Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
  Tủ Sách - Chủ Đề
  Suy Tư - Chiêm Niệm
  Văn Hóa - Xã Hội
  Y Tế - Giáo Dục
Mục Lục

Chương I: Hội chứng tự kỷ

Chương II : Những sinh hoạt chính yếu của con người

Chương III : Trí Thông Minh Xã Hội

Chương IV : Những Cơ Sở Thần Kinh của Trí Thông Minh Xã Hội

Chương V: Bẩm Sinh và Môi Trường Giáo Dục

Chương VI : Hai bộ mặt « Bóng tối và Ánh sáng »…trong mỗi quan hệ đối tác xã hội

Lời Nói Cuối : Tư Duy Cấu Trúc trong lãnh vực Giáo dục

Phụ Trương I : Xây dựng Quan Hệ Đồng Cảm và Bao Dung với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ

Phụ Trương II: Những bài học từ dễ đến khó Trong Chương Trình CAN THIỆP SỚM

Phụ Trương III: Phát Huy « Tư Duy không lời » nơi trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ…

Phụ Trương IV: Để giúp trẻ em có « nguy cơ Tự Kỷ » sử dụng và phát huy Ngôn Ngữ

Phụ trương V : Bốn con “Yêu Tinh”… Trên mọi nẻo đường của Đất Nước

Phụ Trương VI : Xây dựng lòng tự tin nơi con cái dưới 6 tuổi

Phụ Trương VII : Tâm sự của Ông Lái Đò…

Thay lời kết luận

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Phát Huy Quan Hệ Xã Hội Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ
Tác giả: Gs. Nguyễn Văn Thành
CHƯƠNG VI : HAI BỘ MẶT « BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG »…TRONG MỖI QUAN HỆ ĐỐI TÁC XÃ HỘI

Mỗi lần chúng ta thiết lập những quan hệ tiếp xúc và trao đổi, với những người đang cùng chung sống trong môi trường xã hội, chúng ta vận dụng cùng một lúc nhiều loại sinh hoạt khác nhau, như : Tư duy và xúc động, các giác quan, cũng như ngôn ngữ có lời và không lời.

Duy ngôn ngữ không lời đã có thể bao gồm nhiều yếu tố và phương diện như cử chỉ, điệu bộ, giọng nói chói chang, nét mặt nhăn nhó, hay là hành vi khách quan, lăng xăng, vọng đọng bên ngoài…

Chính vì lý do nầy, theo tác giả P. WATZLAWICK, câm lặng, từ chối không trao đổi, sống bít kín trong những pháo đài tự vệ và dồn nén… cũng là những hình thức nhắn gởi, trao đổi, che giấu ở bên dưới một hay nhiều ý hướng khác nhau, tuy dù chưa được nhận diện và đối diện, dưới ánh sáng của lý trí và ý thức.

Hẳn thực, trong mỗi quan hệ tương tác, chúng ta cần khảo sát ít  nhất ba thành tố khác nhau :

-         Thứ nhất là người gửi tin,

-         Thứ hai là người nhận tin,

-         Thứ ba là bản tin, bao gồm nhiều hình thức, tầng lớp, nội dung hay là nhiều tần số khác nhau.

Thêm vào đó, chính chủ thể đưa tin, cũng chưa hẳn có ý thức về tất cả mọi động lực khác nhau đang chi phối những sinh hoạt của mình.

Trong khi ấy, chủ thể nhận tin cũng có thể sử dụng nhiều cơ chế như bóp méo, sàng lọc, xuyên tạc hay là tổng quát hóa một số chi tiết, tùy vào điều kiện tâm lý và thể lý của mình.

Bao nhiêu quan hệ xung đột, tranh chấp, ngộ nhận… hay là những hiện tượng « ông nói gà, bà nói vịt », giữa người với người, thậm chí giữa vợ và chồng, hay là giữa cha mẹ và con cái… đều xuất phát từ tình trạng đa phức và hỗn tạp ấy. Hẳn thực, ánh sáng và bóng tối luôn luôn có mặt và hòa trộn vào nhau, trong cuộc sống làm  người, nhất là trong lãnh vực quan hệ xã hội. Chính lúc người cha mẹ đang sung sướng, âu yếm nhìn ngắm đưa con vừa mới sinh ra của mình…mầm móng khổ đau cũng có thể đã len lỏi nằm vùng trong nội tâm, hay là xuất đầu lộ diện dưới nhiều hình thức trá ngụy.

Nhằm giúp người cha mẹ và giáo viên ý thức, để vượt qua những tâm trạng mâu thuẫn và lưỡng năng ấy, khi tiếp xúc với con cái và trẻ em, chương nầy sẻ nầy sẽ lần lượt trình bày những điểm quan trọng sau đây :

-         1.- Ba nhân vật đang có mặt, trong những  quan hệ trao đổi và tiếp xúc giữa chúng ta và người khác. Và mỗi nhân vật lại có thể trình bày một trong bốn bộ mặt khác nhau.

-         2.- Ở bên dưới những hành vi khách quan được quan sát và ghi nhận từ ngoài, một hay nhiều xúc động đang tác yêu tác quái, dưới nhiều hình thức được ngụy trang. Bao lâu không tìm cách gọi ra ngoài những xúc động ấy, để nhận diện và đối diện, chúng ta chưa diễn tả và thực hiện con người đích thực của mình. Cũng do đó, chúng ta không thể tạo điều kiện thuận lợi, nhằm giúp đỡ kẻ khác cùng làm người với chúng ta.

-         3.- Trong những điều kiện sinh hoạt như vậy, khoa học tâm lý và sư phạm có thể cung ứng những loại kỹ thuật nào, nhằm giải tỏa những gì đang còn bị bế tắc hay là dồn nén, trong nội tâm và con người của chúng ta ? Không có khả năng giải thoát chính mình, làm sao chúng ta có thể trở nên « một bến đậu an toàn » cho trẻ em, trên con đường học làm người, nhất là khi các em đang có những rối loạn, thuộc hội chứng tự kỷ.

                                                     ***

1.- Ba nhân vật trong con người của chúng ta

Thể theo Phương pháp « Phân Tích những quan hệ đối tác » (Transactional Analysis) của Eric BERNE, mỗi lần chúng ta tiếp xúc và trao đổi với kẻ khác, trong bất kỳ hoàn cảnh và sinh hoạt nào, chúng ta có thể khoác vào mình một trong 3 nhân vật :

-         Nhân vật thứ nhất được tác giả gọi tên là người Cha Mẹ (Viết tắt và viết hoa là CM),

-         Nhân vật Thứ hai là người Trưởng Thành (TT).

-         Nhân vật thứ ba là người Trẻ Em (TE).

Mỗi nhân vật trên đây, tùy vào những nhu cầu khác nhau của sinh hoạt hiện tại, xuất đầu lộ diện dưới 4 bộ mặt khác nhau. Hai bộ mặt đầu được Eric BERNE đánh giá là tích cực, năng động. Hai bộ mặt sau có tính cách tiêu cực và tê liệt.

Sau đây là 4 bộ mặt của người làm Cha Mẹ :

1)  CM+ : Người Cha Mẹ sáng soi và hướng dẫn,

2)  CM+ : Người Cha Mẹ nâng đỡ, tạo an toàn,

3)  CM-  : Người Cha Mẹ độc tài, điều khiển tất cả,

4)  CM-  : Người Cha Mẹ bao che từ đầu chí cuối, hay là làm thay, làm thế tất cả.

Người Trưởng Thành cũng có 4 bộ mặt khác nhau :

1)  TT+ : Người Trưởng Thành đồng cảm, có khả năng chia sẻ lối nhìn và xúc động với những người sống hai bên cạnh,

2)  TT+ : Người Trưởng Thành đồng hành, không những có khả năng phát biểu, đóng góp ý kiến của mình về một vấn đề, còn dấn thân nhập cuộc, bắt tay vào công việc với bạn bè, để thực hiện những chương trình đã được phác họa với nhau.

3)  TT- : Người Trưởng Thành với những thái độ : -Tao Hơn, Mày Thua, - Tao Đúng, Mày Sai, - Tao Tốt, Mày Xấu.

4)  TT- : Người Trưởng Thành thu mình trong nếp sống bít kín và xé lẻ.

Tùy vào những năm tháng được cha mẹ nuôi nấng và giáo dục, người Trẻ Em cũng có thể trình bày 4 bộ mặt khác nhau :

1)  TE+ : Người Trẻ Em hiếu kỳ, thích học hỏi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ, thầy cô  sáng soi và hướng dẫn đúng lúc, đúng liều lượng, đúng giai đoạn phát triển, đúng nhu cầu và sở thích.

2)  TE+ : Người Trẻ Em hồn nhiên, yêu đời, hạnh phúc, biết vui đùa và hòa mình với bạn bè cùng lứa tuổi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ lắng nghe, tôn trọng, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi, và nhất là có mặt và biết đồng cảm, vui đùa với con.

3)  TE- : Người Trẻ em Phản Động, nếu cha mẹ quá độc tài, điều khiển từ A đến Z.

4)  TE- : Người Trẻ Em Bị Động và Lệ Thuộc, nếu được cha mẹ phục vụ tối đa và nương chìu quá đáng, bằng cách làm thay và làm thế, trong tất cả mọi vấn đề và lãnh vực.

Xuyên qua lối nhìn của Eric BERNE vừa được trình bày, để có thể nhận định và đánh giá những quan hệ tương tác đang được kết dệt giữa hai người, chúng ta cần khảo sát hai chiều hướng :

-         Trong chiều hướng thứ nhất, người đưa tin đang đóng vai trò của nhân vật nào : CM, TT hay là TE ? Ngược lại, để đáp ứng, nhân vật nào xuất hiện trong người nhận tin ?

-         Trong chiều hướng thứ hai, mục đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới, để thực hiện, trong những quan hệ qua lại hai chiều, phải chăng là đồng hành và đồng cảm, xây dựng và đóng góp cho nhau ? Hay là chúng ta đang khoác vào mình những vai trò đàn áp, ức chế, thậm chí với con cái và những người thân yêu của chúng ta ? Có bao giờ chúng ta biết giật mình, thức tỉnh, để nhận chân được rằng : chính chúng ta đang biến con cái hay là những kẻ đang sống hai bên cạnh, thành những nhân vật phản lọan, chống đối hay là hoàn toàn bị động và lệ thuộc, trong cuộc đời làm người ?

Nhằm bổ túc và kiện toàn lối nhìn của Eric BERNE, trong thể thức đánh giá những quan hệ xã hội, tác giả KARPMAN đề nghị hai loại tam giác :

Tam giác thứ nhất dẫn đưa chúng ta vào vùng tranh chấp, xung đột, hận thù, vong thân và vong bản. Tam giác nầy ở giữa 3 con đường đan chéo vào nhau :

·        Trên con đường số một, tôi hành động như một tên thực dân, luôn luôn mang ý đồ chiếm đất, giành dân, đàn áp và bốc lột, đương khi miệng lưỡi không ngừng hô hào nào là nhân nghĩa đại đồng, nào là công bình, bác ái…

·        Trên con đường số hai, tôi phàn nàn và ta thán, tưởng tượng mình là nạn nhân và mang tâm trạng đầu hàng, buông xuôi, bỏ cuộc, lệ thuộc và bị động.

·        Trên con đường số ba, tôi là chiếc loa phóng thanh, khoác vào mình phần vụ « nói thay, nói thế ». Một cách vô tình hay hữu ý, tôi lấn át tiếng nói của mọi người khác. Rốt cuộc tôi chỉ mang mặt nạ để phát ra một tiếng nói quảng cáo và tuyên truyền.

Tam giác thứ hai bao gồm 3 thái độ làm người biết đồng cảm và đầy lòng bao dung:

·        Thái độ thứ nhất là khám phá giá trị và khả năng của những người đang có những quan hệ tương tác với chúng ta.

·        Thái độ thứ hai là lắng nghe và tôn trọng kẻ khác, cho phép kẻ khác có ý kiến và cách làm KHÁC chúng ta.

·        Thái độ thứ ba là tha thứ, khi kẻ khác sai lầm,  đồng thời giúp họ biến sai lầm thành một bài học cao quí cho mình và cho những người đang chung sống.

 

                                                  ***

2.- Vai trò của Xúc động

Bằng cách nầy hay cách khác, dưới nhiều hình thức trá ngụy, xúc động luôn luôn có mặt, khi hai người bắt đầu thiết lập những quan hệ tiếp xúc và trao đổi với nhau.

Xúc động thường được so sánh như một bản « dự báo thời tiết » của nội tâm : Thời tiết cần được hiểu ở đây là những tâm trạng lo sợ hay buồn phiền, tức giận, bực bội hay là hứng khởi, vui tươi và hạnh phúc…

Theo lối nhìn của tác giả John GRAY, nếu chúng ta biết lắng nghe và coi trọng những « tiếng nói không lời » ấy, chúng ta sẽ dần dần khám phá 5 sứ điệp hay là 5 tầng lớp khác nhau của nội tâm, đang giao thoa chằng chịt và nuôi sống lẫn nhau :

-         Tầng lớp thứ nhất bao gồm những xúc động bực bội, tức giận. Những xúc động nầy có phần vụ nhắn gởi cho những người đang sống chung quanh, một sứ điệp cầu cứu :  « Tôi từ chối, phản đối, vì tôi không được lưu tâm và coi trọng. Có người đang xâm lấn vào lãnh vực sở hữu, cũng như quyền quyết định và chọn lựa của tôi ».

-         Tầng lớp thứ hai bao gồm những xúc động cô đơn, buồn bực, chán nản, thất vọng. Lời kêu cứu ở đây gồm có : « Tôi quá lẻ loi, đơn chiếc… trong cuộc đời. Tôi cần những bàn tay nâng đỡ, những lời nói ủi an, những khuôn mặt hiện diện ».

-         Tầng lớp thứ ba : « Tôi đang lo sợ, bất an và bất ổn, khiếp đảm và kinh hoàng. Ai sẽ nâng đỡ, chỡ che, đùm bọc, bênh vực tôi, trước những hiểm nguy, tai họa đang có mặt ở khắp nơi ? »

-         Tầng lớp thứ bốn : « Tôi đã làm những điều sai trái. Tôi hối hận. Mặc cảm tội lỗi đang đè nặng và nghiền nát tôi. Ai có thể giải thoát tôi khỏi những tù ngục ngột ngạt nầy ? »

-         Tầng lớp thứ năm : « Tôi cần có người lại gần, hiện diện với tôi… để tạo quan hệ yêu thương qua lại hai chiều. Ai có thể mang đến cho tôi hạnh phúc và thứ tha, hiểu biết và đồng cảm ? » 

Nếu một trong năm tầng lớp trên đây bị tổn thương, ức chế, cấm cản, hay là không được đáp ứng và thỏa mãn, toàn bộ đời sống xúc động sẽ dần dần bị khô héo và tê liệt. Hẳn thực, nếu tôi không biết giận, chẳng hạn vì cha mẹ, thầy cô cấm cản hoặc trừng phạt, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ biết được thế nào là yêu, là ghét. Nếu không cảm nghiệm được lo sợ là gì, làm sao tôi hiểu được thế nào là an bình, sung sướng và hạnh phúc ?

Và cứ như vậy, nếu toàn bộ năm tầng lớp xúc động bị tàn lụi và héo úa,  chắc chắn khả năng tư duy của tôi cũng nghèo nàn, cằn cỗi, tàn tạ. Tiếp theo sau, toàn thể thực chất con người của tôi cũng bi suy thoái trầm trọng.

Hẳn thực, không có những xúc động thúc đẩy, tạo hứng khởi, đốt lên ngọn lửa quyết tâm và nhiệt tình, tôi tìm ở đâu đầy đủ nghị lực và năng động, để xác định những hoài bảo hay là chuyển biến mộng mơ thành hiện thực trong cuộc đời ?

Những nhận xét trên đây cũng có thể áp dụng cho mỗi triệu chứng đang có mặt nơi trẻ em có nguy cơ tự kỷ. Sở dĩ em đang sống bít kín, không dám tiếp xúc với một ai, phải chăng vì em đang lo sợ, kinh hoàng ? Nếu chúng ta xô đẩy, ép buộc em phải đi ra, tiếp xúc, học tập…chúng ta chỉ gia trọng những phản ứng khép kín của em. Thay vào đó, với kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng chuyên môn, chúng ta có thể sáng tạo những bài học nào, khả dĩ mang đến cho em, những cảm nghiệm an toàn ?

Em đang thét la, bùng nổ, tấn công những bạn bè hai bên cạnh hay là có những hành vi tự hủy, như cắn mạnh vào tay, hay là đập đầu vào vách tường. Thay vì cấm cản, tại sao chúng ta không tổ chức những trò chơi sư phạm « cho phép em ấy giận một cách khác » ? Làm như vậy là chuyển biến tức giận thành một bài học hữu ích cho cuộc đời.

Khi giam hãm mình suốt ngày trong những trò chơi « lắp ráp, lặp đi lặp lại », phải chăng em đang tìm cách trở lui với những chu kỳ vui thích và thoải mái, khi còn sống trong tử cung của mẹ. Chính lúc ấy, chúng ta có thể mang ra nhiều hình ảnh khác nhau của mẹ, cho em sắp xếp. Hay là chúng ta mở ra một bản nhạc êm dịu và thao tác một vũ điệu, với em, bên cạnh em. Nếu em chấp nhận « nhún nhảy », như chúng ta và với chúng ta, em đã bắt đầu kiến tạo quan hệ qua lại hai chiều. Nói khác đi, em đã NHÌN và bắt chước chúng ta.

Nói tóm lại, ở bên dưới một triệu chúng, chúng ta sẽ tìm gặp một xúc động. Mỗi xúc động ẩn giấu một nhu cầu. Sau khi khám phá nhu cầu, chúng ta sáng tạo những thể thức đáp ứng. Qua những cách làm ấy, chúng ta đang phát huy những quan hệ đồng cảm với trẻ em, và sáng tạo cho em con đường đi ra với thế giới bên ngoài.

Tiến trình dồn nén, ức chế…

Thay vào những bước đi nhón nhén, từ tốn và kiên nhẫn, như vừa được mô tả và phác họa, chúng ta có thể nôn nóng, muốn « ăn nhanh, ăn vội, ăn liền », như trong các tiệm « Mác-đô-nan kiểu Mỹ ». Cho nên, chúng ta không ngần ngại sử dụng những « phương pháp » ức chế, nhồi nhét, áp đặt. Bằng cách nầy hay cách khác, chúng ta ép buộc trẻ em « phải tiến bộ một cách nhanh chóng ». Phải biết nói. Phải tẩy xóa những « rối lọan hành vi ». Phải trở về với « nếp sống bình thường ».

Với bao nhiêu mệnh lệnh « Phải, Cần, Cấm… », chúng ta đã vô tình sản xuất những trẻ em « bị ức chế và dồn nén ».

Theo cách giải thích của tác giả John GRAY, tâm trạng bị dồn nén là kết quả cuối cùng, trong đời sống tương tác xã hội, sau khi chúng ta bị cấm cản, trừng phạt, không có phép làm những gì chúng ta quyết định và chọn lựa.

·        Trong công đoạn thứ nhất, chúng ta không có phép từ chối, nói KHÔNG, không có phép bộc lộ quan điểm bất đồng (Resistance).

·        Trong công đoạn thứ hai, chúng ta không có phép bày tỏ ra ngoài nỗi niềm oán hờn, tức giận (Resentment).

·        Trong công đoạn thứ ba, chúng ta không có phép loại trừ, bỏ đi, cắt đứt (Rejection).

·        Trong công đoạn thứ tư, chúng ta mất hết khả năng khẳng định con người đích thực của chúng ta. Chúng ta trở thành « gỗ đá » hay là « hình thì còn, bụng chết đòi nao ». Lúc bấy giờ, giá trị làm người, lý tưởng, tinh thần trách nhiệm, lòng vị tha…chỉ là những nhãn hiệu hoàn toàn thiếu nội dung (Repression, Inhibition).

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được trình bày, giáo dục có nghĩa là gì, khi chúng ta ép buộc và áp đặt tất cả từ trên và từ ngoài cho trẻ em? Làm người phải chăng là ngày ngày trở nên một chủ thể có khả năng chọn lựa và quyết định một giá trị, một hướng đi, một lý tưởng ? Tuy nhiên, bài học chọn lựa và quyết định nầy được ai dạy và được dạy làm sao, trong môi trường giáo dục và văn hóa của Quê Hương ? 

3.- Diễn tả xúc động là một bài học cần học đi học lại

Để có thể dạy trẻ em thành người, người có trách nhiệm – như cha mẹ trong môi trường gia đình -  hãy bắt đầu học cách diễn tả những xúc động của chính mình, một cách hồn nhiên và thanh thản, bình tỉnh và trực tiếp.

Từ ngày sinh ra đến lúc lên 5 tuổi, trẻ em học tập bằng cách bắt chước, lặp lại, vọng lại hay là phản ảnh những gì đang có mặt trong thái độ, tác phong và ngôn ngữ của cha mẹ, xuyên qua những trò chơi vui nhộn, những câu chuyện bập bẹ và líu lo. Một cách đặc biệt, hai mẹ con là « hai chiếc bình thông đáy ». Cho nên mẹ đầy, thì tự nhiên con đầy. Mẹ vui tươi, hạnh phúc, năng động, thì đứa con  phản ảnh nụ cười của mẹ, nét mặt của mẹ, tâm hồn của mẹ, tính tình dễ thương của mẹ.

Chính vì những lý do vừa được trình bày, sau đây tôi mạo muội giới thiệu một số kỹ thuật nhằm giúp cha mẹ và người giáo viên diễn tả và bộc lộ ra bên ngoài, giữa vùng ánh sáng, tất cả nội tâm của mình, với bao nhiêu thời tiết thay dổi thường xuyên « mai mưa, trưa tạnh, chiều dông… ». Làm được như vậy, họ sẽ có khả năng chuyển hóa những tâm trạng u buồn, trầm cảm, kiệt quệ…thành những quà tặng cho con cái và trẻ em. Phải chăng đó là bài học cao trọng và quí giá, trên tất cả mọi bài học khác ?

Kỹ thuật phản ảnh, khi xúc động vừa chớm nở :

Khi hai vợ chồng hay bạn bè thiết thân đang chuyện trò với nhau, bỗng nhiên một người cảm thấy những phản ứng khó chịu, bất đồng và bất mãn hiện hình trong nội tâm. Chính lúc ấy, kỹ thuật phản ảnh là phương tiện tốt hảo, để hai người trực diện với những quan hệ của mình, một cách thành tâm và can đảm.

Trong thực tế, qua bao nhiêu đời, chúng ta thường đề xuất câu tục ngữ đã được nằm lòng : « Một câu nhịn, chín câu lành ». Kỳ thực, thái độ nhịn nhục ấy đang nung nấu, chờ một nơi khác, một lúc khác, hay là một người khác… để bùng nổ. Một xúc động bị kiểm duyệt và dồn nén, không bao giờ tan biến, Trái lại, khi nội tâm bị ô nhiễm, thể theo định luật của « bình thông đáy », quan hệ giữa hai người sẽ từ từ suy thoái.

Với kỹ thuật phản ảnh, chính thành viên đang cảm nghiệm xúc động, hãy thú nhận và yêu cầu : « Nghe em nói điều ấy, anh thú thật với em là anh bắt đầu bực bội. Anh xin em hãy lắng nghe và phản ảnh, để giúp cho anh nghe lại chính mình ».

Phần Một : Người A dùng sứ điệp Ngôi Thứ Nhất, để diễn tả xúc động của mình. Mỗi lần, lời phát biểu chỉ thu hẹp trong một câu vắn gọn mà thôi.

Người B chỉ phản ảnh, nghĩa là làm tiếng vọng, bằng cách lặp lại y nguyên câu nói của A, thậm chí đại danh từ ngôi thứ nhất, như tôi, em, mình…

Ví dụ :

·        Lời người A : Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.

·        Lời người B phản ảnh : Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.

·        A :Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà, ra đi.

·        B : Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà ra đi.

Phần Hai : Sau độ 5 phút, người A tự nguyện dừng lại, khi cảm thấy tâm linh của mình đã được nuôi dưỡng, tâm hồn của mình đã trở về tình trạng yên nguôi…

Lúc bấy giờ, B nhận làm của mình tất cả nỗi lòng mà A đã diễn tả.

Sau đó, B tóm lược trong vòng 1 phút những tâm tình của A. Và lúc ấy A thành khẩn lắng nghe, không thêm, không bớt, không điều chỉnh.

Sơ đồ tóm lược và phản ảnh của B về A, bao gồm 3 điểm chính yếu sau đây :

·        « Tôi cảm thấy…. » trình bày xúc động của A.

·        « Tôi muốn…Tôi cần… » trình bày nhu cầu và ước vọng của A.

·        « Tôi thương… tôi thích… tôi khen ngợi… » trình bày quan hệ thân thương, tích cực và năng động của A đối với B, trong giây phút ở đây và bây giờ. Tuyết đối không nhắc lại quá khứ. Không áp đặt với những mệnh lệnh có các từ như  « Phải, Nên, Cần, Cấm, Không được… ».

Phần Ba : B diễn tả xúc động của mình.  A bây giờ làm công việc phản ảnh và vọng lại, để cho B nghe lại chính mình.

Phần Bốn : A sở hữu hóa và tóm lược xúc động của B.

Kỹ thuật nầy được so sánh như một món ăn lạ. Lúc ban đầu, nó không mang lại những kết quả tức khắc. Nhưng dần dần, nó sẽ trở nên một món ăn có khả năng bồi dưỡng và đổi mới những quan hệ đối tác xã hội của chúng ta.

Thực ra, điều quan trọng không phải là hình thức, nhưng là tinh thần và ý hướng của kỹ thuật. Tuy nhiên, trong điều kiện và thân phận làm người, phải có hình thức mới có tinh thần. Trí Thông Minh Xã Hội và cơ sở Não Bộ quyện sát vào nhau, cần nhau và phát huy nhau.

 Kỹ thuật « Tức giận với chính mình »

Trong cuộc sống, rất nhiều lúc, chúng ta tức giận với chính mình. Thậm chí, sau khi đã tức giận với người khác, chúng ta quay lại tức giận với chính mình. Từ đó, chúng ta trở nên trầm cảm, kiệt quệ, vì nhiều mặc cảm tội lỗi đang từ từ xói mòn mọi sức sống vươn lên của chúng ta.

Sở dĩ như vậy, vì theo lối nhìn của tâm lý đương đại, chúng ta khởi đầu một tiến trình, và rồi không có khả năng hay là không biết phải kết thúc bằng cách nào.

Hẳn thực, phần vụ tích cực và năng động của tức giận, là yêu cầu những người đang chung sống hãy tôn trọng giá trị và lãnh thổ « tâm linh » của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều lúc chính chúng ta chưa ý thức rõ ràng về giá trị đích thực và cơ bản của mình. Và khi có ý thức, chúng ta lại không biết tìm cách trình bày ra ngoài, cho kẻ khác hiểu được con người đích thực của chúng ta.

Với kỹ thuật « tức giận với chính mình », chúng ta học tập về thể thức kết thúc một cách trọn vẹn, tiến trình tức giận của chúng ta.

Trong phần Một, với sứ điệp ngôi thứ nhất, chúng ta diễn tả xúc động tức giận của mình, với tất cả đoàn tùy tùng :

·        « Tôi tức giận bạn về việc… »

·        « Tôi ghét bạn, KHI… »

·        « Tôi khó chịu, bực bội, vì lý do … »

Trong phần Hai, chúng ta trình bày những nguyện vọng có liên hệ mật thiết với những giá trị hiện tại của chúng ta :

·        « Tôi muốn từ đây bạn hãy nói… và làm… »

·        « Tôi muốn được cư xử, đãi ngộ… »

·        « Tôi thiết tha yêu cầu bạn làm… »

·        « Ước vọng quan trọng số một của tôi là… »

Trong phần Ba : Dựa vào kinh nghiệm cụ thể và khách quan, có mặt trong quá khứ, chúng ta trình bày khả năng và đức tính thực sự của chúng ta :

·        « Bạn có thể làm… »

·        « Bạn có những khả năng… »

·        « Bạn xứng đáng với thành tích như… »

·        « Bạn rất tài tình về… »

·        « Bạn dễ thương, khi… »

Trong phần bốn : Diễn tả quan hệ năng động và tích cực với chính mình :

·        « Tôi thương bạn, khi… »

·        « Tôi sung sướng, khi bạn làm… »

·        « Tôi hạnh phúc được thấy bạn… ».

 Khi chúng ta biết tức giận với chính mình như vậy, chúng ta sẽ có khả năng diễn tả nỗi tức giận của mình đối với kẻ khác trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, một cách bình tỉnh, ôn hòa và xây dựng. Tức giận lúc bấy giờ không còn và không phải là con đường dẫn đến bạo động, hay là phá hủy những quan hệ mà chúng ta đã xây dựng và nuôi dưỡng. Chính vì lý do nầy, sau khi tức giận, bùng nổ, bạo động, chúng ta ngụp lặn trong những trạng thái trầm cảm, mặc cảm tội lỗi…

Gốc rễ của tâm trạng trầm cảm và kiệt quệ

Nguyên nhân của tình trạng trầm cảm không do môi trường bên ngoài mang đến. Chính lối nhìn của chúng ta làm cho chúng ta đánh mất nhiệt tình và nhiệt lực đã và đang có mặt trong chúng ta. Theo quan điểm của Bác sĩ David D. BURNS, chỉ cần chuyển hóa, một cách ý thức và can trường, những cơ chế xuyên tạc và bóp méo của tư duy, chúng ta sẽ tìm lại nội lực đang có mặt trong con người của chúng ta.

Sau đây là mười hình thức xuyên tạc, thường có mặt trong tư duy của người đang mang tâm trạng trầm cảm :

·        1) Tư duy « hoặc có tất cả hoặc không có gì cả ». Loại tư duy nầy có tính lưỡng năng quá khích, thiếu trung dung (All-or-Nothing Thinking).

·        2) Tư duy tổng quát hóa quá khích (Overgeneralization). Theo loại tư duy nầy, cái gì chỉ xảy ra một lần, sẽ luôn luôn xảy ra như vậy suốt đời.

·        3) Tư duy sàng lọc (Mental Filter). Ông A có rất nhiều đức tính. Chỉ cần một lần ông nói dối, từ đó tư duy của tôi chỉ giữ lại tin tức: ông là người nói dối. tôi khước từ những ý kiến khác.

·        4) Tư duy tiêu cực (Disqualifying the positive). Cơ hồ một người loạn thị, con mắt tư duy của tôi chỉ ghi nhận khía cạnh tiêu cực, và không nhìn nhận bao nhiêu yếu tố tích cực cùng có mặt.

·        5) Kết luận vội vã (Jumping to conclusions). Dựa vào một hoặc hai dữ kiện cụ thể, tôi đã khẳng định một cách chắc nịch như đinh đóng về giá trị hoặc bản chất của một con người. Chỉ cần mẹ la mắng tôi một lần, tôi đã kết luận: mẹ là bà phù thủy, đối với tôi.

·        6) Bi kịch hay là quan trọng hóa (Catastrophizing): Tư duy của tôi có xu thế phóng lớn ra một chi tiết nhỏ nhặt, hay là giảm khinh một tin tức đang quấy rầy tôi.

·        7) Biến xúc động thành thực tế (Emotional reasoning). Thể theo loại tư duy nầy, tôi cảm nhận thế nào, thì thực tế khách quan bên ngoài phải như vậy.

·        8) Biến lối nhìn thành qui luật, với những mệnh đề có động từ Phải, Nên, Cần…(Should Statements).

·        9) Gắn nhãn hiệu (Labeling). Trong loại tư duy nầy, tôi có xu thế biến một hành vi thành một tính chất, một tính tình, một thể loại. Tôi có một kinh nghiệm khó chịu, một lần, với một người miền trung. Từ đó, mỗi khi có cơ hội phát biểu, tôi luôn luôn khẳng định một cách chắc nịch: người Trung khó chịu.

·        10) Tư duy chủ quan hóa (Personalization). Với loại tư duy nầy, bạn xem mình là nguyên nhân dộc nhất gây ra mọi tai họa, khi đứa con bạn có nguy cơ tự kỷ. Theo bạn, chính bạn đã mang căn tính ác độc, trong nhiều đời nhiều kiếp. Bây giờ con bạn phải gặt hái những hậu họa.

Để có thể chuyển biến loại tư duy xuyên tạc và bóp méo nầy, bạn hãy học tập quan sát và ghi nhận những sự kiện cụ thể, khách quan, bên ngoài. Hãy tôi luyện khả năng đặt ra cho mình câu hỏi: Tôi đang thấy gì, tôi đang nghe gì? Từ những điều mắt thấy, tai nghe như vậy, tôi rút tỉa những kết luận nào? Bạn bè của tôi, những người xa lạ… kết luận như thế nào, khác tôi ở chỗ nào, giống tôi ở chỗ nào? Nói cách khác, cách hành xử mà tôi cần học tập và tôi luyện hằng ngày, là lắng nghe kẻ khác, coi trọng lối nhìn của bao nhiêu người đang cùng chung sống trong môi trường. Hãy nhìn với con mắt của kẻ khác. Hãy lắng nghe, với lỗ tai của những người khác phái, khác miền, khác lập trường, khác chính kiến, khác tôn giáo, khác thế hệ... Người khác, nhờ nét khác biệt của họ, có thể bổ túc và kiện toàn những gì đang thiếu vắng trong con người của tôi.

 

                                                ***

Kết luận: Chia sẻ một vài kinh nghiệm

Từ ngày tôi làm việc với các em khuyết tật và tự kỷ, tôi có thói quen lợi dụng những ngày nghĩ, để tắm gội mình, trong không khí Thiền. Sau hơn 5 năm tập luyện, tôi đã quên hết tất cả. Hôm nay, tôi chỉ thấm nhuần một câu kinh: “Khi con ăn, con hãy biết con đang ăn. Khi con đi, con hãy biết con đang đi. Khi nói, con hãy biết con đang nói. Khi thương, con hãy biết con đang thương. Khi phục vụ, con hãy biết con đang phục vụ…Hãy quên tất cả, chỉ giữ lại một chữ, một từ “BIẾT”.

Khi trở về làm việc với trẻ em, tôi đã áp dụng bài học ấy, nhất là trong lãnh vực quan hệ tương tác xã hội với các em.

Hẳn thực, với các em mỗi ngày trong 8 tiếng đồng hồ, trong vòng gần 20 năm, tôi cần phải thay đổi thường xuyên nhân vật và bộ mặt của tôi.

·        Khi tôi làm Cha Mẹ, tôi biết tôi đang làm Cha Mẹ hướng dẫn và nâng đỡ các em trong từng đường đi nước bước.

·        Khi tôi làm người Trưởng Thành, tôi biết tôi đang làm người Trưởng Thành đồng hành và đồng cảm với các em.

·        Khi tôi làm người Trẻ Em, tôi biết tôi đang làm Trẻ Em cùng vui đùa và sống hạnh phúc với các em.

·        Có những lúc, những bộ mặt “Bóng Tối” của tôi xuất đầu lộ diện, rình rập, chập chờn, ẩn núp, đe dọa. Tức khắc, tôi nhìn thẵng vào bộ mặt Bóng Tối, mỉm cười và nhẹ nhàng yêu cầu Bóng Tối đi nơi khác, thay vì đe dọa và làm hại các học sinh nhỏ bé và ngây thơ của tôi.

·        Có những lúc tôi sai lầm, tự khắc tôi biết tôi đang sai lầm. Chính lúc ấy tôi dừng lại, nhìn thẳng vào bộ mặt “Sai Lầm” của tôi, và tìm cách sửa sai, bổ túc và kiện toàn, nhằm phục vụ và thương yêu những trẻ em đang có mặt với tôi.

Những kinh nghiệm dạy học ấy, hôm nay, tôi xin chia sẻ lại với những người làm cha mẹ và giáo viên đang có mặt với tôi, trên một vài nẻo đường của Quê Hương và Đất Nước.

 

Sách Tham khảo:

1)  David D. BURNS  -  Feeling Good: The new mood therapy  -  Avon Books, HarperCollins N.Y. 1999.

2)  P. WATZLAWICK  - Une logique de la communication  -  Seuil Paris 1972.

3)  John GRAY  -  What you feel, you can heal  -  Heart Publishing, Mill Valley CA 1984.

4)  NGUYỄN Văn Thành  -  Em là Quê Hương  - Tình Người, Lausanne 1997.

5)  Eric BERNE  -  Transactional Analysis in Psychotherapy  -  New York, Grove Press, 1961.

6)  Thomas A, HARRIS  -  D’accord avec soi et les autres  -  Epi, Paris 1984.

7)  James & Jongeward  -  Naitre gagnant  -  InterEditions, Paris 1978.

Tác giả Gs. Nguyễn Văn Thành

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!