được thể hiện dưới đất cũng như trên trời, bởi việc loài người được ơn cứu độ. Amen. 
 
 

Sáng ngày 30/11/2007

“Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Hb 5:7-9) 

 

LINH MỤC ĐẶT CHÚA KITÔ (CHRIST) LÀM TRỌNG TÂM ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ

Chúng ta sẽ trình bày lần lượt theo các mẫu tự làm nên danh hiệu Chúa Kitô: C H R I S T 

1. C Thập Giá (CROSS).   

Chức linh mục cắm rễ sâu nơi Thập Giá. Chúa Giêsu đã minh định rất rõ rằng chỉ có một con đường duy nhất để đi theo Ngài. Đó là con đường Thập Giá: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16:24).  

Không có con đường nào khác để bước theo Thầy. Tất cả những cái gọi là con đường tắt, cuối cùng đều sẽ chẳng dẫn đến đâu cả, bởi vì người môn đệ đích thực phải là người bước đi trên con đường Thập Giá và theo Thầy cho đến đồi Canvê. Thập Giá gắn kết không rời với Chúa Giêsu, ngay cả sau khi Ngài sống lại vinh quang thì các dấu đinh từ cuộc khổ nạn của Ngài vẫn không bị xóa nhòa. 

Do đó, linh mục không tránh né Thập Giá, cũng không được tìm cách che chắn Thập Giá: “Nếu Đức Kitô mà chúng ta mường tượng không phải là ‘Đức Kitô Khổ Nạn’, thì đấy là chúng ta đang mường tượng một ai đó khác, chứ không phải là Đức Kitô thực” (Thư Luân Lưu về một số khía cạnh cấp bách của việc huấn luyện tu đức trong chủng viện, II,2). 

Thập Giá có nghĩa là bỏ mình và trần trụi, Thập Giá gắn liền với hy sinh và giũ bỏ ý riêng, Thập Giá đòi phải chấp nhận Thánh Ý Chúa Cha dù phải trả bằng giá nào đi nữa, Thập Giá đòi phải sẵn sàng uống cạn chén đắng đến giọt cuối cùng, Thập Giá có nghĩa là vâng phục cho đến chết. Người linh mục không thể đi con đường nào khác hơn là con đường của Chúa Kitô, Đấng đã vâng phục cho đến chết trên Thập Giá. 

Chúng ta dễ có nguy cơ nuôi dưỡng một ‘tinh thần hảo ngọt’ mà kết quả là tìm kiếm chính mình nơi Thiên Chúa, chứ không phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi chính mình! Không được xem Thập Giá như một gánh nặng phải vác trong cuộc hành trình, mà đúng hơn phải xem đó là “một chiếc gậy giúp mình bước đi dễ dàng hơn và nhẹ nhàng hơn bội phần” (Thánh Gioan Thánh Giá, Lên Đỉnh Các-men, quyển II, Ch.7, số 7). Có những lúc Thập Giá như phủ trùm bóng tối trên chúng ta thì đó là bóng bàn tay Chúa Giêsu ân cần đưa ra che chở chúng ta. 

Cám dỗ thường xuyên của con người là kiếm tìm một Chúa Giêsu không Thập Giá, là muốn một ‘thứ Kitô giáo’ dễ dãi nào đó, là khát khao một ‘thứ Tin Mừng’ không nhuốm nước mắt và đau khổ. Cũng giống như Phêrô, chúng ta muốn kéo Chúa Giêsu ra ngoài và can ngăn về chuyện Ngài tuyên bố quá rõ ràng về Thập Giá, về chuyện Ngài lên đường đi Giêrusalem. Và có lẽ chúng ta cũng đáng bị những lời quở trách “Satan, hãy xéo đi!” bởi vì chúng ta không ủng hộ ý muốn của Thiên Chúa mà đang ủng hộ ý muốn của loài người (x. Mt 16:23). 

Tin Mừng của Chúa Giêsu là một thứ Tin Mừng khổ lụy, không những phải được rao giảng mà còn phải được thực thi. Nếu chúng ta cố tìm một Chúa Giêsu không có Thập Giá, chúng ta sẽ gặp thập giá mà không có Chúa Giêsu! Thập Giá là một trong những nghịch lý lạ lùng của Kitô giáo. Sự khôn ngoan và sức mạnh của Thập Giá chỉ được hiểu một khi ta đảm nhận nó và trực tiếp kinh nghiệm nó: Liều đánh mất mạng sống chính là để đạt được sự sống, đành chịu bất lực chính là để trở nên mạnh mẽ. Thập Giá không phải là kết điểm của con đường, mà là cánh cổng dẫn vào sự sống: thất bại chuyển hóa thành chiến thắng, chính chỗ sự sống bị tước đoạt lại trở thành nơi sự sống được phục hồi. 

Giáo Hội không bao giờ che giấu Thập Giá, trái lại biểu dương và suy tôn Thập Giá: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, nó sẽ trổ sinh nhiều bông hạt” (Ga 12:24). Đời sống linh mục càng cắm rễ sâu trong Thập Giá càng trổ sinh hoa trái nhiều hơn. Chính khi đi đến cùng con đường tự hủy, trút bỏ đến trở thành trống không, là lúc mà công cuộc của Chúa Giêsu đạt đến mức tuyệt đỉnh: cứu vớt chúng ta khỏi tội lỗi và giải hòa chúng ta với Thiên Chúa. 

Đời linh mục được sắc nét khi tựa vào Thập Giá, bởi vì chức linh mục thừa tác là chức phận của hy tế của Đấng “đã tự thể hiện mình là tư tế, là bàn thờ, và là con chiên bị sát tế” và nhờ “việc chấp nhận chết, Ngài đã tiêu diệt sự chết nơi chúng ta, và nhờ sống lại, Ngài đã phục hồi sự sống cho chúng ta” (Kinh Nguyện Thánh Thể 3).  

Hằng ngày linh mục nhân danh Chúa Kitô cử hành Lễ Tạ Ơn là chính trung tâm cuộc sống và sứ vụ của mình, và trở thành chính điều mà mình cử hành, như nghi thức truyền chức căn dặn: “Con hãy nhận lấy lễ phẩm của dân thánh, hiểu biết những điều con làm… và hãy làm cho cuộc sống con nên tương hợp với mầu nhiệm Thập Giá của Chúa.” 

Việc cử hành Thánh Thể là một sự lặp lại hy tế Canvê, thể hiện và đào sâu sự đồng hóa linh mục với Chúa Kitô trong hy tế Thập Giá, qua đó linh mục được thách đố trao ban chính thân thể mình, chính máu thịt mình. 

Nhiều người trong chúng ta cũng đã, hay sẽ trèo lên con đường dốc đứng đó, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. 

Con đường thập giá của Giáo Hội và của chúng ta vẫn kéo dài mãi. Những người bách hại còn đó hay đã qua đi, hoặc đã thay đổi, nhưng thập giá vẫn không thay đổi và vẫn còn đè nặng trên vai chúng ta. 

Ngày xưa ông Simon đã giúp Chúa Giêsu vác thập giá, thì ngày nay chính Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sống lại đang giúp chúng ta vác thập giá của chúng ta. Đau khổ của chúng ta là đau khổ của Ngài, hy tế của chúng ta là hy tế của Ngài. Chúa Giêsu thấu hiểu những yếu đuối của chúng ta, những thất bại của chúng ta, những cảm giác ngã lòng, những lo sợ và cô đơn của chúng ta, vì chính Ngài cũng đã trải nghiệm những khó khăn này. 

Đường thập giá là trường dạy chúng ta sống. Chúa Giêsu ngã xuống rồi lại chỗi dậy. Ngài chịu đựng nỗi cô đơn. Ngài chịu hành hạ và lăng nhục, nhưng Ngài luôn tha thứ. 

Đường thập giá là trường dạy sống thánh theo gương Mẹ Maria. Mẹ bước đi theo Con Mẹ trong thinh lặng. Cái nhìn của hai Mẹ Con bắt gặp nhau; hai Mẹ Con nhìn nhau tận trong sâu thẳm tâm hồn. Mẹ và Con kết hiệp với nhau bởi tình yêu bao la, sâu thẳm và trong trắng. Tình yêu này sẽ làm thế giới thay đổi. 

Chúng ta trèo lên con đường thập giá đến tận đỉnh đồi Golgotha, đến tận một Chúa Kitô toàn thể, vừa với thập giá và mão gai trên đồi Golgotha, vừa với vinh quang trên núi Tabôrê và chiến thắng phục sinh vinh hiển. Sứ mạng linh mục của chúng ta là hướng dẫn những con người phải đau khổ vì đối nghịch và hận thù để họ không quay lưng lại với nhau, nhưng nhìn vào mắt nhau trong sự cảm thông tương hổ. 

Mẹ Maria đã theo Chúa Giêsu trên đường núi Sọ, xin Mẹ luôn đồng hành với chúng ta. Một người mẹ đã nói với con mình rằng: “Dù con lớn bao nhiêu tuổi, con vẫn là con của Mẹ; dù con có đi tới cùng trời cuối đất, thì lòng Mẹ vẫn hằng theo con.” Chớ gì chúng ta luôn cảm nhận sâu sắc Mẹ Maria luôn đồng hành với chúng ta, luôn đứng bên thập giá của chúng ta và che chở chúng ta. 

2. H Nhân Ái (HUMANITY). 

Khi đọc và suy gẫm Tin Mừng, chúng ta dễ có ấn tượng sâu đậm về lòng nhân ái của Chúa Giêsu. Ngài bồng ẵm các em bé vào lòng, chúc lành cho chúng, nhắc nhớ rằng Nuớc Thiên Chúa thuộc về những người giống như chúng (x. Mc 10:14). Ngài có các bạn hữu ở Bêtania mà Ngài yêu mến và năng ghé thăm, Ngài có một tương giao thân tình nồng nhiệt với họ. Ngài đã cảm thương bạn hữu mình đến độ sa nước mắt, như điều đã xảy ra bên mồ Ladarô (x. Ga 11:35). Ngài cũng nếm cảm nỗi đói, khát, cô đơn và buồn sầu. Ngài là Thiên Chúa và là con người trọn vẹn, và thần tính của Ngài không hề làm nhân tính Ngài bị sút giảm đi chút nào. Lòng nhân ái của Chúa Kitô được nhìn thấy rõ rệt nhất nơi tấm lòng trắc ẩn của Ngài. 

“Trắc ẩn” không chỉ có nghĩa là thương hại người ta, mà đúng hơn, trắc ẩn là cảm nếm nỗi đau khổ nơi người ta, cùng chịu đau khổ với người ta. Chúa Giêsu đã cảm nhận cơn đói mệt của đám đông đi theo Ngài trong hoang địa (x. Mc 6:35). Trái tim trắc ẩn của Ngài đã hoàn toàn đồng cảm với và mang lấy gánh buồn đau của người góa phụ đang khóc thuơng vì mất đứa con trai duy nhất của mình (x. Lc 7:11). Người góa phụ này đã không xin Chúa Giêsu làm phép lạ. Chính Ngài quyết định làm thế. Phải chăng Ngài nhìn thấy trước nơi người góa phụ ấy hình ảnh chính Mẹ yêu dấu của Ngài, khi Mẹ sẽ đón nhận vào vòng tay mình tấm thi thể tan nát của chính Ngài sau này? Ngài cảm nhận được lòng thống hối của người đàn bà tội lỗi đang sa nước mắt rửa chân Ngài và lấy tóc nàng mà lau chân Ngài, như dấu chứng của một trái tim chứa chan lòng mến. Lòng trắc ẩn của Ngài đã thúc đẩy Ngài đi đến gặp gỡ và ngay cả đụng chạm đến những người phung hủi mà xã hội liệt vào hạng ô uế và không thể đụng chạm đến được (x. Mc 1:41). 

Lòng nhân ái của Chúa Giêsu đã làm cho Ngài có thể đi vào trong mối quan hệ cá nhân với tất cả mọi người: những người đau ốm và những người khốn khổ, những người nghèo hèn và những người bị áp bức, những người tội lỗi và những người thánh thiện. 

Mặc dù Ngài tiếp xúc với đám đông quần chúng, Ngài vẫn không bao giờ quên các cá nhân và nhu cầu của họ. Ngài dừng lại với anh chàng ăn xin mù Bartimê (x. Mc 10:46). Cả một đám đông chen lấn xô đẩy Ngài, nhưng Ngài vẫn cảm nhận được đức tin của người phụ nữ đang cố kín đáo chạm đến mép áo Ngài để được chữa lành chứng bệnh băng huyết của chị (x. Mc 5:30). Ngài đã cảm kích bởi lòng quảng đại của bà góa nghèo dâng cúng hai đồng bạc, tức trọn số tiền mà bà đang có để sống, vào hòm tiền của Đền Thờ (x. Lc 21:2). 

Để nên giống Chúa Kitô, linh mục phải có lòng nhân ái và trắc ẩn như Ngài, phải biết cảm xúc với người ta, vì người ta, và trong người ta, nhất là những người đau khổ trong thân xác cũng như trong tâm hồn, phải cảm nhận “những vui mừng và hy vọng, những ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là những người nghèo và những người đau khổ…” (Hc. Vui Mừng và Hy Vọng, số 1). 

Linh mục không thể vô cảm, vô can, hay lãnh đạm đối với bao nỗi đau buồn và bao nỗ lực đấu tranh của những người mà mình có bổn phận phục vụ. Niềm vui và nỗi khổ của họ phải có một âm vang trong cõi lòng linh mục. Linh mục được gọi nên giống Chúa Kitô để trở thành người Samaritanô Nhân Hậu, bởi vì “dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu thuộc về Tin Mừng khổ lụy. Quả thật, dụ ngôn này vạch cho chúng ta thấy mối tương quan giữa chúng ta và những anh chị em đau khổ xung quanh đời mình phải như thế nào” (JP II, Tông Thư Salvifici Doloris, số 30). 

Nhờ cuộc sống độc thân, linh mục hoàn toàn có tự do để yêu thương, quan tâm và chăm sóc mọi người. Linh mục là của mọi người, bởi vì mọi người có quyền đòi hỏi linh mục không thuộc về riêng một ai cả:

Linh mục được mời gọi bắt chước gương Chúa Kitô và mang trọn tấm lòng đồng cảm của Ngài đến cho những người ốm đau tật nguyền… Linh mục không giống với Chúa Kitô ở chỗ linh mục không có quyền năng để chữa trị các anh chị em đau yếu, tuy nhiên, linh mục có thể đem lại cho họ sự an ủi về mặt luân lý và tâm linh, nâng đỡ họ trong cơn thử thách và ngay cả có thể giúp họ mau chóng bình phục hơn” (JP II, 14/8/1990). 

Có thể linh mục không xóa tan được nỗi thống khổ của người ta, nhưng chính sự hiện diện của linh mục trong nỗi thống khổ của họ sẽ đem lại cho họ niềm hy vọng và sự chữa trị. Linh mục không chỉ thực thi sứ vụ phục vụ những người bệnh tật và đau khổ, mà ngược lại linh mục đồng thời cũng nhận được sự nâng đỡ lớn lao từ nơi họ; linh mục không chỉ hướng dẫn và chăm sóc họ mà còn được họ chăm sóc và hướng dẫn: Sự hy sinh và kiên nhẫn chịu đựng của họ là một nguồn nghị lực nâng đỡ linh mục; sứ vụ đối với những người bệnh tật, đau khổ, nghèo túng… có sức khích lệ tinh thần linh mục và làm cho linh mục giàu tính người hơn và nên giống Chúa Kitô hơn.

 
 

Chiều ngày 30/11/2007

“Vì thế, từ đây chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người. Và cho dù chúng tôi đã được biết Đức Kitô theo quan điểm loài người, thì giờ đây chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa. Cho nên, phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải. Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải” (2 Cr 5:16-19) 

 

LINH MỤC ĐẶT CHÚA KITÔ (CHRIST)  LÀM TRỌNG TÂM ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ

 

(tiếp theo)

3. R Hòa Giải (RECONCILIATION).  

Chúa Kitô đã đến để giải hòa con người với nhau và với Chúa Cha. Ngài là sự giao hòa và là sự bình an, vì “trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã giao hòa thế gian với chính Ngài…” (2 Cr 5:19). Ngài đã hàn gắn tất cả những gì đổ vỡ, qui tụ tất cả những gì tản mác, hiệp nhất những gì phân rẽ. Ngài đã chịu chết để thu họp tất cả các con cái Thiên Chúa đang tan tác khắp nơi (x. Ga 11:52). Ngài đã mang lấy gánh nặng lỗi lầm của chúng ta và trở thành giống như chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4:15). Là nhà hòa giải, Chúa Giêsu là Pontifex thượng đẳng, là nhịp cầu nối kết không chỉ các cá nhân đang chia rẽ nhau, mà nhất là hiệp nhất lại những gì đã phân rẽ ở bên trong mỗi con người.

Tin Mừng cho thấy hình ảnh một Chúa Giêsu không ngừng tìm kiếm và cứu vớt những gì lạc mất, đến độ Ngài tự nguyện đến dùng bữa tại nhà Zakêu. Thật vậy, Ngài bị tiếng là thường giao du với những người tội lỗi và những người thu thuế (x. Mt 11:19). Ngay cả trong cơn đau quằn quại trên Thập Giá, Ngài cũng đã giao hòa người trộm lành qua việc bảo đảm thiên đàng cho anh ta (x. Lc 23:43).  

Cái gì gây phân rẽ ở ngay bên trong mỗi người? Cái gì gây phân rẽ ở giữa người với nhau? Đó không phải là gì khác ngoài tội lỗi và sự dữ. Tội lỗi chia cắt và làm con người tan rã. Trong tội lỗi, người ta không chỉ đoạn tuyệt mình khỏi Thiên Chúa, mà còn đoạn tuyệt mình khỏi người khác, và còn đoạn tuyệt mình với chính mình nữa. Sự xung đột giữa người với người chỉ chấm dứt khi mà sự xung đột bên trong bản thân mỗi người chấm dứt. 

Từ kinh nghiệm bản thân, chúng ta biết rằng cõi lòng mình là một bãi chiến trường của những xung đột cam go này. Chúng ta muốn tránh sự dữ, thế nhưng chúng ta lại sa vào làm mồi cho sự dữ. Chúng ta muốn làm điều tốt, nhưng chúng ta lại bị kéo lôi bởi điều xấu. Quả thật chúng ta có thể thốt lên như Thánh Phaolô rằng: “Khốn cho tôi! Ai sẽ kéo tôi ra khỏi tấm thân hay chết này? Xin tạ ơn Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!” (Rm 7:24). 

Linh mục vẫn thường nói về những cơ chế của tội lỗi trên thế giới, những cơ chế của bất công, của sự phân biệt đối xử… Nhưng những cơ chế ấy phát xuất từ đâu? Chúng ta dễ quên những cơ sở hạ tầng của tội lỗi bên trong chính mình. Những cơ chế bên ngoài của tội lỗi sẽ chỉ biến mất nếu những cơ chế tội lỗi đồn trú bên trong bản thân mỗi người bị giải thể. 

Có lẽ tội lớn nhất của thế giới chính là việc con người đánh mất cảm thức về tội lỗi. Đây là căn bệnh mà chúng ta cần được giúp đỡ và chữa trị. Chúa Giêsu cung ứng cho chúng ta sự chữa trị đó khi Ngài giải hòa chúng ta với chính mình, với nhau, và với Thiên Chúa. Linh mục là thừa tác viên và là sứ giả của sự hòa giải này, để nối lại các nhịp cầu và kiến tạo hòa bình. Linh mục cũng cần biết nhìn nhận rằng trong sâu thẳm con người mình, linh mục vẫn mang những mầm mống của tội lỗi và ích kỷ, rằng linh mục cần được hòa giải ngay cả khi linh mục đem lại sự hòa giải cho người khác. 

Mẹ Giáo Hội cung cấp cho chúng ta một phương thế để đón nhận sự hòa giải và niềm bình an ấy: đó là Bí Tích Hòa Giải. Chúng ta phải nhìn nhận tội lỗi và sự dữ ở bên trong chúng ta và đặt mình qui phục lòng thương xót và sự thiện hảo của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Giáo Hội hết sức nhấn mạnh tầm quan trọng của Bí Tích Hòa Giải. Nhờ bí tích này, chúng ta nhận lãnh không chỉ sự thứ tha tội lỗi mà còn nhận lãnh sức mạnh của ơn Chúa để có thể phá tan những cơ chế tội lỗi bên trong chính mình.  

Linh mục không những phải thực thi vai trò thừa tác viên của Bí Tích Hòa Giải, mà còn phải là người ân cần và đều đặn lãnh nhận bí tích này, để chính linh mục trở nên chứng nhân của lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho tội nhân. Vì thế, chúng ta phải thành thật nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình và mở lòng ra đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn sẵn sàng tha thứ. Phải là một hối nhân mẫu mực thì mới có thể làm một cha giải tội mẫu mực được. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Tông Huấn Hậu Thuợng Hội Đồng “Reconciliatio et Penitentia”, đã trình bày một cách sắc bén như sau:

"Đời sống tu đức và mục vụ của linh mục muốn thực sự có chất lượng và sinh động, cần phải là một đời sống lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải thường xuyên và đầy ý thức. Việc cử hành Bí Tích Thánh Thể của linh mục và vai trò của ngài trong các bí tích khác, nhiệt tâm mục vụ của ngài, mối quan hệ của ngài đối với các tín hữu, mối hiệp thông của ngài đối với các anh em linh mục khác, sự cộng tác của ngài với Giám mục, đời sống cầu nguyện của ngài - nói tắt một lời: tất cả cuộc sống linh mục của ngài – sẽ lụn bại thảm khốc, nếu do cẩu thả hay do một lý do nào khác mà ngài không lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải một cách đều đặn với lòng tin và lòng sốt mến chân thành. Nếu một linh mục không còn bước đến tòa giải tội nữa hay không còn xưng thú tội lỗi của mình một cách nghiêm túc nữa, thì con người linh mục và sứ vụ linh mục của ngài chẳng mấy chốc sẽ gánh lấy hậu quả thê thảm, và hậu quả này sẽ tác động rõ ràng trên chính cộng đoàn mà ngài phụ trách (Reconciliatio et Penitentia, số 31).

4. I Đời Sống Nội Tâm (INTERIORITY). 

Các trình thuật Tin Mừng khắc họa Chúa Giêsu là con người cầu nguyện. Ngài là con người của đám đông, nhưng cũng là con người ‘lên núi’ nữa. Ngài gắn bó với dân chúng, nhưng cũng trải qua những khoảng thời gian một mình cầu nguyện lâu giờ và hiệp thông với Chúa Cha. Sự gắn bó của Ngài với dân chúng là một cái gì trào ra từ sự hiệp thông của Ngài với Chúa Cha. Và khi Ngài nhận thấy các tông đồ quá bận rộn đến đỗi thậm chí không có thời giờ để ăn, Ngài đã truyền cho các ông tách khỏi đám đông, lên thuyền và ra đi đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút (x. Mc 6:11). 

Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện bằng chính gương mẫu của Ngài. Trông thấy Ngài cầu nguyện, họ xin: “Thưa Thầy, xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Ngài cầu nguyện khi Ngài được dân chúng nồng nhiệt ngưỡng mộ, như sau biến cố hóa bánh ra nhiều (x. Mc 14:23), và khi Ngài vui mừng đón bảy mươi hai môn đệ trở về (x. Lc 10:21), Ngài cầu nguyện khi Ngài buồn sầu và cô đơn ở vườn Giếtsêmani (x. Mc 14:32), Ngài cầu nguyện trên Thập Giá tại đồi Canvê (x. Mt 27:36), Ngài cầu nguyện cả khi Ngài trút hơi thở cuối cùng, phó thác chính mình trong tay Cha (x. Lc 23:46). 

Là linh mục triều phải sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian, chúng ta phải vun xới đời sống nội tâm, vun xới một cuộc sống cầu nguyện, vun xới một khả năng chiêm niệm trong hành động: yêu mến cầu nguyện, dành ưu tiên cho giờ cầu nguyện hằng ngày, sắp xếp ngày sống sao cho có thể dành cho Chúa một thời gian chất luợng.

Chính đời sống cầu nguyện sẽ làm cho linh mục luôn ở lại trong Chúa Giêsu như cành nho ở lại trong thân nho (x. Ga 15:5). Sự ở lại này là bí quyết giúp cho linh mục sống một đời sống tâm linh sinh động và phong phú. Hơn nữa, sự ở lại này không bao giờ chấm dứt. Chính nhờ đời sống cầu nguyện này mà linh mục trở nên nhạy cảm hơn đối với Chúa Thánh Thần, trở nên ngoan ngoãn hơn trước những gợi ý và thúc đẩy của Ngài, đồng thời qui phục hoàn toàn con người mình theo Thánh Ý Thiên Chúa.    

Nhiều giáo dân ngày nay rất trông mong linh mục cung cấp cho họ sự hướng dẫn tinh thần, dẫn dắt họ bước đi trên nẻo đường của cầu nguyện và của Thánh Thần. Đây cũng là một nhu cầu mục vụ thiết yếu. Linh mục phải đáp ứng cơn đói khát này của giáo dân, nếu không muốn họ bị kéo lôi đến một chỗ khác để kiếm tìm sự hướng dẫn:

"Chỉ có người mục tử cầu nguyện mới có thể chỉ bảo cho người ta biết cách cầu nguyện, và mới có thể đem ơn Chúa xuống cho những người mà mình chịu trách nhiệm săn sóc mục vụ….. Chỉ có linh mục biết sống hằng ngày kinh nghiệm hoán cải và biết quan hệ thân mật với Chúa Kitô mới có thể thúc đẩy những bước tiến đáng kể trong công cuộc Phúc âm hóa đích thực và mới mẻ” (Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh Mục và Thiên Niên Kỷ Thứ Ba: Thầy Dạy Lời Chúa, Thừa Tác Viên Bí Tích và Người Lãnh Đạo Cộng Đoàn, Ch.3, số 2).

“Linh mục không thể lãnh đạo và hướng dẫn người khác nếu chính bản thân linh mục lại xa lạ với những nẻo đường và những cách làm việc của Chúa Thánh Thần. Và nếu bản thân linh mục là người thiếu năng lực biện phân, thì ngài phá hỏng công cuộc của Chúa Thánh Thần nơi những tâm hồn mà linh mục dẫn dắt” (Thánh Gioan Thánh Giá, Ngọn Lửa Sống của Tình Yêu, đoạn 3, 45). 

5. S Tinh Thần Phục Vụ (SERVANTHOOD). 

Linh mục không thể không khao khát nên giống Thầy mình, Đấng “đã đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 10:28). Ở Á Châu và nhất là tại Việt Nam, linh mục vẫn còn được dân chúng khá trọng vọng và vẫn còn có một số uy lực nào đó. Xã hội cũng thường dành cho linh mục một sự nể nang. Giáo dân nói chung thường cung phụng linh mục. Vì vậy, linh mục cần điều chỉnh và sửa đổi nhãn quan của mình trong khía cạnh này. Vì thế Thánh Bộ Giáo Sĩ nhắc nhở:

“Linh mục có một uy thế giữa các tín hữu, và tại vài nơi, linh mục còn có những thẩm quyền dân sự nữa. Tuy nhiên, linh mục cần ý thức rằng uy thế đó phải gắn liền với lòng khiêm nhường và phải được sử dụng đúng đắn để thúc đẩy công cuộc cưú rỗi các linh hồn, trong khi không ngừng xác tín rằng chính Đức Kitô mới là thủ lĩnh đích thực của dân Thiên Chúa” (Linh Mục Và Thiên Niên Kỷ Thứ Ba…, ch.4, số 3). 

Giống Chúa Giêsu, linh mục là người chăn chiên tốt lành sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên (x. Ga 10:11). Và sau khi đã chu toàn tất cả những gì được kỳ vọng nơi mình, linh mục phải biết tự nhận chính mình như  một “tôi tớ vô dụng” chỉ làm những gì có bổn phận phải làm (x. Lc 17:10). Linh mục được trao tác vụ không phải cho chính bản thân linh mục, nhưng cho cộng đoàn tín hữu. Linh mục được trao tác vụ không phải để làm ông chủ sai khiến cộng đoàn, nhưng là để cống hiến cho cộng đoàn sự phục vụ vô vị lợi:

Tìm gặp Đức Kitô nơi người khác… trong tình yêu ưu tiên đối với ‘người nghèo’, nơi họ, con mắt đức tin của chúng ta khám phá ra Chúa Giêsu (x. Mt 25, 40) và khám phá ra một tình yêu bao dung đối với tội nhân” (Pastores Dabo Vobis, số 49). 

Tinh thần phục vụ của người tôi tớ sẽ làm cho linh mục biết vui tươi chấp nhận và dốc sức chu toàn những công việc bổn phận được trao cho mình, dù đó là những công việc vinh dự hay thấp hèn đến đâu đi nữa, dù đó là những công việc gắn liền với tên tuổi hay chỉ âm thầm trong bóng tối và không được ai biết đến mình. Tinh thần phục vụ của người tôi tớ sẽ cắt xén khỏi linh mục những dấu vết bội phản thuộc căn chứng sùng bái sự nghiệp phổ biến trong giới giáo sĩ trẻ ngày nay, một căn chứng có thể làm lệch lạc và thậm chí phá hỏng sứ vụ của mình: nhiều công trình giá tội của tiền nhân bị phá bỏ để xây dựng cái mới, có khi kém hơn, cả về chất lượng cả về giá trị văn hóa và mỹ thuật, chỉ vì muốn để lại dấu tích sự nghiệp của mình. Thật đáng tiếc! 

Tại một trong những học viện dành cho các sinh viên linh mục ở Rôma, chân dung của các cựu sinh viên đã trở thành Giám mục và Hồng y được treo nhan nhãn dọc các hành lang và cầu thang của tòa nhà. Gần nay, các vị hữu trách đã quyết định tháo gỡ các khung ảnh ấy, bởi vì theo báo cáo cho biết, nhiều linh mục sinh viên mới vào trường đã có cảm nghĩ mãnh liệt rằng mình cũng phải phấn đấu để đạt đến những “tầm cao” ấy!

"Các sinh viên phải hiểu rõ rằng tiêu điểm phấn đấu cho cuộc sống mình không phải là đạt quyền cao chức trọng và thu vén danh dự, nhưng là tận hiến chính mình cho Thiên Chúa và cho sứ vụ mục vụ. Các sinh viên phải được đào tạo cách riêng về tinh thần vâng phục của linh mục, về tinh thần khó nghèo và từ bỏ, để họ có thể đảm nhận một cuộc sống theo khuôn mẫu của Đức Kitô Khổ Nạn, để họ có thể sẵn sàng từ bỏ cả những gì mình đáng được hưởng, nhưng tự xét thấy là không phù hợp" 

6.  T Thầy Dạy (TEACHER) 

Linh mục là Thầy dạy Lời Chúa, nhân danh Chúa Kitô và nhân danh Giáo Hội. Ngài sẽ không dạy những cao trào hay lý thuyết tạm bợ và chóng qua nào đó. Sứ mạng và sứ điệp là của Chúa Kitô, linh mục chỉ là sứ giả của Ngài. Giáo Hội đặt “Lời cứu độ" trên môi người rao giảng Tin Mừng, giải thích cho họ sứ điệp mà chính Giáo Hội là cơ quan gìn giữ. Giáo Hội trao cho họ bài sai mà chính Giáo Hội đã nhận lãnh từ Chúa Kitô. Linh mục sẽ không rao giảng về chính mình hay về những ý tưởng riêng của mình, nhưng là rao giảng một Tin Mừng mà cả linh mục lẫn Giáo Hội đều không phải là chủ nhân tuyệt đối và do đó không thể uốn ép Tin Mừng ấy tùy theo ý muốn của mình, và phải chuyển giao Tin Mừng ấy một cách tuyệt đối trung thành (x. Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, số 15). 

Thật vậy, việc rao giảng Lời Chúa là bổn phận trọng yếu của linh mục. “Trong tư cách là những cộng tác viên của Giám mục, bổn phận đầu tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi người …[để có thể]…xây dựng và phát triển Dân Thiên Chúa” (Optatam totius số 4). Nhưng muốn cho việc rao giảng này có tác dụng, thì nó phải đặt điểm tựa trên đời sống cầu nguyện, và linh mục tiên vàn phải là con người cầu nguyện trước khi là con người rao giảng: Phải nói với Chúa đã, rồi mới có thể nói về Chúa, vì không ai có thể cho cái mình không có. Linh mục không phải là chủ nhân, nhưng là tôi tớ của Lời Chúa, không đọc Lời cách máy móc nhưng là lắng nghe Lời. Thật vậy, “tâm nguyện, lắng nghe và đáp trả, là hình thức cao nhất của cuộc tương phùng giữa Lời Chúa và cuộc sống mỗi người.” Không thể phủ nhận sự kiện rằng “có một mối tương quan thiết yếu giữa đời sống cầu nguyện cá nhân và việc rao giảng… Việc rao giảng hữu hiệu là một hoa trái khác của việc cầu nguyện cá nhân” (Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh Mục Và Thiên Niên Kỷ Thứ Ba…, Ch.2, số 1). 

Đức Thánh Cha Phaolô VI đã diễn tả một cách sắc bén như sau: “Con người thời nay thích lắng nghe các chứng nhân hơn là nghe những thầy dạy, và nếu họ lắng nghe những thầy dạy thì đấy bởi vì những thầy dạy ấy là các chứng nhân.” Bộ Giáo dục Công giáo cũng khẳng định: “Nhà giáo dục sống đời sống đức tin sống động sẽ dạy bằng chính con người mình nhiều hơn là bằng những gì mình nói.” Quả đúng như Ca dao chúng ta dạy: “Lời nói lung lay, gương lành lôi kéo.”


 
 
 Sáng ngày 1/12/2007

“Người còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và anh em của Người đứng bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy." Người bảo kẻ ấy rằng: "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? " Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi" (Mt 12:46-50). 
 

SỰ THÁNH THIỆN CỦA LINH MỤC VÀ CÁC MỐI TƯƠNG QUAN   
 

A. CÁC Ý NIỆM MỞ ĐẦU 

Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng phải là con vật, nhưng mang sẵn cả hai yếu tố đó, trong mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng. 

Tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh qua tiến trình làm người, làm người kitô hữu và làm người tông đồ, nghĩa là thành nhân đã rồi mới thành thánh nhân. 

Người đi tu làm linh mục và tu sĩ vẫn không thôi là con người, khi đang nỗ lực nên thánh trong bậc sống ơn gọi và sứ vụ của mình.

   
       
VẬY THÁNH THIỆN LÀ GÌ?

      Trước hết, sự thánh thiện không phải là, hay không chỉ là:

      - một cái gì trừu tượng,

      - một cái gì chúng ta mặc vào mình,

      - những việc đạo đức tốt lành nào đó trong đời mình,

      - một vai trò chúng ta đảm nhận,

      - vấn đề luân thường đạo lý,

      - một hệ thống tự hoàn hảo của con người,

      - chỉ qui về đời sống bên trong của một người. 

 

Sự thánh thiện là tất cả những cái đó ở trong một bối cảnh rộng lớn hơn, nghĩa là, đạt đến sự thánh thiện không chỉ là nỗ lực của con người, nhưng còn là công trình của ân sủng Chúa, qua các mối tương quan trong cuộc sống. 

Nhu thế, sự thánh thiện có liên quan đến các mối tương quan, ở trong các mối tương quan và nhờ các mối tương quan: 

- Đã có một thời người ta liên kết sự thánh thiện với việc đọc kinh, thực hành các bổn phận tôn giáo và những việc đạo đức, một cách cá nhân. 

- Thực ra, sự thánh thiện được liên kết chặt chẽ với các mối tương quan với Chúa, với bản thân, với tha nhân và với môi trường thiên nhiên, trong đó tương quan với Chúa là nền tảng. 

"Lời mời gọi nên thánh trong mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa và lời mời gọi phục vụ và hy sinh dựa trên việc thiết lập những tương quan lành mạnh với mọi người" (Trích THÔNG CÁO BÁO CHÍ CỦA HỘI NGHỊ CÁC GIÁM MỤC Á CHÂU "CHĂM SÓC CÁC LINH MỤC" từ 27/8 - 1/9/2007 tại Thái Lan)

- Các mối tương quan này rất tương thuộc và tương tác lẫn nhau, nên nếu có cái gì “trục trặc” trong một tương quan thì các tương quan khác cũng bị ảnh hưởng. 

- Chính trong và qua các mối tương quan này mà chúng ta được lớn lên trong sự thánh thiện. 

- Do đó, để có được sự thánh thiện, các mối tương quan này đều phải hòa nhập và giữ đúng vị trí, hài hòa, quân bình và trưởng thành. Có được các mối tương quan như thế được coi là có được sự thánh thiện. 

- Như vậy, sự thánh thiện không được hiểu theo một cá nhân biệt lập, nhưng theo mối tương quan toàn diện của cá nhân với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với môi trường sống thiên nhiên. 

- Sự thiếu trưởng thành thiêng liêng của chúng ta là do việc chúng ta thiếu những tương quan đích thực, hay có những tương quan không trưởng thành, những tương quan sai lầm, những ngăn chặn và sợ hãi tâm lý của chúng ta trong những tương quan. 

- Khi những tương quan vắng mặt trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng vắng mặt. Và khi những tương quan bị ngăn cản trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng bị ngăn cản.

- Do đó, người ta thường nói đến nhân đức ảonhân đức thật là vậy. 

THÁNH THIỆN và TỘI LỖI

Chúng ta cũng cần nói đến mối tương quan giữa sự thánh thiện và tội lỗi.

- Tội lỗi và sự thánh thiện nên được hiểu theo những mối tương quan đích thực hay không đích thực. Nếu những mối tương quan của chúng ta là những liên hệ tình yêu không chân chính hoặc thiếu tình yêu đích thực thì lúc đó có tội. 

- Trong Kinh Thánh, tội lỗi và sự thánh thiện được hiểu trong bối cảnh của những mối tương quan. 

- Trong Cựu Ước: tội của Ađam và Evà, tội của Israel, tội của Cain, tội của Vua Đavít… tất cả là những tội ở trong và bởi các mối tương quan.  

- Trong Tân Ước, tội cũng được hiểu theo sự không có hoặc thất bại không thiết lập được những tương quan ngay chính, hay thiếu những tương quan tình thương hoặc có những tương quan tình thương sai lầm và đi xa khỏi những tương quan ngay chính. 

- Chúa Giêsu coi tội là tình trạng tha hóa phẩm giá con người hơn là chỉ những vô trật tự luân lý (ngày Sabbath vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabbath) 

- Chính những người Biệt phái và Luật sĩ cũng hiểu tội lỗi và sự thánh thiện trong bối cảnh lề luật và nghi thức. 

Trong đời sống và sứ vụ của mình, linh mục cần đến cách đặc biệt tình bạn và tình huynh đệ hầu nâng đỡ nhau và giúp nhau trong các trách nhiệm, cũng như trong việc phát triển, duy trì sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng.  

Vị linh hướng cũng như các linh mục đồng nghiệp, các bạn học cùng lớp, các tín hữu trưởng thành trong giáo xứ và các thành viên của Hiệp hội linh mục có thể mang lại nâng đỡ và sức mạnh cho linh mục trong các bổn phận hằng ngày, cũng như trong các nhu cầu nhân bản và thiêng liêng. 

Tình bạn của linh mục với linh mục là một tình huynh đệ bí tích. Tình bạn đó sẽ là:

o     một sự đoàn kết bên nhau để cùng tiến bước,

o     một cuộc đối thoại thường xuyên trong cuộc sống đa nguyên đa diện,

o     một cuộc gặp gỡ cởi mở hơn cho cuộc hành trình đầy gian khó và nguy hiểm,

o     một sự có mặt khích lệ hay một nâng đỡ hổ trợ tinh thần,

o     một lời vui, một tiếng cười thanh thỏa cùng chia sẻ tình thương dâng lên vời vợi,

o     một cái nhìn cảm thông khi vướng trở ngại, hay khi bị thất bại chua cay,

o     một “tôi khác” để có dịp phản tỉnh nhìn lại bộ mặt của mình, có khi đã hoen ố bụi đời,

o     một bạn đồng hành để con đường thập giá bớt nỗi đơn côi,

o     một Simong vác đỡ hay một Vêrônica lau mặt,

o     một cái gì khỏa lấp chỗ trống vắng tình thương sau tình yêu Thầy Chí Thánh,

o     một hiện diện và hiện thân của Thiên Chúa cao xa vô hình.

 

B. CÁC TƯƠNG QUAN TÌNH BẠN CỦA LINH MỤC

1. Linh mục với Giám Mục Bản Quyền

        a) Theo Sắc lệnh về Chức vụ và Đòi sống Linh mục của CĐ.Vatican II, số 7:

  • Linh mục nhận lãnh chức thánh và sứ mệnh từ Giám Mục, nên phải hiệp thông phẩm trật với Giám mục.

  • Hiệp thông này được biểu hiện rõ nét trong cử hành Phụng vụ, nhất là cử hành Thánh Thể.

  • Linh mục phải tôn trọng, cộng tác và hiệp nhất với Giám Mục bằng tình yêu thương chân thành và lòng vâng phục.

  • Linh mục không thể chu toàn đầy đủ sứ vụ cách lẻ loi và riêng rẽ ngoài linh mục đoàn dưới quyền Giám Mục.

 

  • Linh mục được coi là trợ tá và cố vấn của Giám mục trong sứ vụ dạy dỗ, thánh hóa và chăn dắt dân Chúa.

  • Linh mục được coi là anh em và bạn hữu của Giám mục, được Giám Mục chăm sóc phần vật chất và nhất là việc thánh hóa thiêng liêng qua việc đào tạo liên tục.

  • Linh mục được Giám Mục lắng nghe, hỏi han và đối thoại về công việc mục vụ và lợi ích Giáo phận.

  • Linh mục được có mặt trong linh mục đoàn để góp ý giúp đỡ Giám Mục quản trị giáo phận.

       b) Đức Gioan Phaolô II trong tiếp kiến ad limina năm 2002 đã khuyên các Giám Mục Việt Nam hãy luôn gần gũi hơn với các linh mục, quan tâm tới đời sống hàng ngày của họ để nâng đỡ họ và đồng hành cùng họ, nhất là khi họ gặp thử thách vì thi hành sứ vụ; cung cấp cho họ một sự đào tạo thiêng liêng thích nghi với những thách đố trong việc truyền giáo mà họ phải đối diện. 

       c) Ratio của Philippines đề nghị các Giám Mục nên đi bước trước trong cuộc đối thoại thân hữu và thường xuyên với các linh mục trẻ, để họ có thể cởi mở và chân thành bàn cãi cách riêng tư, với sự hướng dẫn từ phụ của Giám Mục, về công việc, thành công và thất bại, kế hoạch và vấn đề, và về đời sống thiêng liêng của họ nữa. 

 

       d) Kết luận

  • Linh mục sẽ đứng vững được trong mọi hoàn cảnh nhờ sự hiểu biết đầy yêu thương và sự giúp đỡ từ phụ của Giám mục.

  • Linh mục coi Giám Mục như một người cha thực sự và vâng phục ngài với tất cả yêu mến kính trọng.

  • Sự vâng lời càng đến từ con tim (không phải bởi quyền lực hay lý lẽ), thì mối tương quan giữa Giám mục và linh mục càng trở nên gần gũi, và rồi mọi sự đều tốt đẹp (THĐGM 1971)

 
 
     2. Tương quan Linh mỤc với linh mục

        Theo sắc lệnh PO số 8:

  • Linh mục liên kết với nhau bằng tình huynh đệ bí tích trong linh mục đoàn duy nhất của giáo phận.

  • Chức vụ và phận vụ khác nhau, nhưng mọi linh mục hướng về một mục đích duy nhất là xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, vì thế phải luôn giúp đỡ nhau.

  • Linh mục liên kết với nhau bằng mối dây đặc biệt của tình bác ái tông đồ, thừa tác vụ và tình huynh đệ, được thể hiện rõ nét trong Phụng vụ (x. việc đặt tay trong lễ truyền chức và cử hành Thánh Thể).

  • Linh mục cộng tác, cầu nguyện và yêu thương nhau là dấu chỉ môn đệ Chúa Kitô (x. Ga 17:23)

  • Các linh mục nhiều tuổi hãy đón nhận những linh mục trẻ như những người em thực sự và giúp đỡ họ trong những công tác và gánh nặng đầu tiên của sứ vụ linh mục; gắng hiểu tâm trạng của họ và theo dõi các dự tính của họ với thiện chí.

  • Các linh mục trẻ phải biết kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm của các vị lớn tuổi; bàn hỏi với các ngài và sẵn lòng cộng tác với các ngài trong việc chăm sóc các linh hồn.

  • Linh mục phải có lòng hiếu khách và chia sẻ với những anh em đau yếu, phiền muộn, lao lực, cô đơn, bị đày ải, bách hại.

  • Linh mục phải sẵn lòng và vui vẻ họp nhau (họp Hạt, họp lớp, họp nhóm công tác tông đồ), để tỉnh dưỡng tâm hồn, vun trồng đời sống thiêng liêng và tri thức, hầu tránh những nguy hiểm có thể xảy ra do sự cô đơn.

  • Linh mục được cổ võ có những hình thức sống chung, ăn chung, ít ra họp mặt thường xuyên và định kỳ (tĩnh tâm Hạt, Giáo phận) hay hiệp hội linh mục và tương trợ huynh đệ (TH ĐGM 1971).

  • Linh mục đặc biệt có trách nhiệm kịp thời giúp đỡ và tế nhị khuyên bảo những anh em đang gặp những hoàn cảnh khó khăn hay khiếm khuyết về một vài vấn đề nào đó; phải cầu nguyện, đối xử bác ái và tỏ ra là anh em, bạn hữu thực sự của họ.

     3. Tương quan Linh mục với Giáo dân

        Theo sắc lệnh PO số 9

  • Linh mục phải nhớ rằng mọi người đã được rửa tội đều phải cùng nhau làm việc cho Nước Chúa, vì tất cả là thành viên của cùng một thân thể Đức Kitô.

  • Linh mục phải nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá và sứ vụ của giáo dân.

  • Linh mục sẵn lòng lắng nghe và coi trọng những ước mong của giáo dân.

  • Linh mục nhìn nhận kinh nghiệm và chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân loại.

  • Linh mục tin tưởng vào phận vụ của giáo dân trong việc phục vụ Giáo Hội, để họ có đủ tự do và lãnh vực hoạt động, và cho họ cơ hội thích hợp gánh vác công việc theo sáng kiến của họ.

  • Linh mục cũng phải dẫn dắt giáo dân đi đến hiệp nhất, sự thật và công ích, hoà giải những khác biệt về tâm thức để không ai cảm thấy mình xa lạ ở trong cộng đoàn tín hữu.

 

  • Về phía mình, giáo dân phải nhận biết bổn phận của mình: lấy tình hiếu thảo mà đối xử với linh mục như chủ chăn và cha của mình, ân cần chia sẻ những nỗi lo âu, giúp đỡ bằng lời cầu nguyện và công việc, ngõ hầu các ngài có thể sẵn sàng vượt qua những khó khăn mà chu toàn sứ vụ cách hiệu quả hơn, “với kính trọng và tế nhị dè giữ, khích lệ và an ủi, vì các ngài là những người hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô và Giáo Hội” (Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus số 96).


 
 
 Sáng ngày 2/12/2007

“Phần anh, hỡi người của Thiên Chúa,… hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hoà. Anh hãy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp vì đức tin, giành cho được sự sống đời đời; chính vì sự sống ấy, anh đã được Thiên Chúa kêu gọi, và anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng. Trước mặt Thiên Chúa là Đấng ban sức sống cho mọi loài, và trước mặt Đức Kitô Giêsu là Đấng đã làm chứng trước toà tổng trấn Phongxiô Philatô bằng một lời tuyên xưng cao đẹp, tôi truyền cho anh: hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuất hiện. Đấng sẽ cho Đức Kitô tỏ hiện vào đúng thời đúng buổi” (1 Tm 6:11-15). 
 

 

 

SỰ THÁNH THIỆN CỦA LINH MỤC  VÀ CÁC MỐI TƯƠNG QUAN

(tiếp theo)

    4. Tương quan Linh mục với người nữ

  • Linh mục biết rõ rằng người nam và nữ hấp dẫn nhau, cần nhau, bổ túc nhau và gắn bó với nhau để sự sống tiếp tục và phát triển trong một thế quân bình tự nhiên của đời sống hôn nhân.

  • Qua các mối tương quan với người nữ, linh mục cũng trải nghiệm được nhiều phương diện của cuộc sống thật ý nghĩa và đẹp đẽ, và có nhiều công việc thật tuyệt vời.

  • Tuy nhiên, họ không luôn luôn là trợ lực, nhưng lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát, cho một số linh mục.

  • Và vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ, khoái lạc, phim con heo và nhục dục.

  • Linh mục không quên rằng mọi thân xác đều mang giới tính và bất cứ tương quan nam nữ nào cũng có yếu tố phái tính.

  • Vì thế, quà tặng độc thân của linh mục có thể bị nguy hiểm, nhất là trong quan hệ độc hữu với một phụ nữ, khi mà một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc lâu giờ trong một nơi kín đáo cửa khóa chặt, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng.

  • Linh mục độc thân không có sự quân bình tự nhiên của người sống đời đôi bạn, nên phải thiết lập cho được và sống trong một thế quân bình siêu nhiên bằng đời sống cầu nguyện mật thiết với Chúa, đời sống huynh đệ, tận tụy với sứ vụ, cảnh giác cách ứng xử và cảm xúc của mình, ý thức rằng mình “gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vở (2 Cr 4:7). 

  • Sự thiếu quân bình trong đời sống và sứ vụ linh mục, cộng với những khó khăn, thử thách đau khổ, yếu đuối nhân loại bên trong và cám dỗ lôi cuốn bên ngoài, người ta có khi bù trừ và đi tìm lại sự quân bình tự nhiên kia mà vấp ngã.

  • Kinh nghiệm cho thấy những người tu bỏ đời sống cầu nguyện, thiếu tình huynh đệ cộng đoàn và bỏ bê bổn phận sớm muộn gì cũng sẽ sa ngã, bỏ cuộc.

  • Vì thế, linh mục được thúc đẩy thiết lập mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hoà và quân bình giữa cả hai phái.

 

    5. Tương quan Linh mục với nữ tu 

- Linh mục phải giữ trong trí óc và tâm hồn sự lệ thuộc của các nữ tu cũng như chính sự lệ thuộc của mình đối với Chúa, và “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (x. Mc 12:17). 

- Linh mục cũng phải tôn trọng các nữ tu vì họ là “những cộng tác viên - chứ không phải những thuộc hạ hay người giúp việc - luôn sống trong sự bổ túc, hài hoà và liên đới. 

- Nhưng do lý tưởng và môi trường mục vụ chung, người ta có thể có mối tương quan thân mật, bằng sự cởi mở tâm sự cho nhau, bằng sự hiểu nhau và chia sẻ sứ vụ, những thành công cũng như những khó khăn, tin tưởng nhau, cảm thông với nhau, dịu dàng và ân cần chăm sóc. 

- Chính từ sự thân mật này, một cảm nhận “yêu thương” có thể dễ dàng phát sinh và phát triển, rồi tình trạng có thể trở nên nguy hiểm hơn, với những hình thức được bộc lộ ra như muốn chiếm hữu, ghen tuông, và muốn độc quyền. 

- Linh mục đừng quên lời khuyên của Chúa Giêsu (x. Mt 26:41; Mc 14:38): là những con người thánh hiến, nhưng họ vẫn không thôi là những con người với những yếu đuối nhân loại. 

- Thánh Phaolô cũng nói: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt?” 

- Linh mục cũng phải ý thức rằng sự thân mật là nhu cầu của con người, nhưng sự thân mật trong đời sống độc thân không cần (và không được) biểu lộ có tính cách phái tính, cùng với hoạt động truyền sinh. 

- Sự thân mật độc thân có mức độ thích hợp của nó. Chính mức độ riêng biệt này cung ứng cho linh mục đủ tự do để yêu thương mọi người và không vượt qua các giới hạn. 

- Linh mục khuôn đúc mối tương quan nam nữ của mình theo gương mẫu đời sống của Chúa Ba Ngôi và kêu xin ơn can đảm để thăng tiến, vượt thắng và thánh hoá “tiếng gọi nhân loại” này, ngõ hầu giúp nhau sống và chu toàn những gì đã cam kết trong ơn gọi và sứ vụ của mỗi người. 

- Linh mục phải biết tôn trọng nơi chốn, thời gian, khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ. 

- Linh mục phải rõ ràng và thành thật với chính mình, với người khác và với Thiên Chúa, bởi vì sự “hẹn hò yêu thuơng” thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và chính đáng của các công tác và hoạt động mục vụ, nhưng “thực tế đó là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.” 

- Trong hoàn cảnh tế nhị này, sự hiện diện yêu thương và đời sống huynh đệ sẽ mang lại sự trợ giúp cần thiết. Bởi tình bạn dâng hiến và nhiệt tình, mỗi người có thể là sự trợ giúp lớn lao cho người khác, trong việc soi sáng và khích lệ lẫn nhau, khi phải chịu đựng những hoàn cảnh nguy hại khác nhau, cũng như sự lây nhiễm một thứ tinh thần thế tục nào đó. 

- Linh mục cũng không được quên nhu cầu cầu nguyện, khổ chế, ăn chay và chiêm niệm: “Người ta không thể đi theo con đường khó nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt.” 

- Nhưng trên hết, linh mục phải tin rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tình yêu nhân loại (một tình yêu lớn hơn vượt thắng tình yêu nhỏ hơn và những hấp dẫn của nó); rằng chỉ có Thiên Chúa mới làm thoả mãn được con tim chúng ta và chúng ta thế nào thì Ngài yêu thương chúng ta thế ấy, và Ngài yêu thương chúng ta cho đến tận cùng; và rằng chúng ta đã “chọn phần tốt hơn” rồi. 

- Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời linh mục như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ. 

    6. NHỮNG ĐƯỜNG LỐI TƯƠNG QUAN TỐT GIỮA LINH MỤC VÀ PHỤ NỮ

        a) Tương quan với mẹ và chị em ruột

      - Mối quan hệ đầu tiên và cơ bản nhất của linh mục với phụ nữ là mối quan hệ với chính mẹ và chị em ruột. 

      - Mẹ của linh mục là người phụ nữ mà ngài đã nhận được sự sống, và mầm ơn kêu gọi. Sự dịu dàng và chăm sóc yêu thương của tình mẹ nâng đỡ và bảo vệ ngài, giúp ngài lớn lên trong đời sống nhân bản cũng như đời sống thiêng liêng. 

      - Mẹ và chị em luôn tiếp tục đồng hành với linh mục, với tình yêu thương, cầu nguyện, với chăm sóc, canh phòng nhưng đầy kính trọng. 

      - Một linh mục tốt luôn giữ mối liên hệ mật thiết với mẹ và các chị em mình, đặc biệt trong thời gian dao động tình cảm và bị cám dỗ. 

        b) Đối xử như với mẹ và chị em (1Tm 5:2)

      - Thánh Phaolô khuyên: “Hãy đối xử với các cụ bà như mẹ và các thiếu nữ như chị em với lòng trong sạch”. 

      - Linh mục phải phát triển cách sâu xa trong chính mình, hình ảnh của các phụ nữ như mẹ và chị em, với cùng một lòng yêu thương, kính trọng như đối với mẹ và chị em mình. 

      - Linh mục phải biết “khám phá ra phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo Hội và trong thế giới.” Sự thăng tiến này làm cho người nam và người nữ cảm thấy bình đẳng và biết tôn trọng nhau trong mọi khía cạnh. 

        c) Học cách ứng xử của Chúa Giêsu

      - Phúc Âm cho linh mục biết rằng thái độ ứng xử của Chúa Giêsu mang lại tự do và hòa điệu giữa Ngài và các phụ nữ. Chúng ta hãy xem vài khuôn mặt chính:

  • Mẹ Maria, người mà Ngài đã tỏ lòng yêu thương của một người con và hết lòng kính trọng vâng phục; và Mẹ đã trở nên bản đối chiếu mật thiết của Ngài trong việc lắng nghe và thực thi ý Chúa;

  • Mattha và Maria ở Bêthania, nơi mà Chúa thường ghé qua trong cuộc hành trình truyền giáo, và Ngài đã trở nên rất gần gũi với họ;

  • Người phụ nữ xứ Samaria, được hoán cải và đổi mới, đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng vốn không biết đến căn tính đích thực của Ngài;

  • Maria Madalêna, người được cứu sống và hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa Giêsu; cô đã được đặc ân thấy Chúa Phục Sinh và nhận lãnh trực tiếp từ Ngài sứ vụ loan báo Chúa đã sống lại và hẹn gặp các môn đệ ở Galilêa;

  • Người phụ nữ vô danh mà Chúa đã dạy cho biết hạnh phúc lớn hơn “dạ đã cưu mang và vú đã cho bú mớm” là lắng nghe và thực hành lời Chúa;

  • Các con gái thành Giêrusalem đã theo Chúa trên con đường thánh giá.

 
 

C. THÁI ĐỘ PHẢI CÓ TRONG CÁC TƯƠNG QUAN 

      Chúng ta biết rằng “Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản được sống trong Chúa Thánh Thần.” 

      Đời sống nhân bản khởi sự từ khi sinh ra, trải dài cho đến lúc chết, và còn tiếp tục cả sau khi chết, qua danh thơm tiếng tốt hay ố danh tiếng xấu (“Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”)

      Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản đó được sống trong Chúa, vì Chúa và cho Chúa: “Dầu ăn, dầu uống, dầu làm bất cứ điều gì khác, anh em hãy làm cho sáng danh Chúa” (St. Paul) 

      Trong cuộc sống vừa thấm nhuần thiêng liêng vừa thấm nhuần nhân bản ấy, mỗi người được mời gọi sống tới mức độ trưởng thành tốt nhất, mức độ trọn hảo: “Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành” 

      Sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng không tùy thuộc vào tuổi tác và địa vị. Và cũng vì thế người ta nói đến “nhân đức thật” và “nhân đức ảo.” Còn Chúa Giêsu thì căn dặn “hãy nghe những lời họ nói, nhưng đừng bắt chước việc họ làm, vì họ nói mà không làm”; và người Việt Nam thách đố "Làm quan hãy xét cho dân, không tin ngài xuống ngài mần ngài coi!" 

      Vì thế, hai sự sống nhân bản và thiêng liêng này phải song hành với nhau trong suốt cả cuộc đời mỗi người, trải nghiệm qua thành công và thất bại: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm.” Chính Nguyễn Thái Học cũng an ủi, khích lệ: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần, nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” 

      Ai trong chúng ta cũng có những lần trải nếm kinh nghiệm của thánh Phaolô về hai sức mạnh đối nghịch nhau trong bản thân mỗi người, khiến những điều tốt ta muốn làm thì lại không làm được, và những điều xấu không muốn làm thì ta lại làm.

      Hãy chấp nhận những giới hạn bất toàn và bất lực của mình, mỗi ngày chúng ta càng trở nên khiêm tốn hơn về chính mình trước mặt Chúa cũng như trước mặt người khác. 

      Và chúng ta cũng hãy nghĩ như thế cho tha nhân: bao lâu còn mang nặng thân phận con người, họ cũng có những yếu đuối, sai sót, lỗi lầm, bất toàn và bất lực của họ, dù họ là ai đi nữa.

      Càng chấp nhận họ như thế, ta sẽ càng trở nên cảm thông với họ hơn, độ lượng với họ hơn, tha thứ và bỏ qua các lầm lỗi thiếu sót cho họ hơn. 

      Cảm thông, độ lượng, tha thứ, bỏ qua cho người và khiêm tốn về mình, các mối quan hệ nhân bản của ta sẽ được cải thiện tốt hơn và đời sống thiêng liêng cũng sẽ được phát triển đúng mức. 

      Nhưng cuộc đời nhân bản và thiêng liêng của chúng ta lắm khi cũng “ba chìm bảy nổi chín long đong”, khiến tiền nhân phải nhắc nhở: “lênh đênh qua cửa Thần phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.” Chớ chi chúng ta biết chìa tay ra cho nhau, như Chúa Giêsu đã chìa tay ra cứu Phêrô khỏi chìm.  

      Như thế, cuộc đời của chúng ta không được biểu diễn như một đường thẳng, mà là những đường cong gợn sóng hoặc là những đường xoắn trôn ốc. Nhưng Thiên Chúa luôn viết thẳng trên những đường cong của cuộc đời chúng ta.  

      Vì vậy cuộc sống thánh thiện không chỉ là công việc và nỗ lực của con người, mà là công việc của chính Chúa Thánh Thần và chúng ta, cùng với sự cộng tác tích cực của toàn thể Giáo Hội lữ hành, mang sẵn trong mình

      - cả thần linh và nhân loại,

      - cả thánh thiện và tội lỗi,

      - cả sức mạnh và yếu đuối,

      - cả thương tích và chữa lành…

      Chúng ta sẽ cố gắng biến mình thành những sinh vật có xương sống, luôn luôn tự mình có thể đứng vững được, dù có xây xát và thương tích, chứ không phải là những sinh vật không có xương sống hay tầm gửi. 

 

Chiều Ngày 2/12/2007 

“Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi…Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giêsu …Cho nên chúng tôi không chán nản. Trái lại, dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới. Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2 Cr 4:7-11, 16-17).

 

LINH MỤC VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG, TÁI ĐỊNH HƯỚNG VÀ HÒA GIẢI

A. Nhận Định 

      Cuộc đời nào cũng có ánh sáng và bóng tối. Cũng tương tự khi nói về đời sống và sứ vụ linh mục. Chẳng có vinh quang này đến vinh quang khác như một số Chủng sinh kỳ vọng ngày chịu chức đâu.  

      Người ta thường quan niệm “càng tu càng đắc đạo”, càng hoàn hảo, nhưng thực tế, chúng ta cảm nhận và phải khiêm tốn nhìn nhận rằng có nhiều cái trong chúng ta không còn được như thuở ban đầu: “Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi... Nhưng Ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu. Bằng không, Ta đến với ngươi, và Ta sẽ đem cây đèn của ngươi ra khỏi chỗ của nó, nếu ngươi không hối cải” (Kh 2:2-5). 

      Nhiều khi khủng khoảng bắt đầu rất sớm ngay sau khi trở thành linh mục. Đức Tổng Giám Mục Orlando B. Quevedo (Philippines) nhận xét rằng ngay sau khi thụ phong, nhiều linh mục trẻ đã bỏ cầu nguyện, Sách Nhật Tụng, Nguyện Gẫm, xét mình hàng ngày và lần chuỗi Mân côi. Ngài buồn rầu kết luận: “linh mục trẻ bỏ cầu nguyện và những sùng kính đạo đức là những cái đã giúp ngài giữ được ơn gọi sống động trong chủng viện, và cũng chính những thứ đó sẽ còn giúp ngài bền đỗ trong chức vụ linh mục.” 

      Chúng ta không thể không biết đến tình cảnh này của con người và của Hội Thánh… và cũng không thể khám phá thấy hết được những hình thức khác nhau của cơn “khủng hoảng” mà các linh mục ngày nay đang phải chịu đựng: thiếu vâng lời và khó nghèo, lơ là việc linh hướng và xưng tội (luôn luôn sẵn đó nhưng họ không dùng), không ưu tiên cho đời sống cầu nguyện, thiếu tương quan thân mật với Giám mục và linh mục đoàn, thiếu liên đới và hợp tác làm việc chung, nhưng chỉ thích thi hành sứ vụ cách cá nhân, thiếu tín nhiệm và tin tưởng lẫn nhau, quá tự tin, kiêu căng, lười biếng, có vấn đề về đức trong sạch, thiếu trách nhiệm bản thân trong việc tự đào tạo và phát triển đời sống thiêng liêng. 

      Trong “Chỉ Nam về sứ vụ và đời sống linh mục 1994”, Bộ Giáo Sĩ cũng mô tả những yếu tố nản lòng này: “thói quen đơn điệu, căng thẳng thể xác vì quá nhiều việc, mệt mỏi tâm lý gây nên do đấu tranh chống lại hiểu lầm và định kiến.” Và Bộ đề nghị một giải pháp: “cần phải đưa ra vài lời khuyên cho một chương trình đào tạo thường xuyên thích hợp có thể giúp các linh mục sống ơn gọi của mình cách vui tươi và có trách nhiệm.” 

      Thật thế, nhiều trường hợp ngay trong bổ nhiệm đầu tiên có thể đã có căng thẳng với cha sở, với môi trường mới, những con người xa lạ chưa hề quen biết, tập quán, văn hóa và lối sống của họ.  

      Áp lực của công việc, kỳ vọng của dân chúng và Bề Trên lắm khi làm cho linh mục trẻ kiệt quệ. Nhiều việc ngài phải làm mà lúc ở Chủng viện chẳng ai dạy cho cả. 

      Sự cô đơn, sự thiếu khích lệ và nâng đỡ từ dân chúng và Bề Trên dễ dàng dẫn đến sự cô độc, chán nản và thất vọng.  

      Những yếu đuối bản thân, những giới hạn và vấn đề không được giải quyết thỏa đáng ở trong chủng viện, để rồi sau khi chịu chức xuất hiện mạnh hơn trước kia, vì chúng đã không được trực diện và xử lý cách thích hợp trong những năm đào tạo (vì thiếu linh hướng thích hợp hay một lối lãnh đạo ức chế khiến chịu đựng “nín thở qua sông” hay “giả dại qua ải” để rồi nay như “chim sổ lồng”).

      Trong một tình huống như vậy, vị linh mục trẻ cảm thấy đơn độc hơn khi còn ở trong chủng viện, và khó tìm được một vị linh hướng thích hợp hay một linh mục bạn tín cẩn để có thể cởi mở trọn vẹn với.  

      Tất cả những gì bị dồn nén trong quá khứ bây giờ nổ tung ra. Và xem ra chẳng ai thấu hiểu, trợ lực, giúp đỡ… 

      Mà không, vẫn có ai đó thấu hiểu, cảm thông, giúp đỡ… và thường là một bàn tay mềm mại, một tiếng nói dịu dàng, một tâm hồn quảng đại, một ý muốn ân cần sẻ chia… Và có khi vấn đề và rắc rối bắt đầu từ chỗ đó (nhớ về câu chuyện của một Giám mục Pháp).

 
 B. VỀ CÁC CƠN KHỦNG HOẢNG

     1. Các cơn khủng hoảng có thể

         a.  Khủng hoảng tự nhiên về thể lý và sinh lý

   Thông thường cứ 7 năm một lần, tất cả mọi tế bào trong cơ thể đều được thay thế để tăng trưởng. Vấn đề sinh lý cũng thế qua từng giai đoạn của tuổi đời, các tuyến nội tiết và các loại hooc-môn cũng phát sinh và bị kích thích: Ai dạy cho khỉ biết leo cây? Và “trong lòng không có biển nhưng lắm khi vẫn có sóng” 

  1. Khủng hoảng trong đời sống thiêng liêng: Khủng hoảng đức tin

Nhiều khi có sự chênh lệch đáng buồn giữa giáo thuyết và đời sống thực hành tôn giáo, hoặc chịu ảnh hưởng những tư tưởng thần học cấp tiến.

Những thử thách đau khổ có thể kéo con người đến gần Thiên Chúa, mà cũng có thể đẩy con người xa Ngài, vì không lý giải được những đau khổ bất công trên những người vô tội, những nghịch lý và ngôn hành bất nhất trong Giáo Hội và người của Giáo Hội. 

  1. Khủng hoảng trong các tương quan:

- Khủng hoảng quyền bính

Khủng hoảng đức tin kèm theo khủng hoảng quyền bính.

“Hãy nghe lời họ nói, nhưng đừng bắt chước việc họ làm”,

“Họ chất gánh nặng lên vai kẻ khác còn họ không giơ ngón tay lay thử” (“Làm quan hãy xét cho dân, không tin ngài xuống ngài mần ngài coi”);

“Họ giết chết các con mà tưởng là làm vinh danh Chúa”

Vâng mà không phục; bằng mặt mà không bằng lòng. 

- Khủng hoảng tình huynh đệ

Vì ảnh hưởng, vì quyền lợi, vì những sự việc tiêu cực đưa đến kết luận chua chát này: “Người đối với người là lang sói, nữ tu đối với nữ tu là lang sói hơn, linh mục đối với linh mục là lang sói nhất

“Giả như tên địch thù phỉ báng, Thì tôi cũng cam lòng, hay kẻ ghét ghen lên mày lên mặt, tôi có thể lánh đi.

Nhưng đây lại là bạn, người đồng vai đồng vế, chỗ thân tình tâm phúc với tôi, đã cùng tôi chia ngọt sẻ bùi, trong đền Thiên Chúa, giữa hội vui cùng sánh bước.” (Tv 55:13-15) 

- Khủng hoảng tình cảm

Những hấp dẫn, khao khát tự nhiên của con người dễ bộc lộ khi gặp đau khổ, buồn phiền, oan ức khiến người ta tìm bù trừ, vì mọi thân xác đều có tính dục và mọi tương quan đều có tính cách phái tính. 

 

2.  Các dấu hiệu và chỉ dẫn của cơn khủng hoảng   trong đời sống linh mục:

o        Trốn chạy: rượu, tiêu khiển thái quá, thích “xuất hiện”

o        Chuyện phiếm, tán gẫu không dứt, tâm sự

o        Thiếu khả năng sống trầm tĩnh, thinh lặng

o        Ham hoạt động quá (quá lao lực sẽ kiệt lực)

o        Nhu cầu khẳng định mình thái quá (xây dựng…)

o        Viễn ảnh tiêu cực, hay chỉ trích phê bình

o        Khó ngủ (nhất dạ sinh bá kế, gửi và nhận tin nhắn…)

o        Những bất bình thường về giới tính (bạo lực)

o        Những khó khăn để thoát khỏi cô độc, sợ hãi

o        Khả năng hoạt động bị tê liệt

o        Chỉ thường xuyên liên hệ với một số người nào đó thôi…

3. Vài phản ứng cần thiết để vượt thắng cơn khủng hoảng:

      Cần có thời gian cầu nguyện hằng ngày để chia sẻ bản thân với Chúa, hầu sống căn tính linh mục thực sự của mình. 

      Tìm một đối tác biện phân, vị linh hướng, có thể là một người bạn lâu dài, dẫn tới một căn tính trưởng thành. Các cân nhắc tâm lý về cá tính cũng rất hữu ích. 

      Sự sống mật thiết với Chúa Giêsu là phương dược chữa lành vạn năng.  

      Quả thế, trong đời sống độc thân của mình, linh mục cảm nhận sự cô đơn và lắm khi cô đơn thực sự, và đôi khi sự cô đơn đè nặng trên con người của ngài. 

      Sự nghi ngờ, đố kỵ, ghen ghét hay thiếu thông cảm từ phía anh em linh mục đồng nghiệp của ngài (kể cả từ Giám Mục) có thể làm gia trọng nỗi thất vọng và cô đơn (Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus số 59).  

      Nhung cô đơn của linh mục không phải là sự trống rỗng và ngài cũng không thực sự cô độc vì Đấng Cứu Thế luôn ở với ngài. 

      Chúa Giêsu cũng vậy, trong những giờ phút bi thảm nhất của cuộc thương khó, Ngài đã cảm nhận cô đơn và bị bỏ rơi, vì Ngài vừa liên đới với thân phận tội nhân phản nghịch, lại vừa luôn sống hiệp thông mật thiết với Chúa Cha và luôn tìm theo ý Chúa Cha. 

      Tuy nhiên, khủng hoảng không nhất thiết là một dấu hiệu tiêu cực, nhưng đúng hơn, nó phải được coi là một thách đố để tái định hướng đời sống và sứ vụ linh mục.  

      Nó mời gọi một đời sống thiêng liêng cá nhân sâu xa hơn, can đảm đối mặt và chấp nhận các thực tại của bản thân, dù có khi đau đớn và xấu hổ (bị sa vào bẫy mỹ nhân kế).  

      Cần phải làm mới lại các liên hệ lành mạnh để được nâng đỡ và cảm thông hơn. 

      Bí tích Hòa giải không chỉ là một quà tặng của linh mục cho giáo dân, nhưng cũng là một khí cụ quan trọng cho sự thánh hoá và tăng trưởng của chính linh mục, đặc biệt nếu việc xưng tội không chỉ được coi là một nghi thức, mà đúng hơn là một cơ hội không chỉ để xưng tội, mà còn để trao đổi với một cha giải tội và linh hướng có kinh nghiệm, nhờ đó nó trở thành một kinh nghiệm chữa lành và vui sống.  

      Việc linh hướng đều đặn là một bảo đảm khác cho sự tăng trưởng và phát triển đời sống thiêng liêng trưởng thành của linh mục.  

      Tạo lập lối sống và làm việc cộng đồng, sự ràng buộc của tình bạn đích thực, cũng như những thời gian giải trí, hồi tâm và thinh lặng giúp không chỉ chế ngự khủng hoảng mà còn biến nó thành một cơ hội để đẩy xa hơn sự tăng trưởng và tiến bộ trong sự trưởng thành cá nhân, cũng như bác ái mục tử sống động. 


 
 
Sáng ngày 3/12/2007 
 

“Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. Bởi thế, một khi đã cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau. Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Eph 4: 22-32). 

 

LINH MỤC VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG, TÁI ĐỊNH HƯỚNG VÀ HÒA GIẢI

(tiếp theo)

C. TÁI ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC 

      Khủng hoảng rất lắm khi là một dấu hiệu tăng trưởng, nhưng cũng tỏ lộ một số vấn đề và yếu đuối nào đó đang được mở ra theo cách này.  

      Trong các tình huống như thế, hãy xử sự như trường hợp hỏa hoạn: hãy bình tĩnh và hành động cách có trách nhiệm… 

      Một tình huống như thế cần trước hết sự thinh lặng và suy nghĩ để trở nên ý thức rõ ràng hơn về các vấn đề thực sự là vấn đề.  

      Để được vậy, chúng ta cần thời gian và một nơi chốn (ít là nội tâm) có thể ở một mình, suy tư và cầu nguyện.  

      Các cuộc tĩnh tâm và hồi tâm là các cơ hội đó. Thời gian khủng hoảng mời gọi chúng ta xem xét các cội rễ căn nguyên và các tình huống của các việc chúng ta đã trải nghiệm hầu được ý thức hơn về các hậu quả của chúng. 

      Mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Phải tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, nhờ ơn Chúa, với cố gắng bản thân và sự giúp đỡ của kẻ khác. 

      Việc tái định hướng được khởi đầu bằng cách trực tiếp đối diện và chấp nhận chính thực tại của chúng ta, đồng thời nhẫn nại hướng mình vào trong ý muốn của Chúa.

      Một tiến trình như thế thường không hoàn toàn được thực hiện một mình. Bên cạnh Chúa Cứu Thế mà chúng ta gặp gỡ trong cầu nguyện, chúng ta cần một ai đó để nói với, một ai đó hành động như một khuếch âm cho các kinh nghiệm và thấu hiểu của chúng ta, một ai đó có khả năng cho chúng ta những định hướng mới phát ra từ sự biện phân trong thinh lặng và nguyện cầu của chúng ta và nâng đỡ chúng ta.  

      Một vị đồng hành thiêng liêng là một quà tặng tốt nhất mà chúng ta có thể có được. Nhưng một vị hướng dẫn thiêng liêng không chỉ đồng hành với chúng ta trong cơn khủng hoảng và ở một tình huống riêng lẻ. Chúng ta nên đồng hành với nhau trong suốt một thời gian dài, cùng bước đi và cùng lớn lên bên nhau trong một mối quan tâm chung là trở nên gần gủi hơn với Chúa Kitô và với con người thật của chúng ta. 

      Bí tích Hòa Giải là một bước cụ thể tiến vào một cuộc sống mới sâu sắc hơn và vững chắc hơn nhờ cơn khủng hoảng - hy vọng thế -  

      Nếu vị hướng dẫn thiêng liêng là một linh mục, thì Bí tích được trao ban trong tất cả tiến trình biện phân và tái định hướng.  

      Thường chỉ xưng tội thôi không đủ, nhưng chúng ta cũng cần được trao đổi giải quyết và như thế thấy được các gốc rễ sâu xa hơn và các viễn ảnh tương lai. 

      Yếu tố căn bản trong việc tái định hướng đời sống và thừa tác vụ linh mục là bí tích Hòa giải, đặc biệt nếu nó không chỉ được đánh giá và thực hành theo đường lối nghi thức, mà đúng hơn như một cuộc đối thoại trong đó việc xưng tội cùng lúc trở thành một cơ hội để tiến bộ.  

      Lối xưng tội chia sẻ và đối thoại như thế cũng mang lại một sự cởi mở lớn hơn trên chiều kích nhân bản.  

      Chính vị linh mục cũng được khích lệ rất nhiều trong một kinh nghiệm như thế, nhờ đó ngài có khả năng giúp đỡ người khác trong cùng một đường lối hoặc tương tự.

      Bí tích hòa giải là một trong những quà tặng đặc biệt của linh mục cho kẻ khác trong thừa tác vụ bí tích của ngài, nhưng đồng thời nó cũng là khí cụ cho linh mục tăng trưởng trong đời sống thiêng liêng và bác ái mục tử. 

      “Để là một thừa tác viên tốt và hữu hiệu của Bí tích Hòa giải, linh mục cần khơi nguồn từ nguồn ân sủng và thánh thiện hiện diện trong Bí tích này. Căn cứ vào kinh nghiệm bản thân, linh mục có thể quyết chắc rằng càng năng tiếp cận với tư thái tốt và chu đáo lãnh nhận bí tích sám hối, càng chu toàn tốt hơn thừa tác vụ giải tội của mình và chắc chắn rằng các hối nhân hưởng được lợi ích từ bí tích này.  

      Trái lại, nếu linh mục không là một hối nhân tốt, thừa tác vụ giải tội sẽ mất đi nhiều tính hữu hiệu của nó, (vì linh mục phải là người trước tiên phải trở lại với Chúa và với chính mình).  

      Đó là luận lý toàn diện của bí tích cao cả này. Nó mời gọi tất cả chúng ta, là linh mục của Chúa Kitô, phải luôn làm mới lại chú tâm của chúng ta vào việc xưng tội cá nhân của mình” (Gioan Phaolô II trong Bí tích Hòa Giải và Sám Hối số 31).

 
 D. Giá trỊ cỦa viỆc xưng tỘi cá nhân 

      Cuộc đối thoại giữa hối nhân và cha giải tội làm cho việc cử hành bí tích đáp ứng sít sao hơn với tình huống cụ thể của hối nhân, với các lý do khác nhau sau đây của hối nhân:

  • Nhu cầu hòa giải cá nhân và tái nhập vào tình bằng hữu với Chúa nhờ nhận lại được những ơn đã mất do tội;

  • Nhu cầu tìm kiếm sự tiến bộ thiêng liêng;

  • Đôi khi cần một sự biện phân thích đáng hơn về ơn gọi;

  • Trong nhiều trường hợp, không những cần mà còn khao khát thoát khỏi tình trạng hờ hững thiêng liêng và khủng hoảng đời tu.

  • Nhờ những đặc tính cá nhân đó, hình thức cử hành này liên kết với việc linh hướng (Theo Gioan Phaolô II trong Bí tích Hòa Giải và Sám Hối số 32).

  • Trong cuộc đối thoại này phải tránh đề cập trực tiếp đến đệ tam nhân. Phải rất cẩn thận và tế nhị trong các câu hỏi để làm sáng tỏ hầu có biện pháp và lời khuyên thích ứng, giúp hối nhân thay đổi nên tốt.

  • Nhớ tránh ba tội kèm theo vạ tiền kết dành riêng cho ĐGH: Lỗi ấn tòa giải tội, khuyền dâm trong tòa, và giải tội cho đồng phạm.

  • Tương quan linh hướng là một tương quan khép kín tay ba (Chúa Thánh Thần, người thụ hướng và vị linh hướng). Điều mà vị linh hướng khám phá về người thụ hướng thuộc về toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài.

  • Dữ kiện này có cùng một qui chế như ấn toà giải tội. Điều này không chỉ để bảo vệ người thụ hướng, mà còn cống hiến cho họ sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì họ đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật.


 
 
 Chiều 3/12/2007

“Chúa Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho. Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc." Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn tìm thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lk 18:1-8) 


 LINH MỤC VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 
 

A. Hãy giỮ lò lỬa cho kín 

      Các tương quan nhân loại lớn lên trong những chia sẻ hổ tương. Càng truyền thông cho nhau và càng trải qua thời gian với nhau, người ta càng biết nhau và càng lớn lên sâu xa hơn trong sự hiểu nhau và tình bạn.  

      Tình vợ chồng không thể tồn tại nếu vợ chồng không truyền thông đều đặn mỗi ngày với nhau, đời sống gia đình và cộng đoàn cũng không thể kéo dài mà không có truyền thông đều đặn.

      Đời sống thiêng liêng cũng như thế trong mối tương quan của chúng ta với Chúa. Một linh mục không thường xuyên chia sẻ cách sâu xa với Đấng đã kêu gọi và sai phái mình sẽ không thể tồn tại trong sứ vụ và đời sống linh mục (cầu nguyện liên lĩ).  

      Một linh mục tự phụ rằng “công việc là lời cầu nguyện của tôi” sẽ đánh mất đời sống cầu nguyện đích thực của mình. Trái lại, một linh mục có thể nói rằng “công việc của tôi khơi nguồn từ lời cầu nguyện của tôi” (cầu nguyện độc hữu) là người thực sự xây dựng Nước Chúa và đời sống thiêng liêng của chính mình được tăng trưởng. 

      Nhà giảng thuyết thời danh, TGM Fulton Sheen, nói rằng vào ngày thụ phong linh mục, ngài đã hứa hai điều:

o        một là dâng thánh lễ mỗi ngày thứ bảy kính Mẹ Maria,

o        hai là dành mỗi ngày ít nhất một giờ cầu nguyện trước Thánh Thể (cầu nguyện độc hữu).

      Về lời hứa thứ hai, ngài chia sẻ kinh nghiệm rằng trong những năm đầu đời linh mục ngài dành giờ mỗi ngày với Chúa đó vào sau trưa, nhưng về sau vì nhiều công việc, ngài đưa giờ đó lên ban sáng và ngài dậy sớm hơn một giờ để giữ cho được lời hứa.  

      Ngài quả quyết rằng chính thói quen dành một giờ mỗi ngày này đã cứu ngài trong sứ vụ và chức linh mục. Mỗi khi ngài gặp nguy hiểm muốn rời xa Chúa thì có một bàn tay vô hình đẩy ngài lui với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.  

      Trong nhiều cuộc giảng tĩnh tâm cho các Giám Mục và Linh Mục, ngài đã nhấn mạnh sự cần thiết của thời giờ hằng ngày với Chúa. Nhiều Giám Mục và Linh Mục đã tận dụng kinh nghiệm này và đặt trọng tâm cho đời sống mình theo cách này. 

      Không phải là phương pháp sử dụng, nhưng là chính thời gian bỏ ra và sự cởi mở trọn vẹn với Chúa đã làm phát triển mối liên hệ cá nhân và tình bạn đích thực với Ngài.  

      Chúa Giêsu thực sự hiện diện như lúc Ngài còn ở dưới thế; Ngài muốn trang bị và sai linh mục ra đi trong một đường lối đặc biệt như Ngài sống và trở thành một cái tôi khác của Ngài.  

      Lời cầu nguyện chính là con đường đó. Không có lời cầu nguyện như sự mở ra trọn vẹn với Chúa thì linh mục sẽ giống như con chim không có khí trời và con cá không có nước. 

      Khi chịu chức Phó Tế, Giám Mục hỏi “Con có quyết tâm duy trì và đào sâu tinh thần cầu nguyện thích hợp với đời sống con và nắm giữ việc đòi hỏi con trung thành cử hành Phụng vụ Giờ Kinh cho Giáo Hội và thế giới không?” và Phó Tế thưa “Thưa có”. 

      Chúa luôn cung cấp dồi dào ơn Ngài cho chúng ta trong mọi lúc, và chúng ta không bao giờ thiếu sự trợ giúp của ân sủng Ngài mà chúng ta thủ đắc được qua lời cầu nguyện. 

      Có một sự kết hiệp thiết yếu giữa cầu nguyện và sự thánh thiện. Thánh Gioan Kim Khẩu nói “Không thể sống nhân đức mà không có sự trợ giúp của lời cầu nguyện” và thánh Augustinô kết luận: “Ai biết cầu nguyện cách đúng đắn sẽ biết sống cách đúng đắn.”  

      Lời khuyên bảo và gương sáng của Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó: Ngài đã vào sa mạc, lên núi một mình, Ngài đã trải qua suốt đêm trong nguyện ngắm, năng đến viếng đền thờ, Ngài đã lớn tiếng cầu nguyện mắt ngước lên trời trước sự ngạc nhiên của đám đông, Ngài khẩn nài Chúa Cha trong kêu la và nước mắt, và cuối cùng khi chịu đóng đinh dương cao trên thập giá. 

      Như thế, để bảo toàn xứng đáng phận vụ và ơn kêu gọi của mình, linh mục phải nhiệt thành thường xuyên yêu mến việc cầu nguyện.  

      Hơn bất cứ ai khác, linh mục phải vâng lời Chúa Kitô dạy “phải cầu nguyện luôn luôn” (Lk 18:1) và thánh Phaolô còn thêm: “Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn” (Cl 4:2), “cầu nguyện không ngừng” (1 Th 5:17).  

      Điểm chính yếu là phải dành một khoảng thời gian mỗi ngày để suy ngắm những sự đời đời, vì chính “Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3:6). Vì thế, người ít cầu nguyện hay bỏ cầu nguyện hoàn toàn thì thời giờ bỏ ra và lao nhọc rao giảng sẽ vô hiệu, chẳng ích gì cho mình lẫn cho người nghe.  

      Là linh mục triều, chúng ta cần đào sâu và kết hợp hài hòa cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện liên lĩ để luôn được kết hiệp mật thiết với Chúa. 

      Thánh Carôlô Bôrômêô, (Kinh Sách ngày 4/11) nói:

       “Tôi nhìn nhận rằng tất cả chúng ta đều là những con người yếu đuối, nhưng nếu chúng ta cần được giúp đỡ thì Chúa cho chúng ta phương tiện dễ dàng tìm thấy nó.  

       Một linh mục kia ao ước có một đời sống tốt lành, thánh thiện, tinh tuyền và phản chiếu các nhân đức, như ngài biết mình nên sống như thế. Nhưng ngài tự phản lại chính mình khi không quyết tâm dùng những phương tiện cần thiết như ăn chay, cầu nguyện, tránh những chuyện trò xấu, những giao du nguy hiểm và có hại. 

       Một linh mục khác phàn nàn rằng vừa vào nhà thờ để đọc kinh hay dâng lễ, thì trăm ngàn ý tưởng tràn ngập tâm trí và làm cho lo ra, không hướng về Chúa được. Thử hỏi ngài đã làm gì trong phòng áo trước khi ra đọc kinh hay dâng lễ? Ngài đã chuẩn bị thế nào? Ngài đã dùng những phương thế nào để hồi tâm và để cầm lòng cầm trí? 

        Phải chăng bạn muốn tôi dạy bạn làm sao để tiến tới trên đường nhân đức? Nếu bạn đã cầm trí được khi cầu nguyện và hy vọng lần sau còn cầm trí hơn nữa, như thế việc thờ phượng của bạn sẽ đẹp lòng Chúa hơn? Bạn hãy nghe tôi nói đây: Nếu một chút tình yêu Chúa đã cháy lên trong lòng bạn, bạn đừng vội trương ra trước gió, nó sẽ tàn mất. Bạn hãy giữ lò lửa cho kín, kẻo nó mất sức nóng và nguội đi. Đàng khác, bạn hãy loại bỏ các chia trí. Hãy ở yên với Chúa. Đừng mất thời giờ với những chuyện trò vô ích”  

      ĐGH Gioan Phaolô II, nhân cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Lần Thứ Ba của Các Linh Mục tại Mexicô ngày 7/7/1998, gửi sứ điệp này cho các linh mục:

       “Đối với những khó khăn mà các con phải đối mặt, đừng bao giờ nghi ngờ rằng Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, sẽ là vị cố vấn và trạng sư của các con, Ngài sẽ ban cho các con sức mạnh để vượt thắng mọi trở ngại. Vì thế, các con hãy tiếp tục tin tưởng bám chắc vào quyền năng của Ngài, nghỉ ngơi trong những giờ cầu nguyện thường năng và kéo dài.  

        Lời cầu nguyện thống nhất cuộc sống linh mục vốn năng liều mình bị phân mảnh vì bao nhiêu phận vụ phải gánh vác. Lời cầu nguyện làm cho những gì các con làm trở nên đích thực, vì nó lôi kéo từ trái tim Chúa Kitô những tâm tình tác động công việc của các con.  

        Các con đừng sợ dành thời giờ và nghị lực cho việc cầu nguyện, hãy cố gắng trở nên những con người chuyên cần cầu nguyện, vui thích sự thinh lặng chiêm ngắm, sốt sắng hằng ngày cử hành Thánh Lễ và Kinh Nhật Tụng mà Giáo Hội đã ủy thác cho các con vì lợi ích của toàn thể thân mình Chúa Kitô.

        Lời cầu nguyện của linh mục cũng là một đòi hỏi của sứ vụ mục vụ của ngài, vì các cộng đoàn kitô được trở nên phong phú nhờ chứng tá của các linh mục có tinh thần cầu nguyện và rao giảng mầu nhiệm của Chúa với lời nói và cuộc sống của mình”  
 

 B. LINH MỤC VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

     Thánh Lễ là hình thức cầu nguyện cao nhất của đời sống phượng tự Kitô giáo, và là cái đặc trưng của chức linh mục.

     Thánh Thể là “suối nguồn và tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh”, nên cũng phải là trung tâm đời sống và sứ vụ linh mục của chúng ta, bởi vì có một mối tương quan rất chặt chẽ giữa cử hành Thánh Lễ và rao giảng Đức Kitô. Theo những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm trong bữa Tiệc Ly (x. Lc 22:14-20), khi Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục, để chúng ta tái hiện và cử hành nhân danh con người của Ngài (in persona Christi), đời sống thiêng liêng của chúng ta có thể lớn lên dần dần và dẫn đưa chúng ta tới độ “trở nên và sống như một Kitô Khác trong mọi hoàn cảnh sống” (Bộ Giáo sỹ, Linh mục và Thiên niên kỷ Kitô giáo thứ ba). Và “các sinh hoạt của đời sống hàng ngày của chúng ta sẽ thực sự mang ý nghĩa và chiều kích Thánh Thể” (x. JP. II, Ecclesia de Eucharistia, n. 31).

     Trước hết, việc xét mình tốt (PO. số 18; 1 Cor 11:27-29) sẽ giúp chúng ta ý thức mình bất xứng và phải cậy dựa vào sự trợ giúp của Chúa và cần được Giáo Hội bổ khuyết cho (“Ecclesia supplet”). Điều này giúp chúng ta sống đầy đủ chiều kích Hội Thánh, trong cộng tác và hiệp thông với mọi thành phần của Hội Thánh, là Thân Thể Đức Kitô.

     Thiên Chúa tỏ lộ mầu nhiệm ý định của Ngài trong phụng vụ Lời Chúa, mà chúng ta phải biết liên kết với các thực tại của cuộc sống, ngõ hầu được sống và biến đổi bởi chính Lời ấy. Chúng ta phải công bố Lời Chúa và Thánh Ý Chúa mà chúng ta đã tin và đang sống. Nhờ đó, tín hữu cũng được thúc đẩy suy gẫm và hành động cách thích đáng, đồng thời được biến đổi và hoán cải. 

     Hướng tới sứ vụ và đời sống linh mục, anh em quyết tâm tự nguyện nhận lấy quà tặng quí giá chức linh mục, trong niềm hăng say, hạnh phúc và biết ơn. Và sau này, cho dù không tránh khỏi khó khăn và thập giá, nếu cho chọn lại, anh em chắc chắn vẫn sẵn sàng thưa “xin vâng”, đôi khi chậm rãi, nhưng với ý thức và bình an.

     Khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu cần đến 5 chiếc bánh và hai con cá của các môn đệ. Ngày nay Ngài cũng cần đến phần cộng tác ít ỏi và nhỏ bé của bản thân chúng ta. Chúng ta sẽ cố gắng luôn sẵn sàng cho Ngài.

     Như đã làm trong bữa tiệc ly với bánh, Chúa Giêsu cũng cầm lấy chúng ta và chúc phúc cho chúng ta, khi Chúa kêu gọi và tuyển chọn chúng ta giữa nhiều người khác tốt hơn chúng ta. Chúng ta phải tạ ơn Chúa và có lẽ phải hét lên vui mừng và hạnh phúc, vì tình yêu vô điều kiện Chúa dành cho chúng ta, và vì may mắn của chúng ta (được chọn dù không tốt hơn những người khác).

     Ước gì chúng ta không bao giờ sợ bị cầm lấy và chúc phúc như thế, bởi Chúa và bởi đoàn chiên được trao phó cho chúng ta chăm sóc mục vụ, kể cả qua những gánh nặng, những khó khăn trong đời sống và sứ vụ linh mục của chúng ta. 

     Để luôn trung thành giữ lời cam kết với Chúa và với Hội Thánh, đôi khi chúng ta cảm thấy đời sống và con tim bị bẻ ra vì hiểu lầm và đau khổ, vì sự cô đơn và những chiến đấu nội tâm chống lại những ước muốn nhân loại và các cơn cám dỗ từ bên ngoài.

     Chúng ta biết rằng thân xác nhân loại yếu hèn của chúng ta được quyền năng Chúa làm cho trở nên một thân xác thánh thể như thân xác Chúa Giêsu (bị bẻ ra và trao cho người ta ăn). Chớ gì chúng ta luôn hiểu ý nghĩa của đời sống bị bẻ ra vì Thiên Chúa và vì tha nhân.

     Như tấm bánh bị bẻ ra, chúng ta phải được trao ban và bị ăn bởi Dân Chúa, đoàn chiên của chúng ta, như cha Chevrier nói "linh mục là người bị ăn".

     Ý thức rằng chúng ta không dám tự nộp mình cho đến chết như Chúa Giêsu, nhưng chúng ta sẵn sàng hiến tặng thời giờ, của cải, sức khỏe, ước muốn, hạnh phúc, niềm vui, cả những đau khổ và buồn phiền …. Tất cả những thứ đó cũng là cuộc sống và chính con người của chúng ta vậy.

     Máu các thánh tử đạo đổ ra vì Chúa và vì Nước Trời chỉ có một lần thôi. Máu của chúng ta đổ ra cách này hay cách khác, mỗi ngày, từng giọt một, qua trách nhiệm và bổn phận của chúng ta: “Một lúc đổ cả máu đào, hay từng giọt một đằng nào công hơn?” Và như Thánh Phaolô, mỗi ngày, chúng ta bổ khuyết nơi thân xác chúng ta phần còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn cứu thế của Chúa Giêsu. 

     Bánh và rượu dâng lên sẽ được sức mạnh của Chúa biến thành Mình và Máu Chúa Kitô. Nếu chúng ta dâng chính mình, những cảm nghĩ và tình yêu, những vấn đề, những băn khoăn lo lắng, đau khổ và hạnh phúc... thì sức mạnh của Chúa cũng sẽ biến đổi chúng thành những gì tốt đẹp hơn, hữu ích hơn cho chúng ta và đoàn chiên của chúng ta.

     Đặc biệt, nếu chúng ta dâng những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, Chúa sẽ tha thứ, biến đổi và thánh hoá chúng ta, bởi vì với Chúa, chẳng có tội gì quá nặng đến đỗi Chúa không thể tha thứ được! 

     Trong việc cử hành Thánh Thể, sự hợp nhất của Nhiệm Thể Chúa Kitô được diễn tả cách rõ ràng nhất. Chén chúc tụng mà chúng ta chia sẻ là Máu Chúa Kitô, lưu chuyển trong Giáo Hội, mang lại sự sống thần linh. Bánh mà chúng ta bẻ ra là Mình Chúa Kitô, được hiến dâng vì phần rỗi của mỗi chi thể. Chúng ta thật hạnh phúc được dâng Thánh Lễ, nhờ đó chúng ta không ngừng nhận được sự sống và hiệp nhất. Cử hành và lãnh nhận Thánh Thể là hiệp nhất với Giáo Hội trên khắp thế giới. Nhờ Thánh Thể mà mọi người được qui tụ lại trong một ngôi nhà đức tin. Sự hiệp nhất này là nguồn mạch và bằng chứng hữu hiệu cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh (x. JP.II, Ecclesia de Eucharistia, số 34-36).

     Nhờ việc cử hành thánh lễ mỗi ngày, chúng ta sẽ “hiểu hơn sức mạnh biến đổi của Bí tích Thánh Thể và tìm thấy nơi mầu nhiệm này sự can đảm và nguồn sức mạnh đi theo Chúa Giêsu và phục vụ Ngài nơi tha nhân.

     Chúng ta sẽ kín múc dồi dào nguồn sức mạnh này từ Bí tích Thánh Thể, được cử hành trong thánh lễ mỗi ngày và được thờ phượng nơi Nhà Chầu mỗi khi đến viếng Mình Thánh Chúa (x. JP. II, Ecclesia de Eucharistia, số 1), như chính Chúa Giêsu mời gọi “hãy đến với Ta, hỡi những ai đang vất vả và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho các ngươi” (Mt 11:28). 

     Chúa Giêsu Thánh Thể sẽ nạp lại năng lượng và tăng thêm nhiệt huyết tông đồ cho chúng ta, bằng việc tiếp tục kích hoạt ngày sống và đổ đầy chúng ta với niềm hy vọng vững chắc.

     Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ thường hằng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đỡ nâng hành trình của chúng ta tiến về hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Đây là thứ tình yêu vượt thắng tình yêu nhân loại của trái tim con người.

     Chính nơi Nhà Tạm mà ta phục hồi và nạp thêm năng lượng cho đời sống thiêng liêng và sứ vụ linh mục, như Chúa Giêsu mời gọi (x. Mt.11:28). Ai trong chúng ta đã không có hơn một lần trải nghiệm những gánh nặng mục vụ và những trăn trở cá nhân? Thánh Phêrô khuyên: “Trong khi cầu nguyện, anh em hãy trao trút nỗi lòng anh em cho Chúa, vì Ngài hằng thương yêu chăm sóc đến anh em” (1 Pr 5:7).

Đó cũng là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II đã mở ra “Năm Thánh Thể” với ước mong rằng Hội Thánh được “khởi đầu lại từ Chúa Kitô.” Ngài chia sẻ với cảm xúc sâu xa chứng tá đức tin của chính ngài nơi Bí Tích Thánh Thể như là phương tiện đồng hành và tăng sức mạnh (x. John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, số 59). 
 
 
 
 Sáng 4/12/2007

“Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy. Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông Aharon đã được gọi. Cũng vậy, không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê. Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Hb 5: 1-9).

 

LINH MỤC VỚI QUYỀN BÍNH VÀ VÂNG LỜI

A. QuyỀn Bính

     Ngày nay vấn đề quyền bính lắm khi gây đau đớn và chia rẽ trong Giáo Hội. Quyền bính của chính Chúa Giêsu cũng đã bị đặt thành vấn đề: "Do quyền bính nào mà ông làm những việc ấy? Ai cho ông quyền đó?" (Mt 21:23). Dưới chân thập giá, các thủ lãnh chế nhạo Chúa Giêsu: "Nó cứu được người khác; hãy để nó tự cứu lấy mình, nếu nó là Đấng Kitô của Thiên Chúa, Kẻ Ngài Tuyển Chọn!" (Lk 23:35). Binh lính cũng chế nhạo quyền bính Ngài: "Nếu ông là vua dân Dothái, hãy cứu lấy mình đi!" (Lk 23:37).

     Thách đố ấy ngày nay vẫn tiếp diễn. Quyền bính của các Tông đồ và những người kế vị tiếp tục bị thách đố. Nhiều cá nhân tự phụ giải thích quan điểm và ý kiến của mình như qui phạm, lại đặt thành vấn đề giáo huấn và kỷ luật của Giáo Hội.

     Nguồn gốc quyền bính cũng bị lẫn lộn. Người ta đi tìm những kiểu mẫu mới của quyền bính, như minh tinh màn bạc, cầu thủ bóng đá, tiểu thuyết gia, nghệ sĩ dân nhạc… Quá nhiều người rập khuôn cách “nô lệ” lối sống của mình theo gương các "ngôi sao" ấy. Có một số người đưa ra mẫu linh mục mới phải có ba bằng (lái xe, vi tính, ngoại ngữ). Quyền bính đã không được nhìn đúng theo ý nghĩa và mục đích của nó.

     Việc đặt thành vấn đề quyền bính của Giáo Hội phải được nhìn trong một bối cảnh rộng lớn hơn và tích cực hơn. Giáo Hội nhìn nhận nhu cầu phải kiểm điểm chính mình. Câu Ecclesia semper reformanda rõ ràng kêu gọi một cái nhìn thẳng thắn, thường xuyên và triệt để, về quyền bính mà Giáo Hội đang thực thi.

     Tuy nhiên, việc kiểm điểm đó sẽ không thành công, nếu nó chỉ được giới hạn vào các nguyên tắc tâm lý hay xã hội của loài người. Mọi quyền bính trong Giáo Hội đều bắt nguồn từ Chúa Giêsu. Do đó, để xem xét quyền bính, chúng ta phải quay trở lại với Ngài, Đấng cai trị từ Thập giá. Ánh sáng của thập giá Chúa Kitô phải soi sáng mầu nhiệm quyền bính của Giáo Hội.

     Bản chất quyền bính của Chúa Giêsu đã bị hiểu sai, thì bản chất quyền bính của Giáo Hội cũng sẽ bị hiểu lầm. Một số người coi quyền bính của Giáo Hội chỉ là một phương tiện để duy trì giáo thuyết và trật tự. Số khác lại coi quyền bính như một áp đặt bất công ý muốn của các lãnh đạo lên các thành viên của mình. Họ chỉ ra những lạm dụng quyền bính của Giáo Hội - một số lạm dụng có thật, một số được tưởng tượng ra - và kêu gọi Giáo Hội phải có một đường lối lãnh đạo cho phép một quyền hành rộng rãi hơn trong mọi lãnh vực của đời sống Giáo Hội. Cả hai quan điểm đều thiếu sót và sai lầm khi coi quyền bính như không thích hợp và đặt thành vấn đề mọi quyền bính hiện hữu trong Giáo Hội.

     Ngược lại, chúng ta xác tín rằng có quyền bính ở trong Giáo Hội và nó phải được thực thi. "Quyền bính xuất phát từ quyền điều khiển Giáo Hội được Chúa Kitô ủy thác cho các Tông đồ và những người kế vị" (Daniélou, Why the Church? Chicago, Franciscan Herald, 1974). 

     Mục đích quyền bính Giáo Hội, được mạc khải và tuôn đổ xuống trên Giáo Hội từ nơi Thập giá là để thiết lập vương quốc tình thương cứu độ. Tình thương cứu độ không che đậy tội lỗi, nhưng phơi bày tội lỗi như nó hủy diệt phẩm giá con người và tình thương. Tình thương cứu độ đó dùng sức mạnh của Chúa để chiến thắng tội lỗi.

     Quyền bính được trao ban cho Giáo Hội là để rao giảng, thanh tẩy, tha tội và qui tụ những ai được tái sinh bởi nước và Thánh Thần quanh bàn tiệc Hy Tế của Chúa (x. Mk 16:15-16).

Chúng ta trăn trở làm cho Giáo Hội được lớn lên, mạnh mẽ và hiệp nhất hơn. Và ngày nay, quyền bính và sự hiệp nhất của Giáo Hội Địa phương được diễn tả qua nhiều vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là Giám Mục Bản Quyền: Ngài không chỉ là đầu, mà là con tim của giáo phận, tất cả đều qui về Giám Mục và tất cả quyền bính đều phát ra từ Giám Mục, đến đỗi “linh mục không thể làm gì mà không có Giám Mục”. Tất cả mọi luật lệ và áp dụng của quyền bính Giáo Hội phải được nhìn trong ánh sáng của mục đích ấy, mà chúng ta chỉ có thể hiểu được ở dưới chân thập giá.

     Thập giá quan trọng biết bao cho chúng ta là những người thực thi quyền bính. Không bao giờ chúng ta được rời khỏi thập giá, nếu muốn hiểu và thực hiện tốt quyền bính.

     Mỗi quyết định của chúng ta phải được thực hiện với Chúa Giêsu chịu đóng đinh ở trước mắt. Thập giá của Ngài phải được nổi bật lên trong tất cả những gì chúng ta làm. Thập giá phải là thước đo mức độ tận hiến của chúng ta và cách chúng ta đối xử với người khác. Thập giá phải là dấu hiệu tình yêu đối với Chúa mà chúng ta biểu lộ qua lòng nhiệt thành, sẵn sàng cho đi tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là, trong khi giáo huấn, thánh hóa và dẫn dắt giáo dân.  

B. Vâng LỜi

     Trong ba lời khuyên Phúc Âm, Vâng Lời là nền tảng và khó nhất. Nhờ vâng lời triệt để trong mọi sự có liên quan, nguời sống đời độc thân thánh hiến mới có thể giữ được hữu hiệu đức khó nghèo và khiết tịnh.

     Mai kia trong lúc chịu chức, anh em qùy trước mặt Giám Mục Bản Quyền, đặt tay anh em trong tay Ngài. Nhân danh Giáo Hội, Ngài hỏi anh em: "Con có hứa kính trọng và vâng phục Cha và người kế vị cha không?" và anh em sẽ trả lời: "Thưa con hứa."

     Đừng quên thời khắc ân sủng ấy. Đó là một sự cam kết với Chúa và với Giáo Hội, cho một tương lai vô định (được sai tới nơi mình không muốn, ở với người mình không ưa, làm việc mình không thích). Đó là tiếng “Xin Vâng” của chúng ta trong mọi sự mà Chúa và Giáo Hội đòi hỏi.

     Chúng ta cam kết vâng lời Giám Mục Bản Quyền và những người kế vị Ngài, mà chẳng biết cái gì các ngài sẽ yêu cầu chúng ta. Như Mẹ Maria, lòng vâng phục của chúng ta được xây dựng trên đức tin và chấp nhận Lời Chúa trong cuộc sống. Nó cũng được xây dựng trong sự tin tưởng, phó thác vào ơn nâng đỡ của Chúa, tín nhiệm vào Giáo Hội, vì Giáo Hội đã nhận lãnh sứ vụ và quyền bính từ Chúa Kitô.

     Trong cuộc sống trải dài, có khi chúng ta kinh ngạc, có khi hân hoan, có khi lo buồn về những gì mà Giáo Hội đòi hỏi chúng ta. Khi gặp thử thách lớn lao, khi phải đối mặt với những vấn đề và thách đố mà chúng ta chẳng bao giờ nghĩ đến, lắm lúc chúng ta tự hỏi: “Có phải Chúa đòi hỏi, và trao cho chúng ta những gánh quá nặng như vậy bắt phải vác không?

     Sự vâng phục đòi hỏi anh em cái gì nhiều hơn là xác định ở đâu và khi nào sẽ thi hành sứ vụ. Anh em không tự quyết định lấy sứ vụ của mình, song anh em sẽ được sai đi.

     Trong sự vâng lời, không thể tránh khỏi thập giá: Chết cho chính mình khó khăn dường nào!, vì không phải chỉ trong chốc lát, song trong từng phút giây của cuộc sống mỗi ngày.

     Chúng ta cần tiếp tục đào sâu và làm mới lại cái nhìn về bản chất của sự vâng lời mà Chúa và Giáo Hội đòi hỏi. Giáo Hội, Thân Thể Chúa Kitô, sống trong sự vâng lời Chúa Kitô, Đầu của Thân Thể, như Công đồng Vaticanô II dạy (x. LG 7; Eph 5:23-24).

     Và trong sự vâng lời, chúng ta tham dự đầy đủ vào công việc cứu thế đã được mạc khải và kiện toàn trong Chúa Kitô. Chúng ta có nhiệm vụ kéo dài sứ mệnh của Chúa Kitô, trong đức tin vâng phục, và sự quen thuộc sâu xa với đường lối của Chúa.

     Để kiện toàn sứ mệnh, chúng ta được mời gọi dõi bước theo cùng một con đường Chúa Kitô đã đi qua. Con đường đó dẫn đến thập giá, không thể tránh được. Dù vậy, chúng ta phải gắn bó với Giáo Hội trong tình thảo hiếu và vâng lời. Vâng lời đòi hỏi can đảm tuân giữ kỷ luật Giáo Hội, và thích ứng với những yêu sách đặc biệt.

     Chúng ta cảm kích nhìn thấy nhiều linh mục vui lòng đảm nhận những trạch cử và nhiệm vụ khó khăn, không phải do họ chọn chúng, nhưng đơn giản do Giáo Hội đòi hỏi họ làm như vậy. Chúng ta nghĩ đến những linh mục sẵn sàng rời bỏ những nhiệm sở rất thoải mái và tiện nghi, để bắt đầu làm việc trong những giáo xứ nghèo nàn. Chúng ta nghĩ đến những linh mục sẽ đảm trách những phận vụ bạc bẻo trong Giáo phận, không phải hy vọng một phần thưởng nào đó, nhưng đơn giản chỉ vì đó là công việc của Chúa và của Giáo Hội. Chúng ta nghĩ đến những linh mục sẵn lòng nói sự thật Phúc Âm cho những kẻ mình phục vụ, mà không để mình bị tê liệt vì sợ làm như vậy người ta sẽ không ưa mình.

     Nhưng sự vâng lời mà Giáo Hội đòi hỏi chúng ta đi xa hơn và tóm tắt lại trong câu sentire cum Ecclesia tức là cùng cảm thông với Giáo Hội.

     Cảm thông với Giáo Hội đi xa hơn việc chấp nhận cách máy móc các công thức đức tin hay các khoản Giáo luật. Cảm thông với Giáo Hội là có mối thiện cảm sâu xa và trung thành với giáo huấn, phượng tự và sứ vụ của Giáo Hội. Truyền thống và quan niệm hiện hành của Giáo Hội phải được thấm sâu vào cuộc sống chúng ta, như chúng ta tuyên bố trong khi tuyên xưng đức tin trước ngày lãnh chức linh mục.

     Vâng lời như thế loại bỏ đầu óc vụ hình thức vô bổ, nhưng dẫn đến một sự sống được lớn lên trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô, đến đỗi thánh Phaolô nói: “Không còn phải là tôi sống nữa, nhưng Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal 2:20).

     Vâng lời đòi hỏi sự sẵn lòng để ra một bên mọi sự, vì tình yêu Chúa Kitô và Giáo Hội. Vâng lời không phải là nhu nhược và nhát gan đến phát sợ mà phải từ bỏ ý nghĩ và các lý do tốt nhất của mình.

     Đúng vậy, Đấng Bản Quyền luôn đáng được nghe ý kiến tốt nhất và những thỉnh nguyện đã được suy nghĩ chín chắn của chúng ta. Ngài có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận chúng. Nhưng chúng ta an tâm biết rằng Ngài có một ơn phân định đặc biệt của Chúa Thánh Thần, ơn đoàn sủng mà chúng ta không có. Chúng ta được mời gọi tận tâm vâng lời, nói lên sự thật như chúng ta nhận thấy, và luôn sẵn sàng vâng lời, dù có trái ý chúng ta. Đó là thực sự cảm thông với Giáo Hội. 

     Với Vaticanô II, không còn “vâng lời tối mặt”; nhưng “vâng lời đối thoại” hay “vâng lời trưởng thành”, nghĩa là chúng ta được trình bày với Đấng Bản Quyền hết sự thật những gì chúng ta nhận thấy và suy nghĩ, với đầy đủ lý do và ước nguyện, có khi trái ý Ngài, nhưng lời nói cuối cùng thuộc về Ngài, và chúng ta phải vâng lời quyết định cuối cùng đó với tinh thần siêu nhiên.

     Là người của Chúa và của Giáo Hội, chúng ta tránh những hình thức liên minh gây áp lực hay chống đối Đấng Bản Quyền, hoặc khi không được như ý thì thụ động tiêu cực và xa lánh (“kính nhi viễn chi”). Chúng ta biết rằng Ngài có quyền quyết định trái với ý của tất cả chúng ta, nhưng chính Ngài chịu trách nhiệm và trả lời với Chúa. Đó là thực sự cảm thông với Giáo Hội.

     Điều đáng e ngại là có thể một số Vị “quá sính quyền bính” không dễ dàng lắng nghe và cho bề dưới cơ hội đối thoại hay giải thích!

     Nhưng đi cho tới cùng, vâng lời đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta: trí khôn, con tim, ý muốn, đời sống: nhượng bộ mọi sự cho Chúa, coi vâng lời như diễn tả trọn vẹn sự lệ thuộc vào Chúa và Giáo Hội.

     Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và tâm thức do các cơ cấu xã hội, chính trị và tôn giáo. Chẳng hạn, vì bị ảnh hưởng của Khổng giáo, của chế độ phong kiến và thực dân, của các cơ cấu phẩm trật và gia trưởng, chúng ta lắm khi phải đương đầu với những thách đố và chiến đấu trăn trở về tự do và phục tùng với bộ ba “quyền phục, lý phục và tâm phục hay tâm bất phục” Và trong những trạng huống bức xúc có thể “tức nước vỡ bờ” vì “vâng mà không phục” đó, chúng ta được khuyên “đào sâu lòng sông và khơi dòng cho nước chảy”.

     Nhưng với đức tin mạnh mẽ và đâm rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc, đặt trọng tâm vào Chúa Giêsu, vào Phúc Âm, vào Giáo Hội và các linh hồn, cầu nguyện và biện phân dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ vâng lời cách sẵn lòng và siêu nhiên các vị lãnh đạo và cơ cấu Giáo Hội, không phải như những con người và cơ cấu nhân loại, nhưng là Ý Chúa ở trong và qua những con người và cơ cấu này.

     Lạy Chúa, con xin dâng tư tưởng của con cho Chúa, để chúng luôn hướng về Chúa; để lời nói của con có Chúa làm đề tài; để việc làm của con phản ánh tình yêu của con cho Chúa; để đau khổ của con được chịu đựng cho vinh danh Chúa hơn. Con muốn làm những gì Chúa xin con, cách nào và bao lâu Chúa muốn ở con.  

     Xin Chúa soi sáng trí khôn con, đốt nóng ý chí con, thanh tẩy trái tim con và thánh hóa linh hồn con. Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy tất cả tự do của con, ký ức của con, trí hiểu của con, trọn vẹn ý muốn của con, tất cả những gì con có và sở hữu. Chúa đã cho con mọi sự. Và mọi sự là của Chúa, xin hãy sử dụng như ý Chúa muốn. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa, và như thế đã đủ cho con.

     Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin hãy đến trợ giúp con, và cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần tiếp tục cho đến hoàn thành những gì Chúa đã khởi sự với con và cho con. Amen. 

Tài liệu được sử dụng:

      Franz-Josef Eilers svd, Priestly Spirituality, Logos (Divine Word) Publications, Inc., 1999.

      Đại Chủng Viện Xuân Bích Huế, Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới (Văn kiện Hội Nghị Seoul về Đào Tạo Linh Mục) 2000.

      Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss, Đứng Gần Thập Giá, Tòa Giám Mục Bùi Chu, 2007; Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, Đại Chủng Viện Huế 2006. 


 ThẬp lỤc mỤc tỬ

(Tên của 16 tân linh mục)

 

         Ngày lễ Đức Mẹ Phú Nhai

         Hai nghìn lẻ bảy, thêm hai dịp mừng

         Một mừng năm thánh Mẹ Hiền

         Hai mừng thập lục chủ chiên ra ràng.  

 

         Toan liền quyết định xếp hàng

 

         Tính thêm một bước hiên ngang lên thềm

 

         QuyẾt lòng vâng phục Bề trên

 

         Phong thêm chức thánh tiến lên bàn thờ

 

         TrIỆu ơn ban xuống như mơ

 

         LưỢng tình tha thứ kiếp nhơ tội hèn

 

         ĐưỜng hẹp, mọi người bon chen

 

         Huân chương Chúa thưởng tặng khen muôn vàn

 

         Vinh quang sẽ hưởng tràn lan

 

         MẠnh dạn ban phát phúc ân cho người

 

         Đang phải bon chen giữa đời

 

         ĐẠt được phần thưởng Nước Trời trung trinh

 

         BỘt nhào nên bánh hy sinh

 

         Hán tự sắp xếp thành kinh nguyện cầu

         Nghinh ra đón Chúa nhiệm mầu

 

         KhẨn nài được phúc về chầu Chúa Cha. 

Hoang Ngôn

Tác giả: Lm. Trần Minh Huy, pss

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!