Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
  Tủ Sách - Chủ Đề
  Suy Tư - Chiêm Niệm
  Văn Hóa - Xã Hội
  Y Tế - Giáo Dục
Mục Lục

Chương 2. Lịch sử Giáo Xứ Việt Nam Paris

Chương 3. Hiện tại ở Giáo Xứ Việt Nam Paris

Chương 4. Cách làm việc ở Giáo Xứ Việt Nam Paris

Chương 5. Công việc của Ban Giám Đốc giáo xứ

Chương 6. Sứ mệnh của Hội Đồng Mục Vụ

Chương 7. Những liên hệ của Giáo Xứ Việt Nam Paris

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Giáo Xứ Việt Nam Paris 60 Năm Hiện Hữu
Tác giả: Gs. Trần Văn Cảnh
CHƯƠNG 2. LỊCH SỬ GIÁO XỨ VIỆT NAM PARIS

Trong bài vừa qua, tôi đã xin giới thiệu với bạn đọc về Giáo xứ Việt Nam Paris, « bắt đầu bằng mục vụ văn hoá, và cụ thể qua những sản phẩm văn hoá đã thực hiện của Giáo xứ, như báo chí, sách vở,… ». Nhưng trước khi đi vào mục vụ văn hoá, một trong bốn lãnh vực mục vụ của giáo xứ, một cái nhìn tổng quát sẽ là cần thiết. Ðó là lý do khiến sau đây tôi xin mời bạn đọc xem qua « Lịch sử Giáo xứ Việt Nam Paris ». 

Lich sử Giáo Xứ Việt Nam vừa rất trẻ vừa kỳ cựu. Rất trẻ vì cộng đoàn việt nam công giáo Paris mới được thiết lập chưa tròn một thế kỷ trên lịch sử 4000 năm văn hiến của Việt nam, kỳ cựu vì cộng đoàn việt nam công giáo là cộng đoàn việt nam đầu tiên ở hải ngoại, đã được khởi đầu thành lập từ những năm 40. Ngày nay trên khắp năm châu lục địa đều có các cộng đoàn công giáo việt nam : Mỹ châu, Á châu, Âu châu, Úc châu, Phi châu. Nhưng đại đa số những cộng đoàn này chỉ bắt đầu từ năm 1975, chưa quá bốn chục năm nay. Giáo Xứ Việt Nam Paris được manh nha từ 1946, do sáng kiến và góp sức của các giáo sĩ du học và anh chị em giáo dân, lính thợ hoặc du học sinh. 

Ðể giới thiệu « Lịch sử Giáo Xứ Việt Nam Paris » một cách vắn gọn và sống động, xin mời bạn đọc lướt qua mấy sự kiện chính yếu lịch sử do một người có uy tín là Ðức Ông Giám Ðốc  Mai Ðức Vinh tóm lược, rồi đi vào nghe và tham dự  một cuộc đối thoại trong một phiên họp ở Giáo Xứ Việt Nam Paris vào năm 1997, năm kỷ niệm 50 năm thành lập Giáo Xứ.  

1. LỊCH SỬ NON TRẺ DIỄN RA 

Trong tập Kỷ Yếu 50 năm thành lập Giáo Xứ 1947-1997, Đức ông giám đốc Mai đức Vinh đã tóm lược lịch sử Giáo xứ vắn gọn rằng[1]:

Giáo Xứ chúng ta được manh nha từ 1946, do sáng kiến và góp sức của các Giáo Sĩ du học vá anh chị em giáo dân sinh sống tại Pháp vào thập niên 40, sau đệ nhị thế chiến, trong bầu không khí tranh đấu độc lập cho Quê Hương. Đại Hội Toulouse 1946 là một Đại Hội lịch sử của người Công Giáo Việt Nam tại Pháp dưới nhiều khía cạnh. Nhờ ơn Chúa Thánh Thấn, thành quả của Đại Hội Toulouse là ‘Bản Điều Lệ và sinh hoạt Liên Đoàn’, đã được Giáo Quyền Pháp công nhận năm 1947. Chúng ta chọn 1947 như năm chính thức chào đời của Giáo Xứ chúng ta.

Tứ cái nhân của Đại Hội Toulouse 1946, ngày nay đã có hơn 60 Cộng Đoàn Người Việt hiện diện trên 94 giáo phận của Giáo Hội Pháp. Và Giáo Xứ Việt Nam Vùng Paris luôn xứng đáng là Cộng Đoàn ‘Chị cả’ của các Cộng Đoàn Việt Nam khác tại Pháp. Hơn thế, Giáo Xứ Việt Nam Vùng Paris còn là Cộng Đoàn thâm niên nhất trong các Cộng Đoàn Công Giáo ngày nay trên thế giới. Đó là điều không thể phủ nhận.

Nếu căn cứ vào hai mốc thời gian, hai  văn kiện quan trọng của Giáo Hội về Di Dân : Tông huấn ‘Gia đình xa cách’ (Exsul Familia, 1952) và Tự sắc ‘Mục Vụ Di Dân’ (Pastoralis Migratorum Cura, 1969), thì chúng ta có thể nói, lịch sử của Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris trải dài trên lịch sử ỡ Mục vụ di dân" của Giáo Hội hoàn vũ.

Dựa trên những yếu tố trên đây, chúng ta có thể chia lịch sử của Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris làm ba thời kỳ :

§         Thời kỳ ‘Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp’ (1947-1952)

§         Thời kỳ ‘Tổ chức Truyền Giáo Việt Nam tại Pháp’ (1952-1977)

§         Thời kỳ ‘Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris’ (1977-1997) 

11. Thời kỳ ‘Liên Đoàn’ (1946-1952)

Thời kỳ ‘Liên Đoàn’ là giai đoạn hoàn toàn tự lập, chưa được giáo quyền địa phương hay tại quê nhà chính thức nhìn nhận hoặc yểm trợ. Sau đây là những sự kiện chính yếu trong thời kỳ Liên Đoàn 1946-1952 :

·        Hội Công Giáo ở Paris đã được thành lập từ lâu, từ đầu năm 1942, mục đích giúp đồng bào Công Giáo về đường thiêng liêng, tinh thần và vật chất. Hội ra tờ báo Hiệp Nhất, mục đích huấn luyện anh em về mọi phương diện : đạo lý, chính trị, công dân, xã hội, và tạo mối liên lạc giữa đồng bào lương và giáo.

·        Hội Việt Nam Giáo Sĩ, hay Việt Nam Du Học Giáo Sĩ Ðoàn, thành lập 1945 với 17 linh mục thành viên, đã góp rất nhiều vào việc thành hình và phát triển tổ chức các sinh hoạt của người Công Giáo Việt Nam tại Pháp.

·        Hội Công Giáo Việt Nam ở Paris, lấy danh nghĩa là trung ương lâm thời, xin các Hội Công Giáo có từ lâu ở các tỉnh phái người đến dự cuộc Ðại Hội Nghị Quốc Gia, mở ra tại Saint Cyprien, Toulouse, trong hai ngày 31.03 và 01.04.1946, để chính thức lập ra cơ quan trung ương.

·        Hơn 30 đại biểu của 17 Hội sau đây đã về dự Ðại Hội : Mazagues, Sorgues, Pierrefeu, Port de Bouc, St Chamas, Arles, Tarascon, Orange, Toulouse, Lyon, Grenoble, St Armand, Moulins, Bergerac, Badevel, La Reche/Yon và Paris. Vắng mặt vì bận việc không về dự đại hội được, nhưng gửi lời thăm và cáo lỗi, là các Hội của Agen, Alibi, Bordeaux, Angoulem, Roanne,…

·        Thành quả là 1- Biểu quyết thành lập LIÊN ÐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI PHÁP, 2- Biểu quyết Bản Ðiều Lệ của Liên đoàn gồm 5 khoản, 20 điều., 3- Biểu quyết việc tổ chức Liên đoàn gồm 13 Tiểu đoàn, 4-Bầu Ban Quản Trị Trung Ương gồm 13 đại diện của 13 Tiểu Ðoàn Ðịa phương, 5- Bầu Ban Trị Sự Trung Ương gồm 7 vị : Trần Hữu Phương, Nguyễn Long, Nguyễn Kim Trọng, Trương Công Cừu, Cao Văn Phát, Phan Ngọc Phương và Nguyễn Ðạt, 6- Mời các Linh Mục Cố vấn và tuyên úy Nguyễn Văn Thiện, Cao Văn Luận, Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Mạnh Hiền và Ðinh Văn Hưởng, 7- Biểu quyết về báo chí và thông tin, 8- Biểu quyết về chương trình huấn luyện.

·        Bản Ðiều Lệ đã được toàn thể Dại Biểu làm và chuẩn y tại Toulouse ngày 01.04.1946 ; được sửa đổi tại Fontenay-sous-Bois ngày 05.04.1947 ; được Hàng Giáo Phẩm xem và duyệt y, ngày 01.10.1947 (do Mgr Chappoulie, Tổng Thư Ký Hàng Giám Mục Pháp) ; khai ở Bộ Nội Vụ ngày 22.02.1949 (số công văn 13-579, journal officiel ngày 24.03.1949 ; sau cùng được Hàng Giám Mục Việt Nam nhìn nhận ngày 09.11.1951.

·        Không kể 13 tiểu đoàn địa phương đã được thành lập, 4 đoàn thể và chi nhánh sau đây đã được thành lập sau đại hội Toulouse 1946 : Ðoàn Lao Ðộng (1947), Ðoàn Phụ Nữ (1947), Ðoàn Chức Nghiệp ( ?), Ðoàn Sinh Viên Công Giáo Việt Nam (ra đời ngày 22.06.1947).

·        Tuyên Úy và Ðoàn trưởng Ðoàn Sinh Viên Công Giáo (Paris) : 1947-48 Lm Nguyễn Huy Mai, anh Ðặng Vũ Cảnh (Y khoa) ; 1948-49 lm Trần Văn Hiến Minh, anh Nguyễn Văn Ái (Y khoa) ; 1949-1950 lm Nguyễn Bình An, anh Lâm Trọng Thức (Y khoa) ; 1951-52 lm Nguyễn Quang Lãm, anh Trần Ngọc Oành (Kỹ sư).

·        Những sinh hoạt điển hình chung của Liên Ðoàn là : Cấm phòng, Hội học diễn thuyết và trại hè. 

12. Thời kỳ ‘Truyền Giáo’ (1952-1977) 

Thời kỳ ‘Truyền Giáo’ là giai đoạn được giáp quyền Pháp và Việt Nam khuyến khích và nhìn nhận theo tinh thần của tông huấn ‘Exsul Familia’ và bổ nhiệm linh mục ‘Giám Đốc các Thừa Sai’ hay ‘Giám Đốc Sở Thừa Sai Việt Nam’ (Direnteur des Missionnaires ou de la Mission) và chỉ có một ‘Sở Truyền Giáo’ (Mission) trung ương tại Paris bao trùm cả nước Pháp. Chưa có qui chế rõ rệt cho các linh mục làm mục vụ. Tổng giáo phận Paris chưa trực tiếp giúp đỡ về tài chánh. Sau đây là những sự kiện chính yếu trong thời kỳ T ổ Ch ức Truy ền Gi áo 1952-1977:

·        Ngày 20.06.1949 Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam đệ lên Ðức Cha Henri Chappoulie, Thư ký Hàng Giám Mục Pháp và Giám Ðốc Quốc Gia về Tổ chức Giáo Hoàng Truyền giáo, một bản tường trình gồm hai điểm chính : 1- trình bày 4 sinh hoạt chính yếu của Liên Ðoàn, 2- Khẩn xin thiết lập « Sở Truyền Giáo Việt Nam tại Paris.

·        Trong thư ngày 19.02.1952, gởi cho Ðức Khâm Sứ Toà Thánh Ðông Dương tại Hà nội, Ðức Ông Rupp, cha chính Tổng Giáo Phận Paris đã mong muốn có một linh mục Việt Nam được các Giám Mục Việt Nam bổ nhiệm để chuyên lo việc thiêng liêng cho người Việt Nam tại Paris.

·        Với Thư đề ngày 25.10.1952, Ðức Khâm sứ Toà Thánh John Dooley tại Ðông Dương trả lời cho Dức Ông Rupp hay rằng Ngài đã gặp Các Giám Mục Việt Nam và xin giới thiệu với Ðức Tổng Giám Mục Paris và xin Ngài bổ nhiệm cha Pacifique Nguyễn Bình An.

·        Ngày 24.11.1952, Ðức Ông Rupp, cha chính Ðịa Phận Paris và thư ký của Ủy Ban Giám Mục Ngoại Kiều Vụ đã trả lời cho Ðức Khâm Sứ : « Trong buổi hội tháng 10 vừa qua, các Hồng Y và Tổng Giám Mục đã đồng ý ‘ký thác cho cha Pacifique An Sở Tuyên Úy người Công Giáo Việt Nam trên toàn lãnh thổ Pháp. Ðể chứng tỏ rằng Cha An không chỉ là tuyên úy của Liên Ðoàn mà thôi, nhưng còn là ‘Giám Ðốc Tổ Chức Truyền Giáo », thì từ nay thánh lễ tiếng Việt mỗi tháng sẽ không cử hành ở trụ sở Liên Ðoàn nữa, nhưng là ở trong một nhà thờ, nhà thờ Notre Dame de Liban ». 

Ba nhiệm kỳ của ba cha trong thời kỳ này :

·        Cha Pacifique Nguyễn Bình An 1952-1955. Ðược sự giúp đỡ và cộng tác của cha Trần Thanh Giản, Sở Truyền Giáo thuê được một căn nhà làm cơ sở sinh hoạt tại số 36bis, Bd Raspail, 75007.

·        Cha Phanxicô Trần Thanh Giản 1955-1971. Nhiều việc đã được thực hiện : 1- Cải tổ Bản Ðiều Lệ Liên Ðoàn Công Giáo, 2- Qui tụ được một số linh mục cộng tác : cha Nguyễn Ngọc Lưu, cha Nguyễn Ðịnh Tường, Cha Nguyễn Văn Long, Cha Nguyễn Quang Toán, Cha Nguyễn Tiến Huynh, Cha Phan Ðình Thành ; và ở các tỉnh có sự cộng tác của các cha Nguyễn Quang Cảnh ở Marseille, cha Phạm Phúc Khánh ở Nice, cha André Courtois (Lịch) ở Toulon ; 3-  Giải quyết vấn đề cơ sở : trước nhất ở Paris 5, sau về 32 Ave de l’Observatoire, rồi từ 1968 rời về 15, rue Boissonade, 75014.

·        Cha Michel Nguyễn Quang Toán 1971-1977 với thơ bổ nhiệm của Ðức cha Daniel Pérézil, ngày 14.12.1971. Cha Nguyễn Quang Toán qui tụ được 4 linh mục cộng tác là các cha Hoàng Quang Lượng, Lê Huy Bảng, Ðoàn Thanh Dũng và Phan Thanh Văn. Những sinh hoạt nổi bật được ghi lại thời Cha Toán là : 1- Phát triển ba hội đoàn cơ bản là Hội Ðạo Binh Ðức Mẹ, Hội Các Bà Mẹ Công Giáo và Hội Sinh Viên Công Giáo ; 2- Tổ chức các cuộc hành hương , 3- Tổ chức những sinh hoạt xã hội cứu trợ các vụ lụt và các nạn nhân chiến tranh bên Việt Nam. 

13. Thời kỳ ‘Giáo Xứ’ (1977-1997) 

Mặc dầu tự sắc ‘Pastoralis Migratorum Cura’ đã được ban hành từ 1969, nhưng mãi đến biến cố 1975 ở Việt Nam và với làn sóng người Việt tị nạn qua Pháp, Giáo Hội Pháp mới nghĩ đến việc áp dụng tinh thần tự sắc vào việc tổ chức lại cơ cấu và sinh hoạt mục vụ cho cộng đồng người Việt tại Pháp. Việc áp dụng này chỉ thành hình cụ thể vào năm 1977, và thực sự vào năm 1986. Bởi vì mặc dầu từ 1952, Sở Truyền Giáo Việt Nam ở Paris ‘xét về nhiều mặt đã được đồng hóa như một xứ đạo, nhưng cho đến thư bổ nhiệm Cha Trương Đình Hòe vẫn còn gọi ngài là ‘Missionnaire’, mãi từ 1986, trong các thư bổ nhiệm Cha Mai Đức Vinh mới rõ rệt dùng chữ ‘curé de la paroisse Vietnamienne‘, cũng từ đây trong Ordo hằng năm của Paris mới đề chữ ‘curé’. 

Ngày 28.05.1976, với tư cách là Giám Mục đặc trách về các đồng bào Á Châu, Ðức Cha André Rousset biên thơ cho cha Toán báo tin rằng trước tình hình khẩn trương và bi thương của dân tị nạn ba nước Việt Miên Lào, Ủy Ban Mục Vụ Ngoại Kiều yêu cầu Hội Thừa Sai Paris giúp đỡ, cha Etcharren đã được bổ nhiệm làm việc với hai cha Guillard và Couessin, và xin cha Toán liên lạc với cha Guillard để xác định phận vụ của mình.

Nhiều Giám Mục địa phương đã bổ nhiệm tuyên Úy Việt Nam trong các năm 1975, 1976

Ðại Hội ngày 21.10.1976 qui tụ trên 30 linh mục Việt Nam từ nhiều tỉnh khác nhau về họp tại Toà Tổng Giám Mục Paris, dưới quyền chủ tọa của cha Trương Ðình Hoè, do đại hội bầu lên, để bàn về các vấn đề và hành động mục vụ khẩn cấp cho kiều bào Việt Nam

Ngày 13.09.1997, Ðức Cha Daniel Pérézil, giám mục phụ tá Parus, gởi cho cha Samuel Trương Ðình Hoè lá thơ bổ nhiệm cha làm thừa sai với quyền coi sóc các linh hồn người Việt Nam ở Paris kế vị cha Toán. Cũng trong thơ này, Ðức Cha Pérézil xác đỉnh : « Giáo Xứ Việt Nam Paris phải là cộng đoàn cầu nguyện, bí tích, tương trợ huynh đệ, sống đạo theo truyền thống và văn hoá Việt Nam ».

Nhiệm kỳ của cha Samuel Trương Ðình Hoè, 1997-1979 

Sau khi đã gởi thơ bổ nhiệm cho cha Trương Ðình Hoè, ngày 29.09.1997, Ðức Cha Pérézil gởi thơ báo tin này cho cha Toán và cám ơn cha nồng nhiệt về những việc cha đã làm cho Giáo Xứ trong những năm qua.

Ngày 13.10.1977 là ngày bàn giao công vụ giữa cha Nguyễn Quang Toán và cha Trương Ðình Hoè, với sự chứng kiến của cha J.B. Etcharren, cha Bernard le Franc và cha Robert Gilbert.

Lãnh thổ hoạt động của Giáo Xứ từ nay hạn hẹp vào lãnh thổ của 8 giáo phận thuộc Giáo Tỉnh Paris, trừ những nơi mà Giáp Quyền địa phương đã bổ nhiệm một tuyên úy Việt Nam khác.

Cha Trương đình Hoè đã qui tụ được một nhóm linh mục khá hùnh hậu cộng tác : cha Hoàng Quang Lượng lo phó giám đốc, cha Ngô Duy Linh lo phụng Vụ, cha Lương Tấn Hoàng và nữ tu Huỳnh Thị Na lo xã hội, cha Mai Ðức Vinh lo giáo lý, cha Ðinh Ðồng Thượng Sách và nữ tu Sophie Nguyễn thị Phú lo giới trẻ.

Cha Giám Ðốc Trương Ðình Hoè đã làm được hai việc quan trọng sau đây : chỉnh trang lại cơ sở giáo xứ cho ngăn nắp, sạch sẽ và khang trang hơn và nhất là đã vận động với Toà Tổng Giám Mục để những linh mục hay tu sĩ làm việc cho Giáo Xứ đều được bổ nhiệm trên giấy tờ, được trả lương và bảo hiểm xã hội. 

Nhiệm kỳ của cha Denis Lương Tấn Hoàng, 1979-1980 

Năm 1979, Cha Trương đình Hoè từ chức vì dòng Phanxicô cần đến ngài để lo các công tác văn hoá và huấn luyện của dòng. Cha Lương Tấn Hoàng lên thay.

Trong tờ báo Giáo Xứ Việt Nam, số 122, tuần lễ 02-09.11.1980 có thông báo rằng « Vì lý do sức khoẻ, từ tháng 07, Cha Denis Hoàng đã đệ đơn xin từ chức Giám Ðốc Giáo Xứ. Nay Ðức Giám Mục chấp nhận đơn của Cha và đồng thời bổ nhiệm cha Giuse Mai Ðức Vinh thay thế. Vậy hôm nay, chủ nhật 02.11.1980, cha Bernard le Franc, thay mặt Ðức Cha Daniel Pérézil, đến đồng tế và chính thức công bố sự thay đổi này.

Nhiệm kỳ của cha Giuse Mai Đức Vinh, 1980-Hôm nay (2007)

Qua văn thư ngày 28.11.1980, cha Giuse Mai Ðức Vinh được Toà Tổng Giám Mục Paris bổ nhiệm làm cha sở Giáo Xứ. Nhiều chính sách và chương trình hoạt động mục vụ trong các lãnh vực khác nhau đã được các linh mục trong ban giám đốc và các giáo dân trong hội đồng mục vụ liên tiếp thực hiện, dưới sự lãnh đạo của cha giám đốc Giuse Mai Đức Vinh :

¨      1980-1983 : xây dựng cơ cấu tổ chức : 1983 : Thành lập ban đại diện cho các địa điểm mục vụ : Paris, Sarcelles-Garges, Villiers-Le-Bel, Noisy-Le-Grand. 1983 : Thành lập các nhóm công giáo tiến hành và bầu ban đại diện. Ngày 30.10.1983, một Hội Ðồng Mục Vụ tiên khởi đã được thành lập

¨      1984-1989 : phát triển văn hoá giáo dục : 1984 : Phát hành Báo Giáo Xứ, bộ mới. 1986 : Cải tiến việc giáo dục giáo lý và văn hoá Việt Nam cho Ấu Thiếu Nhi và lập Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. 1986 : Chương trình tu bổ cơ sở, lập sổ vàng và vận động xin một nhà nguyện rộng lớn hơn. 1986 : Phát huy lễ hội văn hoá, khởi xướng bữa tiệc xuân giáo xứ. 1987 : Ðào tạo nhân sự giáo sĩ, đề nghị phong chức phó tế vĩnh viễn cho thầy Girard Xavier thuộc cộng đoàn Sarcelles. 1989 : Lập « Hội yểm trợ ơn gọi tận hiến ».

¨      1990-1996 : Phát triển Ðời sống thiêng liêng : 1990 : Thư Viện Giáo xứ chính thức khai trương. 1993 : Khai trương phong trào CURSILLO. 1995 : Thành lập Ban Mục Vụ Gia Ðình

¨      1997-2001 : Phát triển đời sống văn hoá, cơ sở vật chất và liên đới xã hội : 1997 : Tu thư tập thể, viết sách chung. Nhận cơ sở mới và dâng thánh lễ đầu tiên tại cơ sở mới vào ngày lễ Đức Mẹ lên trời, 15.08.1998 và chuyển giao cơ sở Boissonade cho cộng đoàn công giáo Triều Tiên ngày 31.08.1998. 2000 : Thành lập Liên đới nghề nghiệp trong 5 ngành có nhiều người việt nam : Chuyên Gia, Thân Hữu Taxi, Doanh Thương, Dịch Vụ, Xây Dựng.

¨      2002-2007 : Phát triển và tự lập tài chánh : 2002 : Mạng lưới đầu tiên của Giáo Xứ chào đời với tên gọi www.giaoxuvnparis.org trong Đại hội liên đới nghề nghiệp lần thứ 3, ngày 01.05.2002. 2003 : Lập nhóm đặc trách ‘Tiền giúp Giáo Hộĩ’, Giáo xứ hoàn toàn tự lập về tài chánh. Qua lá thơ đề ngày 29.06.2005, Ðức Ông Giám Ðốc Mai Ðức Vinh đã chính thức loan báo với cộng Ðoàn việc thành lập điạ điểm mục vụ mới ở Antony.

14. Biên niên những sinh hoạt đã thực hiện từ 1980

Ðược cha Mai Ðức Vinh mời tham dự chuẩn bị thiết lập Hội Ðồng Mục Vụ từ năm 1980 và được bầu làm Thư Ký trong Ban Thường Vụ của Hội Ðồng Mục Vụ tiên khởi nhiệm kỳ 1983-1985, tôi đã cùng cha Mai Ðức Vinh ghi lại những sụ kiện chính đã được thực hiện hàng năm, một thứ biên niên. Những sự kiện này đã được ghi lại trong tập Kỷ yếu[2].  23 trên tổng số 26 hội đoàn,  nhóm, lớp, ban,.. đang sinh hoạt hiện nay đã được thành lập từ năm 1980. Một thời thịnh đạt. Thật đáng mừng và khuyến khích. Xin trích những sự kiện chính yếu đã được ghi lại cho những năm từ 1980 đến 1997.

Qua văn thư 28.11.1980, cha Mai Ðúc Vinh được Toà Tổng Giám Mục Paris bổ nhiệm làm cha sở Giáo Xứ. Một chương trình 3 năm, 1980-1983, đã được đua ra nhằm xây dựng nền tảng cơ cấu tổ chức cho Giáo xứ với những việc chính yếu sau đây :

1980 : Thành lập nhóm ‘Thần học Giáo Dân’

Nữ tu Têrêsa Thân Thị Kim Liên vào làm việc cho Giáo Xứ

1981 : Nhóm ‘Thần học Giáo Dân’ khai trương một sinh hoạt văn hoá độc đáo là tổ chức các buổi hội luận thuyết trình về những vấn đề thiêng liêng, văn hoá, xã hội.

Tăng cưỡng các nhóm trẻ sống đạo

Ngày 13.09.1981, Ðức Tổng Giám Mục Jean Marie LUSTIGER đến thăm giáo xứ và ban phép rửa tội cho 16 em nhỏ.

1982, Chị Têrêsa Na mãn chương trình học « Cán Sự Xã hội », về làm việc lại cho Giáo Xứ

Mở lại bữa com chủ nhật

1983 : Thành lập ban đại diện cho các địa điểm mục vụ : Paris, Sarcelles-Garges, Villiers-Le-Bel, Noisy-Le-Grand.

Thành lập các nhóm công giáo tiến hành và bầu ban đại diện.

ngày 30.10.1983, một Hội Ðồng Mục Vụ tiên khởi đã được thành lập)

Hội Đồng Mục Vụ tiên khởi, khóa I  (1983-1985)

Ông Phan Quang : Chủ tịch

Ông Nguyễn văn Hộ : Phó Chủ tịch, đặc trách tôn giáo

Ông Trần Louis : Phó Chủ tịch, đặc trách Xã hội

Ông Võ Phước Thiện : Phó Chủ tịch, đặc trách Văn hoá và tuổi trẻ

Giáo Sư Trần văn Cảnh : Tổng thư ký

Bà Tạ Thanh Minh : Phó Tổng thư ký

Bà Nguyễn Đình Thái : Thủ quỹ

Ông Nguyễn Tiến Đạt : Phó Thủ quỹ

1984 : Xin nhà dòng Visitandines cho đất, mở rộng sân ; tái bản báo Giáo Xứ Việt Nam ; Tiểu đội Legio Trẻ ra đời.

1985 : Cha Hoàng Quang Lượng đi hưu, Cha Phêrô Bùi Duy Nghiệp từ Toulouse lên làm việc cho Giáo Xứ, lo giới trẻ và giúp cộng đoàn Sarcelles. Xin nhà dòng cho phép làm nhà kho ngoài sân, làm sân khấu. Tình diễn văn nghệ với đề tài ‘Giữ Thơm Quê Mẹ’.

Cha Vinh được bầu làm Liên Lạc Trưởng của Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Paris. Hội Đồng Mục Vụ khóa II (1985-1987)

1986 : Bắt đầu chiến dịch Sổ Vàng ; Thành lập Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, nhiều giáo dân viết thư cho ĐứcHồng Y J.M. Lustiger trình bày nguyện vọng về nhà thờ cho Giáo Xứ. Hội Đồng Mục Vụ tổ chức ‘Bủa Cơm Thân Hữu Mừng Xuân’ lần I. Đại Hội Liên Tu Sĩ I tại Giáo Xứ. Chị Sophie Phú thôi làm việc cho Giáo Xứ và được nhà dòng gửi đi học y tá.

Cũng chính năm 1986, theo luật hiện hành của giáo phận Paris, Cha Mai Đức Vinh mãn nhiệm kỳ làm Giám Đốc Giáo Xứ. Nhưng ngày 12.06.1986, Cha Claude Frikart, Cha chính địa phận, thay mặt Đức Hòng Y J.M. Lustiger, gửi cho Cha Vinh một bức thư ‘triển hạn’ (proroger) nhiệm kỳ của Cha, theo quy định về đặc quyền (indult) của bộ Giáo Sĩ ra ngày 23.12.1968 và đúng theo sự biểu quyết của HộI Đồng Giám Mục Pháp công bố ngày 13.06.1983, nhiệm kỳ của Cha được triển hạn thêm ba năm làm Cha sở của Giáo Xứ Việt Nam trong Hạt Ngoại Kiều (Curé de la poroise Vietnamienne dans le doyenné des Migrants) kể từ ngày 01.09.1986.

1987 : Thầy Girard Xavier thuộc cộng đoàn Sarcelles lãnh chức Phó Tế Vĩnh Viễn. Hội Đồng Mục Vụ khóa III (1987-1989).

1988 : Cha Bùi Duy Nghiệp trở về lo cộng đoàn Việt Nam ở Toulouse, Cha Vincentê Nguyễn Văn Cẩn từ Thụy Sĩ về làm việc cho Giáo Xứ. Giáo Xứ tham dự Thánh lễ Phong Thánh tại Roma.

1989 : Hội Yểm Trợ Ơn Gọi ra đời. Sau vụ nhà thờ ‘Notre Dame de Blanc Manteau’, Ban Giám Đốc lên yết kiến Đức Hồng Y để trình bày về ý chí bảo toàn ‘hằng tình’ (identité) của người Việt Nam. Lüu nhiệm Hội Đồng Mục Vụ thêm một năm. Đại Hội Liên Tu Sĩ II tại Giáo Xứ.

Ngày 28.08.1989, Đức Cha Claude Frikart, Giám mục phụ tá Paris, thay mặt Đức Hồng Y J.M. Lustiger, gửi thư báo cho Cha Vinh biết : Nhiệm kỳ làm Cha sở sẽ hết vào ngày 31.8.1989, nhưng với sự đồng ý của các bề trên của Cha, theo quy định về đặc quyền mà Bộ Giáo Sĩ ra ngày 23.12.1968, và theo sự biểu quyết của Hội Đồng Giám Mục Pháp  công bố ngày 13.06.1984, nhiệm kỳ của Cha được triển hạn đến 31.08.1992.

1990 : Với sự giúp đỡ của nhà dòng Visitandines, nhiều người trong cộng đoàn góp sức trang bị lại nhà bếp, hệ thống sưởi, máy hút đồ dơ. Ra tờ "Mission Catholique Vietnamiene" bằng tiếng Pháp, 1 tờ A3, mỗi năm 2 số để gửi cho các ân nhân và bạn hữu ngoại quốc. Hội Đồng Mục Vụ khóa IV (1990-1992).

Ngày 17.06.1990, Văn nghệ ‘Uống Nước Nhớ Nguồn’, kỷ niệm hai năm lễ Phong Thánh.

Ngày 25.06. 1990, Đức Cha Pierre Joatton, Giám mục giáo phận Saint Etienne, chủ tịch Ủy Ban Giám Mục Ngoại Kiều gửi thư bổ nhiệm Cha Giuse Mai Đức Vinh làm Đại Diện Quốc Gia cho Tuyên Úy Đoàn Việt Nam tại Pháp và là người có trách nhiệm phối hợp về mục vụ cho người Việt Nam ‘Délégué National pour les aumôniers vietnamiens en France et responsables de la cơrdination de la Pastorales des Vietnamens).

1991 : Ủy ban Giám Mục về Ngoại Kiều can thiệp xin Đức Cha địa phận Nanterre cử Cha Giuse Nguyễn Văn Ziên đến làm việc cho Giáo Xứ một phần tư thời gian trong hai năm. Đại Hội Liên Tu Sĩ III tại Giáo Xứ. Cha Giuse Trần Anh Dũng đến làm việc cho Giáo Xứ bán thời gian.

1992 : Ngày 01.09.1992, Đức Cha Claude Frikart, thay mặt Đức Hòng Y J.M. Lustiger gửi thư cho Cha Mai Đức Vinh triển hạn nhiệm kỳ ‘Cha sở  Giáo Xứ’ của Cha đến 31.08.1995. Làm lại nhà kho. Bầu lại Hội Đồng Mục Vụ khóa V (1992-1994).

1993 : Phong trào Cursillo bắt đầu mở Tuần Tĩnh Huấn tại Rungis với sự giúp đỡ nhân sự và tài chánh của Cursillo Việt Nam bên Hoa Kỳ. Cha Dũng nhận cộng đoàn Noisy Le Grand thay Cha Cẩn. Cha Sách nhận lo cộng đoàn Cergy-Pontoise.

1994 : Hội Đồng Mục Vụ khóa VI (1994-1996). Chuẩn bị vận động với nhà dòng và Tòa Giám Mục làm lại hai nhà ngoài sân. Cha Ziên thôi làm việc cho Giáo Xứ và được Đức Cha giáo phận Nanterre cho đi học. Cha Cẩn thay thế Cha Ziên giúp Cha Vinh ở Sarcelles.

1995 : Ban ‘Chuẩn Bị Hôn Phối’ bắt đãu sinh hoạt. Làm lại nhà ngoài sân. Tham dự Đại Hội Hành Hương Lộ Đức do Tuyên Úy Đoàn tổ chức. Cha Vinh nhận lo cộng đoàn Ermont theo lời yêu cầu của giáo phận Pontoise. Cha Dũng lo giới trẻ thay ChaSách.

1996 : Làm lại sân. Chuẩn bị lễ 50 năm thành lập Giáo Xứ. Tuần lễ ‘Đón Đức Mẹ’ là tuần khai mạc năm Tạ Ơn. Thiếu nhi mừng 10 năm thành lập. Ban Thường Vụ của Hội Đồng Mục Vụ được triển hạn lại một năm. Nhóm ‘Thân- Hữu Taxi’ thành hình.

Đúng theo thư bổ nhiệm, Cha Vinh hết nhiệm kỳ làm Cha sở Giáo Xứ vào ngày 31.08.1996. Nhưng ngày 21.03.1996, Cha Vinh lên Tòa Tổng Giám Mục gặp Đức Cha Claude Frikart, Đức Cha bảo : ‘Bây giờ không tính số năm, điều quan hệ là Cha còn khỏe (solide) không ? Tôi suy nghĩ và sẽ trả lời cho Cha. Thế rồi ngày 03.06.1996, Cha Yves Mallmann phụ tá của Đức Cha Claude Frikart và là Giám Đốc của SITI (Service Interdiocésain des Travailleurs Immigrants) đến Giáo Xứ báo cho Cha Vinh hay là ‘Địa phận muốn Cha vui lòng tiếp tục nhiệm vụ làm Cha sở Giáo Xứ Việt Nam, không cần bổ nhiệm lại nữa’.

1997 : Tổ chức Đại lễ Kim Khánh Giáo Xứ (1947-1997) tại nhà thờ Notre Dame des Champs và tại Giáo Xứ ở Boissonade vào hai ngày 11 và 18.05.1997. Xuất bản kỷ yếu 50 năm thành lập Giáo Xứ Việt Nam tại Paris ngày 01.01.1997. Triển lãm kỷ niệm Kim Khánh về lịch sử, sinh hoạt, các đơn vị mục vụ, tổ chức các hội đoàn do sứ thần tòa thánh cắt băng khánh thành và ngày 11.05.1997. Văn nghệ ‘Mùa gặt mới’ tổ chức tại Centre Culturel Boulogne - Brillancourt vào thứ bảy 10.05.1997. Ban thường vụ mới của HĐMV, nhiệm kỳ VII, 1997-1999. Cha Giuse Trần Anh Dũng được Tòa Tổng giám mục chính thức bổ nhiệm làm việc tại Giáo Xứ, cách riêng cho giới trẻ, từ 1995. Từ nay ngài sẽ làm việc toàn thời cho Giáo Xứ. Xuất bản cuốn sách ‘Giáo lý cho người trưởng thành’ và cuốn ‘Têrêsa, vị thánh lớn nhất của thời đại mới’ 

2. LỊCH SỬ KỲ CỰU NHẮC LẠI 

Để tóm tắt năm chục năm lịch sử, để nhìn lại cái lịch sử sảy ra, vắn gọn trong ba thời kỳ này và để mừng lễ kim khánh 50 năm thành lập Giáo Xứ, ngày 4.5.1997 một buổi thuyết trình đã được tổ chức mà một người tham dự đã ghi lại như sau[3] :

Nằm trong chương trình mừng Kim Khánh. Chủ nhật 4.5.1997, từ 13g30 đến 15g30, tại Giáo Xứ có tổ chức buổi thuyết trình về GIÁO XỨ HÔM QUA VÀ HÔM NAY. Người đến nghe đông chật hội trường. Diễn giả là Bs. Nguyễn Văn Ái, Ông Nguyễn Văn Hộ chủ tịch Hội Đồng Mục Vụ và Gs Trần Văn Cảnh. Ba vị đã từng gắn bó và đóng góp tích cực cho Giáo Xứ.

Khi còn là sinh viên du học, bs Ái có chân trong ban Chấp hành và là chủ tịch  Liên Đoàn Công Giáo (1948-1952), tiền nhân của Giáo Xứ Việt Nam. Hồi hương, bác sĩ làm giám đốc Viện Pasteur toàn quốc. Hiện nay bác sĩ là giảng viên lớp Dự Bị Hôn Nhân và trợ bút của báo Giáo Xứ với bút hiệu Vân Uyên. Nên bác sĩ Ái có đủ tư cách là người trình bày về GIÁO XỨ HÔM QUA. Chính bác sĩ cung cấp nhiều tài liệu và viết bài cho cuốn KỶ YẾU GIÁO XỨ.

Ông Nguyễn Văn Hộ từng làm chủ tịch Hội Đồng Mục Vụ nhiều năm (1987-1992 và 1994 đến nay).

Giáo sư Trần Văn Cảnh là một trong những người sáng lập Hội Đồng Mục Vụ (1983), soạn thảo bản nội quy HĐMV (1983) và tái bản Báo GIÁO XỨ bộ mới (1984)... Ông Hộ và Gs CẢnh trình bày về GIÁO XỨ HÔM NAY. Bs Ái như thợ khởi công còn ông chủ tịch Hộ và Gs Cảnh là người nối tiếp xây cao ngôi nhà Giáo Xứ Việt Nam.

21. GIÁO XỨ HÔM QUA

Bác sĩ Nguyễn Văn Ái đúng là người ‘nói hay và làm hay’, khiêm tốn mở đầu phần nói truyện : Riêng tôi được hân hạnh đóng vai trò ‘Ông già kể truyện ngày xưa’ nói về giai đoạn khởi đầu của Giáo Xứ. Đối với một đời người, 50 năm chưa phải là tuổi già. Đối với một cộng đoàn 50 năm vẫn còn là thời rất son trẻ. Nhất là đối với cộng đoàn công giáo, mà tuổi thường được tính hàng thế kỷ, nếu không muốn nói là từng thiên niên. Nụ cười luôn nở trên môi và nét mặt vui tươi của diễn giả lôi cuốn cả hội trường chăm chú, thích thú nghe, không buồn ngủ hay ngán vào giữa trưa, khí trời mát nhẹ đang xuân.

Bác sĩ mở lại cho cử tọa xem những trang sử đầu của Giáo Xứ được ghi vắn tắt trong phần một cuốn Kỷ Yếu. Bằng giọng nói đầy truyền cảm và thêm luyến nhớ về những tháng năm làm việc chung với anh chị em đồng bạn để xây dựng Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp (1947-1952), diễn giả kể lại nhiều chi tiết từng hoạt động của linh mục và giáo dân có mặt trong hình đen trắng của Kỷ Yếu. Nêu cao tính khí và lòng quảng đại, can đảm của từng người trong việc sống đạo và truyền bá Tin Mừng khi còn bôn ba hải ngoại hay hồi hương, như : dự lễ, tiếp tân, tham gia hội đoàn, học hỏi giáo lý, cắm trại, tìm trụ sở, đóng kịch, mở quán cơm bình dân, viết báo... Mỗi người một nghành nghề học và hoạt động, và được cảm tình nồng hậu của giáo quyền, chính quyền và giáo dân địa phương. Nhiều thành công đem lại kết quả mỹ mãn. Những mẩu chuyện thú vị khi họ vừa cắp sách đến trường, tu học hay bận rộn làm ăn, mà vẫn bỏ giờ ra cho cộng đoàn.

Sau giai đoạn Liên Đoàn, mọi người tản mát. Một số ở lại lập nghiệp tại Pháp. Phần đông trở về Việt Nam. Người vào Nam, kẻ ra Bắc. Tất cả đều hứng khởi, tin tưởng, muốn làm một cái gì cho Giáo Hội và cho đất nước. Trong số những người năm xưa, nay có người đã khuất. Người còn lại thuờng xuyên liên lạc với bác sĩ và thăm  hỏi về cộng đoàn tiên khởi Việt Nam tại Pháp nay thế nào ? Tuy nhiên, theo cử tọa cùng nhận xét chỉ còn Bs Ái và chị Lê Phương Trà (Cursillo) trở lại sống bên cộng đoàn . Thật quí hóa ! Quả thật những bậc đàn anh chúng ta đã có trái tim trên bàn tay (il a le coeur sur la main).

Tài diễn giảng của bác sĩ khéo đưa cử tọa trong hội trường rạt rào tình cảm biết ơn, khi nói : Tôi phải suy nghĩ lâu giờ trong đêm khuya để viết bài cho KỶ YẾU, cho bài thuyết trình này. Tất cả tình cảm gói ghém trong bài Hương Thơm Kỷ Niệm :

Cõi trời đất, một đời đảm nhiệm.

Phận dân chiên, chung lụy tình quê...

Giữ giới răn, cầu duyên Thiên ước :

Rạng danh Cha, xác tín Lời ban[4]...

Bằng một lý luận đơn sơ chân thành, diễn giả cho rằng những người đi trước khai sinh cộng đoàn Việt Nam thành công trong một cuộc phiêu lưu không định trước để có Giáo Xứ Việt Nam hôm nay. Phần kết ‘kể truyện xưa’, bác sĩ đưa ra ba bài học rút tỉa từ những năm sinh sống trong giai đoạn đầu thành hình Giáo Xứ.

1.      Không có một cuộc phiêu lưu nào diệu kỳ và chứa đựng nhiều bất ngờ đày ơn phước bằng cuộc phiêu lưu song hành với Thiên Chúa.

2.      Liên Đoàn là môi trường huấn luyện, mở đầu cho tôi con đường dài vô tận, thâm sâu thăm thẳm và vô cùng gai góc, để tìm ý nghĩa sống và tin. Tìm là đi về ánh sáng của hiểu biết, của huyền nhiệm, để tin và sống thành một. Đi theo hướng đó, tin và sống không những cho riêng mình, nhưng còn với cộng đoàn và trong đoàn thể.

3.      Tôi đã được gặp và chia sẻ một tình thương yêu nhau, bền chặt suốt đời. Tình yêu thương này dẫn đến sự tin cậy, tương trợ và khuyên bảo lẫn nhau, vượt qua mọi thành kiến chính trị, tôn giáo, mọi ranh giới kỳ thị đîa phương hay sắc tộc. Không còn người Trung, Nam hay Bắc. Không còn giai cấp trí thức, lao động. Không còn người tây, người ta. Không còn de đen, da trắng da vàng. Chỉ còn người với người, cố gắng đùm bọc nhau, cây dựng lấn nhau, để trở thành những người con của Thiên Chúa, theo Thiên ý mong muốn tất cả chúng ta xứng đáng là hình ảnh của Thiên Chúa.

Lời cảm ơn cuối cùng của diễn giả chưa dứt thì tiếng vỗ tay đã vang dội hội trường, như đáp lại người nói. Trong hàng ghế, nghe thấy nhiều tiếng nói nho nhỏ : Hay, hay quá, chưa bao giờ được nghe ai nói hay như thế.

Sau phần Bs Ái, có ông Đông và ông Đạt trước kia từng sinh hoạt thời Liên Đoàn, ghe có buổi nói truyện cũng đến tham dự. Hai ông đã bổ túc một vài chi tiết và tỏ ý sẽ đến với Giáo Xứ nhiều hơn. 

22. GIÁO XỨ HÔM NAY 

Gs Trần Văn Cảnh và ông Nguyễn Văn Hộ không những là hai chứng nhân mà còn là người làm và viết nên giai đoạn lịch sử quan trọng hôm nay của Giáo Xứ Việt Nam, trình bày phần hai của buổi thuyết trình qua ba khía cạnh nổi bật : Giáo Xứ Việt Nam hôm nay đã trưởng thành, sống bằng đức tin dồi dào và vững mạnh trong Giáo Hội Pháp. Giáo sư Trần Văn Cảnh khai diễn :

Giáo Xứ Việt Nam trưởng thành

Sùc sống của cộng đoàn thực sự bước vào giai đoạn trưởng thành vào thập niên 80, như tuổi trưởng thành của người thanh niên Việt Nam ‘tam thập nhi lập’. Tức là giai đoạn cộng đoàn công giáo Việt Nam trở thành giáo xứ thể nhân, từ 1977 đến nay.

Về nhân sự, các cha làm việc tại giáo xứ được bổ nhiệm bằng giấy tờ và được trả lương (1979) và vị giám đốc được gọi là cha sở (curé) từ 1986 và các cha phụ tá được gọi là cha phó (vicaires). Ba mươi năm gần đây, Giáo Xứ Việt Nam được lãnh đạo bởi các vị giám đốc nhiệt thành : Cha Phanxicô Trần Thanh Giản (1954-1971), Cha Michel Nguyễn Quang Toán (1971-1977), Cha Emmanuel Trương Đình Hòe (1977-1979), Cha Denis Lương Tấn Hoằng (1979-1980) và nổi bật là Cha Giuse Mai Đức Vinh, giám đốc đương nhiệm từ 1980, với các cha trong ban giám đốc là Cha Vixentê Nguyễn Văn Cẩn, Cha Giuse Đinh Đồng Thượng Sách, Cha Giuse Trần Anh Dũng và nữ tu Têrêsa Huỳnh Thị Na. Chúng ta phải hãnh diện vì có một ban giám đốc tài ba. Nhìn thẳng vào thực tế, ban giám đốc đón nhận và khích lệ tất cả giáo dân muốn đến và nhất là lắng nghe tiếng nói của mọi người. Giáo Xứ là nơi qui tụ tập họp không phân biệt tuổi tác, chức vụ, giầu nghèo... để tuyên xưng đức tin trong tình anh em một nhà và con một Cha trên trời.

Bên cạnh ban giám đốc còn có Hội Đồng Mục Vụ, gồm từ 70 đến 80 đại diện của 6 đơn vị mục vụ ngoại ô và vài ba chục các đoàn thể, hội đoàn và nhóm đang sinh hoạt đều đặn tại Giáo Xứ. Ban Thường Vụ là những vị tận tâm được tuyển chọn và bầu trong số các thành viên Hội Đồng Mục Vụ. Và rất nhiều người tự nguyện làm cho những việc không tên. Nếu tính ra tiền thì không lấy đâu mà trả cho đủ.

Sống bằng đức tin dồi dào và vững mạnh.

Về hoạt động của Giáo Xứ có cả chiều sâu, lẫn chiều dài và chiều rộng. Trước 1980, Giáo Xứ mới có 5 hội đoàn : Đạo Binh Đức Mẹ, Các Bà Mẹ Công Giáo, Lớp Giáo Lý, Ban Xã hội và Ca Đoàn. Hôm nay đã có tới 22 đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, cho đủ mọi giới tham dự. Giáo Xứ Việt Nam còn bành trướng và phát triển nhiều mặt về xã hội, văn hóa, xuất bản báo chí, ấn hành sách vở... Tại các đơn vị mục vụ vùng phụ cận ở Sarcelles, Garges, Stains, Pierrefitte, Cergy Pontoise, Ermont, Noisy le Grand và Villiers le Bel ngày một phát triển và mở rộng không ngừng, có nhiều sinh hoạt độc đáo, vui tươi và hào hứng.

Về tài chánh và cơ sở. Các sinh hoạt trên được chạy đều là do nguồn tài chánh mà Ban Thường vụ đã lấy sáng kiến và tổ chức : các bữa cơm chủ nhật, bữa cơm thân hữu vào các dịp tết, hai ngày thân hữu hàng năm và xổ số Tombola... Cơ sở hiện nay còn chật hẹp, nhưng cộng đoàn đã nghĩ đến cần có nơi rộng rãi khang trang hơn để phụng thờ và bảo vệ truyền thống cha ông. Từ 1983, ban giám đốc và Hội Đồng Mục Vụ đã nhiều lần vận động với giáo quyền xin cơ sở mới. Trong khi chờ đợi, Giáo Xứ đã gây quĩ Sổ Vàng được khoảng trên 4 triệu quan. Với số tiền này, chúng ta có quyền hy vọng một ngày mai tốt đẹp hơn.

Trong Giáo Hội Pháp.

Nhờ chính phủ và Giáo Hội Pháp, đặc biệt Giáo phận Paris, mà chúng ta có một chỗ đứng không nhỏ và quan trọng so với các cộng đoàn ngoại kiều khác tại Paris. Giáo Hội Pháp coi chúng ta như người con ruột được cưu mang từ khởi đầu công cuộc truyền giáo vào thời kỳ bắt đạo. Nay vì hoàn cảnh phải xa quê hương.

Mặc dầu Giáo Xứ đã có bằng ấy năm chung sống tại Pháp, theo diễn giả, chúng ta vẫn còn là người ăn nhờ ở đău, chưa tự lập, tự cường được. Chúng ta đã có ban xã hội, xuất bản nguyệt san, có lớp Pháp văn, lớp tiếng Việt... Tại sao mình không công khai để hợp thức hóa như những hiệp hội (associations) để được hưởng qui chế lương bổng và nhiều tài trợ khác. Thiết nghĩ đây cũng là điểm mới cần nghiên cứu và khởi sự cho những ngày sắp tới.

Ông Nguyễn Văn Hộ bổ túc cho đề tài bằng nhận xét là Giáo Xứ vẫn còn nhiều quí ông chưa chịu tham gia hội đoàn. Ông đề nghị lập hội Vincent de Paul hay La Vie Montante cho các ông có đất dụng võ đồng thời làm phong hpú sinh hoạt cộng đoàn.

Sau khi sơ lược những yếu tố thuận lợi cho sự vươn lên và trưởng thành của Giáo Xứ nhờ đào tạo nhân sự cẩn thận, bảo vệ văn hóa toàn diện,cầu nguyện song hành với suy tư chín chắn trong tinh thần keo sơn hợp quần gây sức mạnh. Hai diễn giả đã tạo cho cử tọa một sự tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của Giáo Xứ.

Tràng pháo tay đồng loạt biểu tượng cho tin tưởng mảnh liệt chấm dứt phần hai, để bước sang phần thảo luận, nhiều hào hứng hơn.

23. PHẦN THẢO LUẬN 

Nghe hai phần trình bày trên, cử tọa thêm hăng say vì nhận thấy công việc của Giáo Xứ là của chính mình, của mọi ngưòi. Nên ai cũng muốn góp ý kiến cho Giáo Xứ ngày hoàn hảo hơn.

Luật sư Lê Đình Thông mở đầu phần thảo luận bằng nhận xét khá sâu sắc về Bs Ái va Gs Cảnh trong khi thuyết trình. Bs Ái lúc nào cũng vui tươi, như người đi trước mãn nguyện về công trình để lại cho thế hệ đàn em. Trái lại, Gs Cảnh đôi khi nghẹn ngào vì không biết mình là người nối tiếp có làm tròn nhiệm vụ được trao phó không.

Ông Phạm Bá Nha xin được nhận là người nối tiếp chung với đông đảo người có mặt vận động thêm con cháu đến với Giáo Xứ và quả quyết : viết tiếp những trang sử Giáo Xứ từ năm thứ 51, nếu không đẹp hơn thì ít ra cũng bằng những trang sử trước. Ông Nha còn xác tín không có xứ đạo nào có ban giám đốc và Hội Đồng Mục Vụ tận tụy hy sinh cho cộng đoàn bằng Giáo Xứ Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Thơm dã bỏ rất nhiều công sức ra xây cất nhà Giáo lý trong ba tháng 7, 8 và 9.1996, mà vẫn khiêm tốn cho rằng mình chỉ làm theo khả năng của người có 5 hay 1 nén bạc trong Thánh Kinh và như lời Thánh Phaolô mình chỉ là đầy tớ. Qua kinh nghiệm cần phải liều mới thành công. Trong khi chờ đợi và gây quĩ cho cơ sở mới, ông đề nghị Giáo Xứ mở những nhà cư trú cho khách vãng lai, được miễn thuế, có lợi về lâu về dài.

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh kêu gọi tinh thần ‘’ta về ta tắm ao ta’’. Giáo Xứ là ngôi nhà chung của mọi người và sẵn sàng mở cửa đón tiếp bất cứ ai, không phân biệt giai cấp... đến để cùng nhau xây dựng. Giáo Xứ sẽ dành cho từng người có chỗ đùng hẳn hoi, nơi làm việc đàng hoàng và có ghế ngồi yên tĩnh cầu nguyện.

Ông Nguyễn Đức Minh lo lắng nhiều cho các em Thiếu Nhi Thánh Thể. Nhiều năm phụ trách Thiếu Nhi, ông Minh thấy cộng đoàn cần quan tâm đến thế hệ con em Giáo Xứ... để đem chúng về nguồn, cho chúng tìm lại gốc và thấy được đâu là cội rễ, là truyền thống cha ông. Đoàn Thiếu Nhi cần rất  nhiều sự tiếp tay trong việc dạy giáo lý, tiếng việt và đào tạo huynh trưởng. Đẹp và quảng đại là đến để làm gì cho Giáo Xứ, chứ đừng đến để đòi Giáo Xứ phải làm gì cho mình.

Ông Đặng Mạnh Đĩnh nghĩ sâu xa hơn đến chính ba cháu nhỏ trong gia đình ông, sau đây 20 năm. Làm sao ươm trồng và vun xới cho  những mầm non này sống và vươn lên vừa có văn hóa Việt Nam, vừa có văn hóa tây phương. Gia đình là cành nho cần liên kết với thân nho là Giáo Xứ. Bản thân gia đình ông được hân hạnh đón nhận gia tài ơn phúc qua Giáo Xứ, hứa sẽ trả ơn. Mong sao có nhiều gia đình rộng rãi như vậy.

Ông Nguyễn Veaux và Chị Valette quan tâm đến các ông chưa có hội đoàn và người già cô đơn. Hai vị đồng quan điểm lập hội cho quí ông và tổ chức thăm người già yếu hay tổ chức hành hương cho bệnh nhân. Cha Vinh xác nhận việc thăm bệnh nhân và người già yếu xưa nay vẫn có hội Đạo Binh và các Bà Mẹ Công Giáo làm và làm thật tốt. Chỉ cần lập hội cho quí ông. Sáng kiến và tổ chức cách nào còn chờ ở quí ông. Ban giám đốc rất hoan nghênh và chờ mong. Ls Thông đặt tin tưởng vào khả năng của ông Veaux dư sức xúc tiến việc thành lập một đoàn thể quí ông.

Bà Tố Lan đưa ra nhận xét chính xác là ban giám đốc rất kiên nhẫn, nhậy bén và ghé mắt tới hết mọi người và mọi sinh hoạt trong cộng đoàn. Để bớt gánh nặng cho các ngài, xin đừng lạm dụng lòng tốt của Cha Vinh và các cha khác. Nhân dịp Kim Khánh một dịp tốt đánh động lòng hảo tâm. Bà kâu gọi mở lại Sổ Vàng để đóng góp cho quĩ cơ sở sinh hoạt mới.

Cha Giám Đốc Mai Đức Vinh tỏ ra hài lòng vì có nhiều người đóng góp ý kiến cho việc xây dựng và phát triển Giáo Xứ. Đáp lại những băn khoăn và lo nghĩ trong buổi hội thảo . Cha đua ra một số dự tính cụ thể sau :

-         Vì vấn đề an ninh và di chuyển, chúng ta không thể thực hiện một nơi sinh hoạt cho các em ở ngoài Paris. Trung tâm Rungis rộng rãi có sân và vườn cỏ, sẵn sàng cho chúng ta xử dụng cho mấy trăm em sinh hoạt. Nhưng vì xa và đi lại bất tiện. Chúng ta đành tìm nơi khác trong Paris. Vì thế, Cha kêu gọi các huynh trưởng của đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể về các đơn vị mục vụ ngoại ô tổ chức các đoàn nhỏ. Vì tại đây không thiếu các bạn trẻ có khả năng muốn tiếp tay, đoàn ngũ hóa trẻ em. Hiện nay địa phương đã gửi người về học làm dự bị huynh trưởng. Các em này sẽ trở về địa phương và trở thành nòng cốt cho đơn vị mình.

-         Nhiều lần tòa giám mục đề nghị cho Giáo Xứ một vài nhà thờ dùng làm nơi sinh hoạt. Nhưng tất cả đã không phù hợp với khả năng nhân sự và tài chánh của chúng ta. Số tiền quá khiêm tốn hiện nay, chúng ta chỉ mong khi có nơi nào thuận tiện, dùng để sửa sơ sơ mà xài. Đâu có mộng mua đất và xây nhà thờ. Trong khi chờ giải pháp mới và dịp may khác, Sổ Vàng tiếp tục mở để mọi người đóng góp vào việc chung.

Cha Vinh cám ơn trước, Gs Cảnh cám ơn sau về sự có mặt đông đảo hôm nay và tham gia tích cực của bà con trong phần thảo luận. Ai cũng cho buổi hội thảo lần này có nhiều kết quả tốt.

 

LỜI KẾT 

Qua những dòng vắn tắt trên đây trình bày về lịch sử non trẻ mà kỳ cựu của Giáo xứ Việt Nam Paris, với cái nhìn giáo luật, Cha Mai Ðức Vinh đã chia lịch sử giáo xứ làm ba thời kỳ : Thời kỳ ‘Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp’ (1947-1952) tự lập, chưa được chính thức công nhận ; Thời kỳ ‘Tổ chức Truyền Giáo Việt Nam tại Pháp’ (1952-1977), chưa có qui chế rõ rệt cho các linh mục làm mục vụ, Tổng giáo phận Paris chưa trực tiếp giúp đỡ về tài chánh ; Thời kỳ ‘Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris’ (1977-1997), Các linh mục làm mục vụ đã có qui chế rõ rệt là « cha sở » hay « cha phó » và được trả lương. Một cái nhìn thực tế và quản trị dựa trên căn bản lượng và phẩm của những hoạt động và tổ chức, sẽ chỉ chia lịch sử giáo xứ làm hai thời kỳ. Thời kỳ khai sinh và lớn lên 1947-1980 với Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam 1947-1952, Ðoàn Sinh viên công giáo, Tổ chức truyền giáo Việt Nam 1952-1977, Cải tổ LDCGVN 1954, Hội Ðạo Binh Ðức Mẹ 1970, Hội các bà mẹ công giáo 1971, người Việt Nam đến Pháp tỵ nạn, 1975, Ðại diện Ủy Ban Giám Mục Ngọai kiều bên các tuyên úy Việt nam tại Pháp và Giao xứ Việt Nam 1977, Cộng Ðoàn Sarcelles 1977. Thời kỳ trưởng thành và phát triển 1980-2007 với sự tăng cường sinh hoạt cầu nguyện và sống đạo, tổ chức Hội Ðồng Mục Vụ, mục vụ giáo lý, mục vụ phụng tự, mục vụ bí tích, thành lập những họ lẻ Garges, Stains-Pierrefitte, Cergy-Pontoise, Ermont, Noisy-le-Grand, Marne-La-Vallée, Villiers-le-Bel, Antony, thành lập những hoạt động công giáo tiến hành khác biệt và phong phú, thắt chặt tương quan với Hội Liên Tu Sĩ VN tại Pháp, thắt chặt tương quan với Giáo Hội Mẹ Việt Nam, thắt chặt tương quan với Giáo Hội Pháp, thắt chặt tương quan với Các Cộng Ðoàn CGVN trên thế giới.

Từ 1997 đến hôm nay, 2007, 10 năm đã trôi qua, hiện tại có bình thản cuốn vào quá khứ và mở ra tương lai theo cùng một nhịp độ, cùng một chất lượng và cùng một phẩm tính không ? Giáo xứ, trên nền tảng đã được khai sinh và lớn lên trong 33 năm đầu (1947-1980), đã trưởng thành trong 17 năm tiếp theo (1980-1997) có sẽ vẫn tiếp một nhịp phát triển cho 10 năm tiếp (1997-2007) không ?  Trong bài 3 sắp tới, chúng ta sẽ tìm những yếu tố trả lời cho những câu hỏi này.

 

Paris, ngày 22.02.2007

Trần Văn Cảnh


[1] Mai Ðức Vinh ; Lời mở đầu ; trong : Kỷ  yếu 50 năm thành lập Giáo Xứ Việt Nam tại Paris ; 1997 ; tr. 6 và 37. 

[2] Kỷ  yếu 50 năm thành lập Giáo Xứ Việt Nam tại Paris ; 1997 ; tr. 35-36 và Trần Văn Cảnh : Hội Ðồng Mục vụ ; Paris ; Giáo xứ Việt Nam ; 2004 ; tr. 13-21 

[3] Giáo Xứ Việt Nam, số 136, ngày  01.07.97  

[4] Vân Uyên ;  Hương thơm kỷ  niệm, trong : Kỷ  yếu 50 năm thành lập Giáo Xứ Việt Nam tại Paris ; 1997, tr. 79

Tác giả Gs. Trần Văn Cảnh

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!