Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay
Gaudium Et Spes
|
Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học
Viện Piô X
Prepared for Internet by Vietnamese
Missionaries in Asia
Chương II
Cộng Ðoàn Nhân Loại
26*
23. Mục Ðích Công Ðồng nhắm tới.
Trong những khía cạnh chính yếu của thế giới hôm nay phải kể tới
sự gia tăng những mối tương quan giữa con người với nhau, mà
những tiến bộ kỹ thuật ngày nay đóng góp rất nhiều vào việc phát
triển sự gia tăng ấy. Tuy nhiên, cuộc đối thoại huynh đệ giữa
con người được hoàn hảo không phải ở trong những tiến bộ ấy,
nhưng một cách sâu xa hơn trong cộng đoàn nhân loại. Cộng đoàn
này đòi hỏi phải có sự tôn trọng tất cả phẩm giá thiêng liêng
của nhau. Mạc khải Kitô giáo giúp nhiều vào việc cổ võ cho sự
hiệp thông giữa các nhân vị, đồng thời cũng đưa ta tới chỗ hiểu
biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội mà Tạo Hóa
đã in vào bản tính thiêng liêng và luân lý của con người.
Bởi vì những tài
liệu mới đây của Giáo Quyền đã trình bày sâu rộng hơn lý thuyết
Kitô giáo về xã hội con người1,
nên Công Ðồng chỉ nhắc lại một ít chân lý chính yếu và Công Ðồng
trình bày những nét căn bản của các chân lý ấy dưới ánh sáng của
Mạc Khải. Tiếp đến, Công Ðồng nhấn mạnh tới một vài hậu quả xét
là quan trọng hơn ở thời đại chúng ta.
24. Ðặc tính cộng đoàn của thiên chức
con người trong ý định Thiên Chúa. Lấy tình Cha
săn sóc mọi người, Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải
làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ.
Bởi vì mọi người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa là
Ðấng đã "cho tất cả nhân loại do một nguyên tổ cư ngụ trên khắp
mặt đất" (CvTđ 17,26), nên họ đều được gọi tới cùng một cứu cánh
duy nhất là chính Thiên Chúa.
Do đó yêu mến Thiên
Chúa và anh em là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Thánh Kinh
dạy ta rằng tình yêu mến Thiên Chúa không thể tách rời với tình
yêu anh em: "...nếu có điều răn nào khác đi nữa cũng gồm tóm
trong lời này: hãy thương yêu anh em như chính mình... Thương
yêu là chu toàn luật pháp vậy" (Rm 13,9-10; x. 1Gio 4,10). Ðiều
nói trên cũng được nhận là quan trọng nhất đối với con người mỗi
ngày một lệ thuộc nhau hơn cũng như đối với thế giới ngày càng
hiệp nhất lại.
Hơn nữa, khi cầu
nguyện với Chúa Cha: "xin cho mọi người nên một..., như chúng ta
là một" (Gio 17,21-22), Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng mà lý
trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chúa Giêsu đã
nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên
Chúa với sự kết hợp của các con cái Chúa trong chân lý và đức
ái. Sự tương tự này cho thấy con người, tạo vật duy nhất ở trần
gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ, chỉ có thể gặp lại
chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân
2.
25. Sự lệ thuộc giữa con người và xã
hội. Ðặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sự
thăng tiến của con người và sự phát triển của xã hội lệ thuộc
nhau
27*. Thực vậy, nhân vị chính là và phải là nguyên lý,
chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất
nhân vị phải hoàn toàn cần đến đời sống xã hội
3. Cho nên vì đời sống xã hội đối với con người không
phải là một cái gì phụ thuộc, do đó nhờ trao đổi với người khác,
nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, con người được
tăng triển mọi khả năng của mình và có thể đáp ứng được thiên
chức của mình.
Giữa những mối liên
hệ xã hội cần thiết để con người được phát triển, có những mối
liên hệ đáp ứng được bản tính sâu xa của con người một cách trực
tiếp hơn, đó là gia đình và cộng đoàn chính trị; cũng có những
mối liên hệ phát sinh do ý muốn tự do của con người. Trong thời
đại chúng ta, nhiều nguyên nhân làm cho những mối tương quan và
lệ thuộc nhau mỗi ngày một tăng thêm; do đó phát sinh nhiều hiệp
hội và những tổ chức khác nhau, công hay tư xét về phương diện
pháp lý
28*. Sự kiện này được mệnh danh là xã hội hóa, không
phải là không có những nguy hại, tuy nhiên cũng đem lại nhiều
lợi ích lớn lao để củng cố cũng như làm gia tăng những đức tính
của con người và bảo đảm những quyền lợi của con người
4.
Nhưng nếu đời sống
xã hội giúp nhiều cho con người chu toàn sứ mệnh của mình kể cả
sứ mệnh tôn giáo nữa, thì ta cũng không thể phủ nhận rằng con
người vì những hoàn cảnh xã hội họ đang sống và tiêm nhiễm ngay
từ thuở thiếu thời, nên nhiều khi xa lánh không làm điều thiện
và bị lôi kéo làm điều ác. Chắc chắn những xáo trộn rất thường
xảy ra trong phạm vi xã hội một phần phát sinh từ chính tình
trạng căng thẳng giữa những tổ chức kinh tế, chính trị và xã
hội. Nhưng sâu xa hơn, những xáo trộn trên phát sinh do ích kỷ
và kiêu căng của con người, đó cũng là những nguyên nhân làm cho
môi trường xã hội ra vẩn đục. Một khi trật tự xã hội bị đảo lộn
do hậu quả của tội lỗi, thì con người, bẩm sinh đã nghiêng chiều
về sự xấu, lại gặp phải những cám dỗ mới để phạm tội. Những cám
dỗ này nếu không có cố gắng liên lỉ và không có ơn thánh trợ
giúp sẽ không thể lướt thắng được.
26. Bổn phận mưu cầu công ích.
Sự lệ thuộc nhau mỗi ngày một chặt chẽ hơn và dần dần lan rộng
trên toàn thể thế giới, vì thế công ích - tức là toàn bộ những
điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những
phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy
đủ và dễ dàng hơn - ngày nay mỗi lúc một nới rộng tầm phổ quát
hơn và do đó bao hàm những quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể
nhân loại. Bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và
nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn thế nữa, phải
tôn trọng công ích của toàn thể gia đình nhân loại
5.
Nhưng đồng thời con
người càng ngày càng ý thức hơn về phẩm giá cao trọng vốn có của
mình, bởi vì con người vượt trên mọi loài và vì những quyền lợi
cũng như bổn phận của con người là phổ quát và bất khả xâm phạm.
Vậy cần phải cho con người được tất cả những gì thiết yếu mà con
người phải có để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo
quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia
đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền bảo tồn danh
thơm tiếng tốt, quyền được kính trọng, quyền thông tin xứng hợp,
quyền hành động theo tiêu chuẩn chính thực của lương tâm mình,
quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng cả trong phạm
vi tôn giáo nữa.
Bởi vậy, trật tự xã
hội và tiến bộ của nó phải luôn luôn nhằm ích lợi của các nhân
vị, bởi vì trật tự của muôn vật phải lệ thuộc vào trật tự của
các nhân vị chứ không ngược lại. Ðiều này chính Chúa đã ám chỉ
khi Người nói rằng ngày nghỉ được lập ra vì con người chứ không
phải con người được dựng nên vì ngày nghỉ
6. Trật tự này phải phát triển mỗi ngày một hơn, phải
đặt nền tảng trên chân lý, xây dựng trong công bình, nuôi sống
nhờ tình yêu; phải dần dần tìm được trong tự do sự quân bình mỗi
ngày mỗi hợp với nhân bản hơn
7.
29* Ðể chu toàn được những điều trên, phải có sự đổi
mới tâm thức và những thay đổi sâu rộng trong xã hội.
Thánh Thần Chúa,
Ðấng điều khiển những biến chuyển thời gian và canh tân bộ mặt
trái đất với sự quan phòng kỳ diệu, đang hiện diện trong cuộc
tiến hóa này. Men Phúc Âm đã và đang làm dậy lên trong lòng con
người sự đòi hỏi phải có nhân phẩm, một đòi hỏi không thể cưỡng
chế được.
27. Tôn trọng nhân vị.
Ðể đi tới những kết luận thực hành và cần thiết hơn, Công Ðồng
nhấn mạnh về sự tôn trọng con người. Vậy mỗi người đều phải coi
người đồng loại không trừ một ai như "cái tôi thứ hai", cho nên
trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ và quan tâm đến những
phương tiện cần thiết giúp họ sống một đời sống xứng đáng
8, chứ đừng bắt chước người giàu có kia đã không săn
sóc gì tới người nghèo Lazarô
9.
Nhất là thời nay,
chúng ta có bổn phận khẩn thiết phải trở nên người lân cận của
bất cứ người nào và tích cực giúp đỡ khi họ đến với mình, hoặc
có thể là một người già lão bị mọi người bỏ rơi, hoặc là một
công nhân ngoại quốc bị khinh bỉ một cách bất công, hoặc là một
người lưu vong, hay một đứa bé sinh ra do cuộc tình duyên bất
hợp pháp chịu đau khổ cách bất công vì tội lỗi mình không phạm,
hoặc một người đói ăn đang kêu gọi lương tâm chúng ta, làm vang
lại lời của Chúa: "Bao nhiêu lần các ngươi làm những việc đó cho
một trong những người hèn mọn là anh em Ta đây, tức là các ngươi
làm cho Ta vậy" (Mt 25,40).
Ngoài ra, tất cả
những gì đi ngược với chính sự sống, như giết người dưới bất cứ
hình thức nào, diệt chủng, phá thai
30*, giết chết cách êm dịu
31*, hoặc tự tử trực tiếp; tất cả những gì xâm phạm sự
toàn vẹn của con người, như cắt bỏ một phần thân xác, hành hạ
thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý; tất cả những gì xúc
phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ
phải có của con người, giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, mãi dâm,
buôn bán phụ nữ và trẻ con; kể cả những tình trạng làm việc nhục
nhã khiến cho công nhân hoàn toàn trở thành dụng cụ cho lợi lộc,
chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm: tất cả
những điều nói trên và những điều tương tự đều thực sự ô nhục.
Và trong khi làm thối nát nền văn minh nhân loại, thì tất cả
những điều trên lại càng bôi nhọ chính những kẻ chủ động hơn là
bôi nhọ những kẻ phải chịu sự nhục mạ, đồng thời cũng xúc phạm
nặng nề đến danh dự của Ðấng Tạo Hóa.
Chú Thích:
(lưu ý:
những số ghi chú nhỏ hơn đã được đăng vào những số báo trước)
26* Chương này bổ
túc chương I.
1) Con người có bản tính xã hội, theo ý Ðấng Tạo Hóa:
con người đều bởi một Chúa, đều là một loại, đều có chung một
cùng đích. Lời Chúa mạc khải: như trong điều răn thứ nhất, trong
ý nguyện của Chúa Giêsu cũng như trong tính cách con cái một
Thiên Chúa Ba Ngôi cũng xác nhận điều ấy (số 24).
2) Do đó con người cần nhờ xã hội để phát triển. Xã hội
là để phục dịch con người. Nhưng nếu con người không sinh hoạt
trong xã hội vì công ích thì không có xã hội. Sự nhượng bộ lợi
ích riêng cốt để nhờ công ích xã hội mà giúp đỡ từng cá nhân.
Ðàng khác nhiều khi lý tưởng đó còn xa vời: do thiếu sót về kinh
tế, về chính trị, về xã hội (lắm lúc do tội ích kỷ và kiêu ngạo
gây nên). Trong trường hợp ấy xã hội làm thiệt hại cho con người
(số 25).
3) Nên phải tôn trọng ích chung của cả thế giới cốt cổ
võ quyền lợi căn bản cá nhân. Cần phải canh tân tâm trạng dưới
ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần và theo tinh thần Phúc Âm (số 26).
4) Phải tôn trọng nhân vị mọi người. Công Ðồng nhắc tới
một số người thường vẫn chưa được tôn trọng, và một số tội lỗi
của xã hội ngày nay là vết nhơ cho nền văn minh và cho chính kẻ
phạm tội đó; những tội lỗi đó quả thực làm ô danh Thiên Chúa (số
27).
5) Không tiêu diệt đối phương: tôn trọng nghĩa là tìm
hiểu và đối thoại, là lên án sự sai lầm chứ không xét đoán ý kín
đáo của kẻ sai lầm. Hơn nữa, ta phải yêu thương kẻ làm hại ta
(số 28).
6) Phải công nhận mọi người đều bình đẳng về quyền lợi
căn bản vì cùng một bản tính, một nguyên thủy, một cùng đích và
cũng được cứu chuộc như nhau. Nên, phải loại trừ mọi phân biệt
về quyền lợi đó trên phạm vi cá nhân, trong sinh hoạt xã hội,
văn hóa và chính trị dù có những sự khác biệt phụ thuộc (số 29).
7) Luân lý cá nhân phải nhượng bộ cho luân lý nhấn mạnh
về nhiệm vụ xã hội: Công Ðồng vừa diễn tả thái độ theo luân lý
xã hội, vừa nêu ra vài thí dụ cụ thể trái ngược với luân lý ấy
(số 30).
8) Ðể được như vậy phải giáo dục xã hội và canh tân
trạng huống sinh hoạt. Công dân phải lần lần góp phần vào đời
sống chính trị (số 31). Hoạt động và lời Chúa mạc khải xác nhận
khía cạnh xã hội của con người: đặc biệt khi tập trung loài
người như anh em, như chi thể của một thân thể. Tình liên đới ấy
sẽ hoàn thiện hóa ở đời sau (số 32).
27* Ðiều hòa
quyền lợi của xã hội (số 26) và quyền lợi cá nhân (số 27) trong
thực tế rất khó, chẳng hạn thật là rất nguy hiểm nếu dựa trên
tiêu chuẩn về lượng để xét định những đòi hỏi của công ích.
Những bảng thống kê về kết quả kinh tế xã hội (sự gia tăng sản
xuất, mức độ sinh hoạt, công trình thịnh vượng, trừng phạt tội
trạng, v.v...) đã có thể vi phạm nhân vị dù chưa nói gì về
phương pháp được xử dụng. Trong trường hợp ấy các kết quả mỹ mãn
đó không phục vụ công ích! Làm hại hay tiêu diệt các nhóm thiểu
số để đạt tới mục tiêu của đa số cũng là một ví dụ (x. số 59,
73).
28* Gọi là chế độ
"công pháp hay tư pháp" tùy theo liên quan đến ích lợi chung hay
ích lợi riêng. Ví dụ hệ thống tư pháp cũng có tính cách công
pháp vì là cần thiết cho công ích. Hệ thống đó nhằm bảo vệ những
quyền lợi riêng của từng cá nhân hay của từng pháp nhân (chính
quốc gia cũng có quyền lợi riêng như vậy): những quyền lời ấy
thuộc về tư pháp.
29* Không những
sự giao thiệp giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với quốc
gia, mà cả những hoạt động của chính quyền và của các quốc gia
với nhau cũng phải dựa trên bốn cột trụ này: chân lý, công bình,
tình yêu, tự do. Phải chăng Công Ðồng có lý khi đòi hỏi phải
canh tân tâm trạng và đổi mới ngay chính xã hội nữa.
30*
Phá thai là tội trọng đi ngược với sự sống (MV 51b). Giết thai
nhi khi chưa thành hình (chừng 6 tuần đầu) có lẽ không phải sát
nhân (thần học cũng như khoa học chưa chắc chắn về vấn đề thai
nhi ấy đã sống do linh hồn nhân loại chưa), nhưng chắc chắn sự
phá thai đó là giết mạng sống đã có đặc tính nhân loại. Hơn nữa
vì có lẽ đã có linh hồn nhân loại rồi, nên phá thai là liều lĩnh
giết người và đó là một tội, và sát hại một kẻ không những hoàn
toàn vô tội mà còn là đứa con của chính kẻ sát nhân. Dù trường
hợp người mẹ rất nguy, cũng không thể giết thai nhi để cứu mẹ:
mạng sống của thai nhi cũng như của chính người mẹ là thuộc
quyền của Chúa: không ai có quyền cắt đi. Không bao giờ được
phép làm sự dữ, dù với mục đích tốt lành. Chẳng may, vì lý do có
nhiều vụ phá thai bất hợp pháp và làm trong những hoàn cảnh
thiếu cẩn thận (nhiều khi do người không phải là bác sĩ và thiếu
phương tiện), thì có quốc gia lập luật cho phép phá thai với một
số điều kiện bảo đảm. Phải hiểu rõ là dù có luật như thế đi
chăng nữa, "cho phép" chỉ có thể có nghĩa là luật pháp không coi
vụ phá thai đó là tội trạng mà các tòa án phải trừng phạt; chứ
không có nghĩa phá thai không phải là tội. "Phá thai... là tội
ác đáng ghê tởm" (MV 51c). Giáo Hội phạt tội này với vạ tuyệt
thông cho tất cả những ai góp phần hiệu lực cho việc phá thai.
31*
Tức là làm cho những người bệnh nặng, tàn tật, già nua, mau chết
để khỏi phải kéo dài sự đau đớn. Hành động có vẻ nhân đạo nhưng
thực sự là tội sát nhân, và tỏ lòng ích kỷ (bệnh nhân nào lại
không quấy rầy kẻ chung quanh) hơn là tỏ lòng bác ái.
32*
Sự lầm lạc vẫn đáng ghét vì không hợp với bản tính con người đã
có lý trí để hiểu biết sự thật. Sự lầm lạc trong phạm vi luân lý
nhất là do tội còn đáng ghét hơn nữa vì nó làm cho con người nên
xấu xa và có thể ảnh hưởng trên người khác rất nhiều. Nhưng
chính người lầm lạc vẫn còn là con người phải được tôn trọng.
"Lầm lẫn thì không có quyền lợi": nghĩa là bản tính con người
đòi hỏi rằng phải nỗ lực để loại trừ sự lầmlạc. Dĩ nhiên chỉ con
người mới có thể có quyền lợi. Thế thì kẻ lầm lạc không có quyền
để lầm lạc, nhưng vẫn có quyền để được kính trọng như con người,
mặc dầu đã lầm lạc (về vấn đề này Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo
còn nói rõ hơn).
còn tiếp |
VỀ MỤC LỤC |
|
NỀN TẢNG CỦA HIỆP THÔNG |
NỀN TẢNG CỦA HIỆP THÔNG
Đọc lại Kinh thánh, chúng ta thấy con người
đã được dựng nên trong một tình trạng cân đối và hài hòa, bởi vì
lúc bấy giờ con người được :
- Hiệp thông và gắn bó với Thiên Chúa. Sự
hiệp thông và gắn bó này được diễn tả bằng hình ảnh Adong Eva
sống trong vườn địa đàng và Thiên Chúa thường hiện ra để nói
chuyện với hai ông bà.
- Hiệp thông và gắn bó với nhau. Sự hiệp
thông và gắn bó này được diễn tả bằng hình ảnh Eva xuất hiện từ
chiếc xương sườn của Adong và cả hai trở nên một xương một thịt.
(St 2,8-17).
Thế nhưng, vì kiêu căng muốn trở nên bằng
Thiên Chúa, con người đã quay lưng chống lại Ngài. Chính sự phản
bội đầu tiên này đã :
- Bẻ gẫy sự hiệp thông và gắn bó với Thiên
Chúa : hai ông bà tự ý cắt đứt mối liên hệ với Đấng là tình yêu
(1Gio 4,16), là nguồn hiệp nhất.
- Bẻ gẫy sự hiệp thông và gắn bó với nhau :
trong hôn nhân bằng việc ly dị và đa thê, giữa anh em bằng lòng
ghen tương sát hại (St 4), ngoài xã hội bằng sự bất đồng ngôn
ngữ (St 11,1-9).
Vốn là tình yêu, nên Thiên Chúa đã đi bước
trước đến với con người để cứu vãn sự đổ vỡ này cũng như để tái
lập sự hiệp thông và gắn bó ấy, Thiên Chúa đã tuyển chọn dân Do
Thái và trao cho họ giao ước được đóng ấn trong đức tin (Os
2,22), nhờ họ Ngài tỏ mình và kết hợp muôn dân trong một sự
phụng thờ duy nhất.
Tuy nhiên, phải chờ cho đến khi Đức Kitô,
Con duy nhất của Ngài, xuống thế làm người, thì nhịp cầu nối
trời và đất mới được hoàn thành. Sự hiệp thông và gắn bó giữa
con người và Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau được
Ngài thực hiện trong Giáo hội, bởi vì Ngài liên kết những ai yêu
mến và tin vào Ngài bằng cách ban cho họ Thần Khí (Rm 5,5), nuôi
dưỡng họ bằng một tấm bánh là thân xác Ngài làm hy tế trên thập
giá (1Cor 10,16). Như thế, Ngài làm cho tất cả các dân tộc trở
nên một thân xác (Eph 2,14-18), các tín hữu thành chi thể Ngài.
Nhờ Ngài, sự hiệp thông và gắn bó được tái lập trên mọi lãnh vực
:
- Với Thiên Chúa bằng việc xóa bỏ tội lỗi.
- Với nhau bằng việc Thần Khí biến họ thành
con cái của một Cha chung (Rm 8,14) và cùng một trái tim, một
tâm hồn, họ đồng thanh ca tụng Cha mình (Rm 15,5; Cvtđ 2,4-11).
Tóm lại, nhờ đức tin con người nhận biết
Thiên Chúa duy nhất : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Họ
hướng đến đức ái liên kết Chúa Cha với Chúa Con và là đức ái do
Thần Khí thông ban cho họ (Gio 15,9; Rm 5,5). Khi liên kết với
Thiên Chúa, đức ái làm cho họ trở thành chứng nhân của Ngài trên
trần gian và thành cộng tác viên thực hiện ý định của Ngài, tức
là liên kết mọi người và toàn thể vũ trụ vào trong Người Con duy
nhất (Rm 8,29; Eph 1,5)
Từ những sự việc trên, chúng ta rút ra
những điểm căn bản sau đây :
1- Đức Kitô và
Chúa Thánh Thần chính là nguyên lý của sự hiệp thông.
“…Ngay từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã tạo
dựng một bản tính nhân loại duy nhất và quyết định sau này tập
họp tất cả con cái Ngài tản mát đó đây thành một dân tộc duy
nhất. Chính vì mục đích ấy mà Thiên Chúa đã sai Con Ngài xuống,
Đấng mà Ngài đã đặt làm thừa kế vũ trụ (Dth 1,2), hầu trở nên
Thày, Vua, Linh mục cho mọi người và nên thủ lãnh của dân tộc
mới và phổ quát của con cái Thiên Chúa. Sau cùng, cũng vì mục
đích đó mà Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con Ngài, là Chúa và
là Đấng ban sự sống. Đối với toàn Giáo hội, với tất cả cũng như
với mỗi tín hữu, Thánh Thần là nguyên lý qui tụ và hiệp nhất
trong giáo lý của các Tông Đồ, trong sự hiệp thông, bẻ bánh và
kinh nguyện (Cvtđ 2,42).
2- Chúa Ba Ngôi là khuôn
mẫu cho sự hiệp thông
Ba ngôi Thiên Chúa là hình ảnh lý tưởng
nhất cho sự hiệp thông, bởi vì Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng vẫn
luôn hiệp thông cùng nhau trong cùng một bản tính. Với chúng ta
cũng vậy, mặc dù có những khác biệt, nhưng chúng ta vẫn có thể
và phải tiến đến một sự hiệp thông chân thành bằng cách tìm hiểu
và tôn trọng những khác biệt của nhau. (HN số 15).
ĐỐI TƯỢNG CỦA SỰ HIỆP THÔNG
Chúng ta vốn thường nói : con người đầu đội
trời, chân đạp đất. Vì thế, sống trong cuộc đời, chúng ta có hai
bổn phận phải chu toàn, đó là bổn phận đối với trời và bổn phận
đối với đất, hay cụ thể hơn, đó là bổn phận đối với Thiên Chúa
và bổn phận đối với anh em đồng loại. Trong phạm vi hiệp thông
cũng vậy : chúng ta phải hiệp thông với Chúa và với nhau. Sự
hiệp thông này được đặc biệt thực hiện trong lòng Giáo hội, bởi
vì Giáo hội chính là bí tích của sự hiệp thông, nói cách khác
Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là phương thế hiệp thông giữa con
người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau.
1. Hiệp thông giữa con người và
Thiên Chúa.
“Sự kiện toàn thể nhân loại làm nên một gia
đình duy nhất, dựa trên một nguồn gốc chung, vì tất cả mọi người
nam, nữ đều được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Bên
cạnh đó, mọi người đều có một vận mệnh chung, vì mọi người đều
được gọi để hoàn thành cuộc đời mình nơi Thiên Chúa, mà trung
tâm là Đức Giêsu Kitô, Đấng “đã tự kết hợp với mỗi người một
cách nào đó” (cf. RH, số 13; MV, số 22) trong công cuộc nhập thể
của Ngài” (DV, số 28)..
Đức Giêsu, là Chúa thật
và là người thật, được sai đi bởi Thiên Chúa của sự hiệp thông,
Ngài đã thiết lập sự hiệp thông giữa trời và đất trong chính
thân thể của Ngài (Ecclesia in Asia, số 13). Ngài đã hòa giải
nhân loại với Thiên Chúa nhờ việc mang lại ơn tha thứ tội lỗi
(Ep 1, 7). Ngài đã liên kết dân Do Thái và dân ngoại thành một,
phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét để tạo nên một nhân
loại mới (Ep 2, 13- 18).
“…ngõ hầu anh em được
hiệp thông với chúng tôi. Nhưng sự thông hiệp của ta là thông
hiệp với Cha và với Con của Người, Đức Giêsu Kitô” (1Ga 1, 3).
Chúng ta là con cái
Thiên Chúa (1Ga 3, 1. 2. 10), được sinh ra bởi Thiên Chúa (1Ga
2, 29; 3, 9; 4, 7; 5, 1. 4. 18).
Đức Kitô đã mạc khải
cho chúng ta biết : Thiên Chúa là một người Cha giàu lòng
thương xót (cf. 2Cr 1, 3), Ngài đặc biệt gần gũi với con người,
nhất là khi con người gặp khổ đau, bị đe dọa. Chính Thiên Chúa
đến với con người trước và chỉ cho con người đường nẻo để con
người có thể đến với Ngài : Chưa có ai đã từng thấy được Thiên
Chúa. Người Con duy nhất, Đấng ở trong lòng Cha, Ngài đã tỏ Cha
ra (cf. Ga 1, 18). Nơi Đức Kitô, con người được gặp gỡ Thiên
Chúa. Đức Kitô làm cho mọi sự được tái tạo (cf. Ep 1, 12); trở
nên anh em với nhau, không còn Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự
do, nam hay nữ, vì anh em tất cả là một trong Đức Kitô (cf. Gl
3, 28).
“Như Đức Kitô dấn mình
trong sự sống và tình yêu của Chúa Cha, cộng đoàn các môn đệ
cũng phải dìm mình trọn vẹn trong sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi
và sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nhờ mối hiệp thông
này, cộng đoàn các môn đệ tiến đến việc chia sẻ tình yêu và sự
sống của Thiên Chúa với kẻ khác cách đáng tin hơn, và chuyển
mang sức mạnh của Nước Thiên Chúa vào các thực tại Á Châu cách
hữu hiệu hơn” (Là môn đệ Đức Kitô tại Á Châu hôm nay, Tuyên ngôn
của LHHĐGMAC, 1/ 1995, số 14).
2. Hiệp thông
giữa con người với nhau.
“Nếu ta yêu mến nhau, thì Thiên Chúa lưu
lại trong ta, và nơi ta, lòng mến của Người đã được thành toàn”
(1Ga 4, 12).
Những tiến bộ khổng lồ về khoa học và kỹ
thuật đã giúp con người trở nên chủ nhân ông của trái đất và đã
thống trị nó (cf. St 1, 28). Việc thống trị này đôi khi được
hiểu một chiều và xem ra không còn chỗ đứng cho tình thương nữa.
Trong khi đó, Giáo hội chính là dụng cụ Thiên Chúa dùng để thực
hiện việc hiệp nhất. (cf. GH, số 1).
Tất cả mọi người đều được tạo dựng theo
hình ảnh Thiên Chúa. Do đó, mọi người đều là anh em, dù thuộc
chủng tộc hay văn hóa nào đi nữa và cùng tạo nên một gia đình vì
đều gọi Thiên Chúa là Cha.
Để khẳng định chúng ta hợp nhất thành một
gia đình, sách Sáng thế còn cho chúng ta thấy Adong Eva là khởi
điểm duy nhất của cả nhân loại. Vì thế, chúng ta là anh chị em
ruột với nhau, nên không bao giờ được khinh bỉ hay loại trừ một
ai. Hành động như vậy là tự khinh bỉ và loại trừ chính mình.
Tuy nhiên trong việc hiệp thông giữa con
người với nhau, là người tín hữu chúng ta cần phải lưu tâm :
a- Hiệp thông trong nội bộ Giáo hội.
Chúng ta thường bảo : Phải tu thân, tề gia
trước đã rồi sau đó mới trị quốc và bình thiên hạ. Nếu Giáo hội
là dụng cụ để thực hiện sự hiệp thông, thì trước hết sự hiệp
thông ấy phải có trong lòng Giáo hội :
- Hiệp thông với Đấng kế vị thánh
Phêrô :
Đọc lại Phúc âm chúng ta nhận thấy Chúa
Giêsu đã xây dựng Giáo hội trên đá tảng Phêrô : “Còn Thày, Thày
bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá
này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày…” (Mt 16,18). Ngài cũng đã
trao cho Phêrô quyền chăn dắt toàn thể Giáo hội : “Hãy chăm sóc
chiên của Thày”.
Chính trong chiều hướng ấy, Công đồng đã
xác quyết : “Để chức Giám mục được duy nhất và không bị phân
chia, Chúa đã đặt thánh Phêrô làm thủ lãnh các Tông đồ khác, và
trong Ngài, Chúa đã đặt nguyên lý cùng nền tảng vĩnh cửu và hữu
hình của hiệp nhất đức tin và hiệp thông. Thánh Công đồng một
lần nữa nêu lên cho mọi tín hữu tin vững vàng giáo lý về sự
thiết lập, sự trường tồn, về quyền lực và quan niệm của quyền
tối thượng nơi Giáo hoàng Rôma cùng quyền giáo huấn bất khả ngộ
của ngài” (GH số 18).
- Hiệp thông với Giám mục giáo phận.
“Thánh Phêrô và các Tông đồ khác tạo thành
một cộng đoàn Tông đồ duy nhất theo như Chúa đã ấn định; tương
tự như thế, Giáo hoàng Rôma, Đấng kế vị Phêrô, cùng với các Giám
mục, là những người kế vị các Tông đồ, đều liên kết với nhau.
Đặc tính và bản chất cộng đoàn của hàng Giám mục được biểu lộ
qua luật lệ cổ truyền: theo đó, Giám mục trên khắp hoàn cầu
thông hiệp với nhau và với Giám mục Rôma bằng mối dây hiệp nhất,
bác ái và bình an” (GH số 22). Đầu mối sự duy nhất là Chúa Kitô,
và đầu mối hữu hình là Đức Thánh cha, là Giám mục giáo phận.
“Giáo phận là sự hiệp thông của các cộng
đoàn chung quanh vị mục tử; trong đó giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân
tham gia cuộc đối thoại bằng đời sống và bằng tâm hồn, cuộc đối
thoại được Chúa Thánh Thần nâng đỡ. Giáo phận là nơi ưu tiên cho
ta thấy cụ thể hình ảnh sự hiệp thông của các cộng đoàn giữa bao
thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hóa vô cùng phức tạp
của Á Châu”. (Ecclesia in Asia số 25)
Chúng ta có thể nói được rằng Linh mục
chính là hiện thân của Giám mục trong cộng đoàn mình coi sóc :
“Trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương,
Linh mục là hiện thân của Giám mục mà các ngài hằng liên kết với
lòng tin tưởng và quảng đại, lãnh nhận phần chức vụ cùng chia sẻ
nỗi lo lắng của Giám mục và hằng ngày ân cần thi hành chức vụ
ấy.” (GH số 28).
Vì thế, Linh mục cần phải gắn bó và cộng
tác mật thiết với Giám mục, coi Giám mục như là người cha của
mình :
“Là cộng sự viên khôn ngoan, là phụ tá và
là dụng cụ của hàng Giám mục, Linh mục được kêu gọi để phục vụ
dân Thiên Chúa. Các ngài hợp với Giám mục mình tạo thành Linh
mục đoàn duy nhất với nhiều chức vụ khác nhau.” (GH số 28).
“Vì tham dự vào chức Linh mục và vào sứ
mệnh của Giám mục, Linh mục phải thực sự xem ngài như cha mình
và phải kính cẩn vâng phục ngài.” (GH số 28)
Đồng thời Giám mục phải coi các linh mục là
như con cái và bạn hữu :
“Phần Giám mục cũng phải coi sóc các linh
mục cộng tác với mình như con cái và bạn hữu, như Chúa Kitô
không gọi môn đệ là tôi tớ, nhưng là bạn hữu (Gio 15,15).” (GH
số 28).
- Hiệp thông giữa các linh mục với
nhau.
“Một tình huynh đệ thắm thiết nối kết tất
cả các linh mục với nhau, vì cùng tham dự một chức thánh và một
sứ mệnh chung. Tình huynh đệ đó phải được bộc lộ một cách tự
phát, tự nguyện qua sự tương trợ cả tinh thần lẫn vật chất,
trong phạm vi mục vụ cũng như trong phạm vi cá nhân, trong các
buổi hội họp, cũng như trong sự hiệp thông với nhau qua đời
sống, việc làm và tình bác ái” (GH số 28).
- Hiệp thông
giữa giáo dân với nhau.
“Giáo hội do Chúa thiết
lập được tổ chức và điều khiển theo nhiều thể thức khác biệt rất
lạ lùng. “Vì như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể,
nhưng mọi chi thể không có cùng một nhiệm vụ; cũng vậy, chúng ta
tuy nhiều người song là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi
người chúng ta là chi thể lẫn nhau” (Rm 12, 4- 5). Thế nên, chỉ
có một dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn; “Chỉ có một Thiên
Chúa, một đức tin, một phép Thánh tẩy” (Ep 4, 5), cùng chung một
phẩm giá của những chi thể vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô,
cùng một ân huệ được làm con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành,
một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không
phân chia. Vì thế, trong Chúa Kitô và trong Giáo hội, không còn
có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc
nam nữ… Nếu Chúa phân biệt những thừa tác viên có chức thánh với
những thành phần khác của dân Thiên Chúa , thì sự phân chia này
vẫn hàm chứa một sự hiệp nhất, vì chủ chăn và các tín hữu khác
liên kết với nhau do những mối dây liên hệ chung. Các chủ chăn
trong Giáo hội noi gương Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ
các tín hữu khác; phần các tín hữu phải sẵn lòng hợp tác với chủ
chăn và những người giảng dạy. Như thế, tuy khác biệt nhau,
nhưng tất cả đều làm chứng sự duy nhất kỳ diệu trong Thân Thể
Chúa Kitô. Thực vậy, chính sự khác biệt về ân huệ, chức vụ và
hoạt động lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, vì
“mọi sự ấy là công trình của cùng một Thánh Thần duy nhất” (1 Cr
12, 11) (GH số 32).
“Mọi tín hữu rải rắc
trên khắp hoàn cầu đều hiệp thông trong Thánh Thần với tất cả
các tín hữu khác, và vì thế “kẻ ở Roma biết rằng người Ấn độ là
chi thể mình”. (GH số 13)
Tóm lại, chính trong sự hiệp thông với Đức
Giáo hoàng, và với Giám mục đoàn, mà sự biểu lộ tính hiệp nhất
và tính khác biệt của Giáo hội, mà mỗi Giáo hội địa phương, cũng
như thành phần của dân Thiên Chúa, nhận ra đặc tính cơ bản của
mình.
Đồng thời, sự hiệp nhất các Kitô hữu là một
điều cần thiết để nhờ họ trần gian nhận biết tình yêu của Chúa
Cha được biểu lộ qua việc trao ban Con Một Ngài và để mọi người
nên một trong Đức Kitô. Nhờ vậy mà ước muốn cuối cùng của Ngài
sẽ được thực hiện : Xin cho tất cả nên một như chúng ta là một
vậy ! (Gio 17,21).
b- Hiệp thông bên ngoài Giáo hội.
Sự hiệp thông không phải chỉ được thực hiện
trong lòng Giáo hội mà con được lan tỏa ra bên ngoài :
- Hiệp thông với mọi người.
Như chúng ta đã biết, Giáo hội luôn mang
đặc tính phổ quát, nghĩa là chung cho mọi người, ở mọi nơi và
trong mọi lúc. Vì thế, Giáo hội luôn hiệp thông với mọi thành
phần, không loại trừ một ai :
“Giáo hội, tức dân Thiên Chúa, không loại
bỏ bất cứ một phần di sản trần thế nào của các dân tộc; trái
lại, Giáo hội chăm sóc và thu dụng tất cả những gì tốt lành nơi
gia sản, nơi nguồn lực và phong hóa của các dân tộc, và khi thu
dụng, Giáo hội tinh luyện, kiện toàn và làm chúng nên cao
thượng… Đặc tính phổ quát này, tư trang của dân Thiên Chúa, là
một ân huệ do chính Thiên Chúa ban, nhờ đó Giáo hội Công giáo
luôn nỗ lực cách hữu hiệu quy tụ toàn thể nhân loại cùng những
gì tốt lành nơi họ dưới một Thủ lãnh là Chúa Kitô, trong sự hiệp
nhất với Chúa Thánh Thần” (GH số 13).
“Vì thế, mọi người đều được mời gọi vào sự
hiệp nhất Công giáo này của dân Thiên Chúa, sự hiệp nhất ấy tiên
báo và cổ võ nền hòa bình phổ quát. Họ thuộc về hoặc hướng về sự
hiệp nhất đó dưới nhiều thể cách khác nhau, được sắp xếp hoặc họ
là tín hữu Công giáo hay là những người tin Chúa Kitô, hoặc sau
cùng, tất cả mọi người không trừ ai, đều được ơn Thiên Chúa kêu
mời lãnh nhận phần rỗi” (GH số 13).
- Nhất là cộng tác với những người
thiện chí.
Công đồng kêu gọi chúng ta hãy cộng tác với
mọi người để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn :
“Người công giáo phải tìm cách cộng tác với
tất cả mọi người thiện chí để cổ động cho bất cứ những gì là
chân thật, công bằng, thánh thiện và đáng yêu quí. Người công
giáo hãy đối thoại với họ, hãy đến với họ cách khôn ngoan và tế
nhị, hãy tìm cách kiện toàn những cơ cấu xã hội và quốc gia theo
tinh thần Phúc Âm”. (TĐ số 14).
“Các Kitô hữu phải hoạt động và cộng tác
với mọi người khác để tổ chức đứng đắn những công việc kinh tế
xã hội. Họ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các thiếu
nhi và thanh thiếu niên bằng các loại trường học khác nhau…Ngoài
ra, họ còn phải tham gia vào nỗ lực của các dân tộc đang cố gắng
tạo ra những hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn, và củng cố hòa bình thế
giới, bằng cách khuất phục đói khát, dốt nát và bệnh tật.” (TG
số 12).
Và Công đồng kết luận :
“Trong đời sống và hoạt động của mình, các
môn đệ Chúa Kitô, nhờ liên kết chặt chẽ với nhân loại, hy vọng
sẽ mang lại cho nhân loại một chứng tá đích thực về Chúa Kitô,
và sẽ hoạt động cho phần rỗi của nhân loại, dù ở nơi mà họ không
thể rao giảng về Chúa Kitô một cách đầy đủ.” (TG số 12).
- Đặc biệt hiệp thông với những người
đau khổ và nghèo túng.
Hiệp thông giải phóng và tái tạo đối với
những người gần cận: “Như Đức Giêsu, chúng ta phải “dựng lều của
mình” giữa nhân loại đang xây dựng một thế giới tốt hơn, nhưng
đặc biệt giữa những người đau khổ cách sâu xa, và được thúc đẩy
bởi Thần khí sự sống, chúng ta phải dấn thân thật thâm sâu vào
các nền văn hóa Á Châu nghèo khó và thiếu thốn, ở đó những khát
vọng tình yêu và sự sống là những khát vọng mãnh liệt và cấp
thiết nhất. Việc phục vụ sự sống đòi hỏi sự hiệp thông với mọi
người nam nữ, đang kiếm tìm và tranh đấu cho sự sống, như Đức
Kitô đã liên đới với nhân loại. Sự liên đới đòi hỏi chúng ta
phải làm việc chung với anh chị em Á Châu của mình, để giải
phóng xã hội chúng ta khỏi những gì áp bức và hủy hoại sự sống
con người và thụ tạo, đặc biệt khỏi tội lỗi… Cách đặc biệt,
chúng ta sẽ theo Đức Giêsu trong sự “chọn lựa ưu tiên” của Ngài
đối với người nghèo… Cùng với anh chị em Á Châu của mình, chúng
ta cố gắng xúc tiến sự hiệp thông giữa những người Á Châu đang
bị đe dọa trước những chênh lệch quá hiển nhiên về kinh tế, xã
hội và chính trị. Cùng với họ, chúng ta sẽ khám phá những con
đường nhằm sử dụng những cống hiến của các tôn giáo, văn hóa,
ngôn ngữ khác nhau để đạt đến một sự hiệp nhất Á Châu phong phú
và sâu sắc hơn. Chúng ta sẽ xây dựng những cây cầu liên đới và
giao hòa với các tín đồ khác, và nắm tay mỗi người trong họ tại
Á Châu để hình thành một cộng đoàn tạo dựng tích cực” (Là môn đệ
Đức Kitô tại Á Châu hôm nay, Tuyên ngôn của LHHĐGMAC, 1/ 1995,
số 14).
Hành vi sáng tạo của Thiên Chúa cũng cho
thấy mọi của cải đều dành cho mọi người. Chính hành vi sáng tạo
đó mở ra cuộc đối thoại liên tôn. Nếu Thiên Chúa chỉ có một, nếu
tất cả chúng ta đều là anh em với nhau dưới cái nhìn của Cha
trên trời, thì chúng ta có thể đi vào đối thoại với các tôn giáo
khác. Chúng ta không ngạc nhiên trước những điểm đồng qui giữa
những tôn giáo khác nhau, vì hết thảy chúng ta đều giống hình
ảnh của Đấng độc nhất. Thiên Chúa đã tỏ mình như Cha của Đức
Giêsu Kitô và nên một với Đức Giêsu Kitô, trong sự hiệp nhất của
Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã tỏ mình như Cha với
một danh nghĩa mới mẻ, không ngờ được: “Vì những ai Người đã
biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng
dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một
đàn em đông đúc” (Rm 8, 29). Theo sau Đức Giêsu, chúng ta được
đặt làm anh em dưới một danh nghĩa cũng mới mẻ như vậy. Việc
chúng ta nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và Đức Giêsu Kitô là trưởng
tử giữa một đàn em đông đúc, sẽ cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ
về tha nhân:
- Ngay từ thời Cựu ước, Thiên Chúa đã luôn
nhắc nhở con người không được ngược đãi cô nhi quả phụ, phải tôn
trọng kẻ mù lòa, hành khất, ngoại kiều, già lão và trong năm
toàn xá, trả lại tự do cho những ai mất vì công nợ.
- Đức Giêsu không xua đuổi kẻ nào vì môi
trường xã hội hay mức độ kinh tế. Người đặc biệt quan tâm đến
những người nghèo hèn, bệnh tật, những kẻ bị loại trừ. Đó là
thái độ “ưu tiên chọn lựa người nghèo” như Giáo hội quen gọi:
“Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ
nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25, 40).
Mọi người đều là anh em của chúng ta, nhưng Thần khí của Đức
Kitô thúc giục chúng ta ưu tiên đến với những người bé mọn.
- Đối với người môn đệ Đức Kitô, quyền lực
là để phục vụ: “Giữa anh em, ai muốn làm lớn, thì phải làm người
phục vụ” (Mt 20, 26). Chính Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ
và Ngài đã yêu thương đến cùng, yêu đến thí mạng sống vì người
mình yêu.
- Chúa cũng dạy chúng ta phải yêu thương và
tha thứ cho cả kẻ thù, như chính Ngài đã tha thứ cho những kẻ
đóng đinh Ngài.
Trong Kitô giáo, đức ái quyết định tất cả.
Kitô hữu không những là anh em của hết thảy mọi người, mà họ còn
phải học là anh em theo lối của Đức Giêsu. Thập giá được cắm
giữa lòng tình huynh đệ. Cha Maximilien Kolbe đã làm chứng điều
ấy khi chấp nhận chết thay cho một anh em mà cha chẳng mắc nợ
gì. Cha đã noi gương Đức Giêsu: “Người vốn dĩ là Thiên Chúa,
nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với
Thiên Chúa… Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng
ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2, 6. 9).
Nếu ai nói yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy
là kẻ nói dối (cf. 1Ga 4, 20). Chúng ta phải yêu thương cả kẻ
thù vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đang lúc chúng ta còn
đối địch với Người (cf. Rm 5, 8). Thập giá Đức Kitô đã làm sụp
đổ bức tường ngăn cách: “Người đã hy sinh thân mình để phá đổ
bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2, 14- 18). “Anh em chỉ
có một Thầy, còn tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23, 8).
c- Hiệp thông với Giáo hội trên trời
“Cho tới khi Chúa ngự đến trong uy nghi, có
tất cả các thiên thần theo Người (cf. Mt 25, 31), và khi sự chết
đã bị hủy diệt, mọi vật đều qui phục Người (cf. 1Cr 15, 26- 27),
thì trong số các môn đệ Chúa, có những kẻ còn tiếp tục cuộc hành
trình nơi trần thế, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này và
đang được tinh luyện, và có những kẻ được hiển vinh đang chiêm
ngưỡng “rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài
hằng có”.
Nhưng hết thảy mọi người chúng ta, tùy cấp
bậc và cách thức khác nhau, đều hiệp thông trong cùng một đức
mến Chúa yêu người, cùng hát lên một bài ca chúc tụng vinh quang
Thiên Chúa chúng ta. Vì tất cả những ai thuộc về Chúa Kitô và
nhận lãnh Thánh Thần Người, đều họp thành Giáo hội duy nhất và
liên kết với nhau trong Người (cf. Ep 4, 16).
Bởi vậy, sự hiệp nhất giữa những người còn
sống trên dương thế với những anh em đã yên nghỉ trong bình an
Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Nhưng trái lại, Giáo hội xưa
nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ
việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng.
Quả thực, nhờ kết hiệp mật thiết với Chúa
Kitô hơn, các người ở trên trời củng cố toàn thể Giáo hội vững
bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà hiện
nay Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa, được cao cả hơn, và họ
góp phần phát triển Giáo hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách (cf.
1Cr 12, 12- 27). Được về quê trời và hiện diện trước nhan Chúa
(cf. 2Cr 5, 8), nhờ Ngài, với Ngài và trong Người, các thánh
không ngừng cầu bầu cho chúng ta bên Chúa Cha, bằng cách trình
bày các công nghiệp đã lập được khi còn ở dưới thế, nhờ Đấng
Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giêsu
Kitô (cf. 1Tm 2, 5), khi họ đã phục vụ Chúa trong mọi sự, và
hoàn tất nơi thân xác họ những gì còn thiếu sót trong các đau
khổ của Chúa Kitô, hầu mưu ích cho Thân Thể Người là Giáo hội
(cf. Cl 1, 24). Do đó, với tình huynh đệ, các ngài lo lắng giúp
đỡ chúng ta rất nhiều vì chúng ta yếu hèn. (số 49).
Bởi vì sự hiệp nhất
của Hội Thánh không chỉ là sự hiệp nhất của một tổ chức tốt hay
của một kỷ luật vững chắc. Nó thuộc bình diện “sự hiệp thông”.
Giáo Hội hiệp thông là “ý tưởng trung tâm và căn bản” (Hội nghị
bất thường năm 1985) lộ rõ từ các tài liệu của Công Đồng
Va-ti-ca-nô II. Sự hiệp thông này là sự hiệp thông với Chúa Cha,
và với Chúa Con, Đức Giêsu, trong Chúa Thánh Thần (x. 1Ga 1,3)
và là sự hiệp thông giữa các môn đệ trong lòng mến. “Qua mọi
thời đại, Chúa Thánh Thần hợp nhất toàn thể Giáo hội trong mối
hiệp thông và thừa hành, ban phát các ơn phẩm trật và đoàn sủng
khác nhau, như là linh hồn làm sống động các định chế trong Giáo
hội” (LG, số 7).
GSVN |
VỀ MỤC LỤC |
|
Tác phẩm "Giáo hội cần loại Linh mục nào"?
(tiếp theo) |
Lm Giuse Lê Công Đức chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
PRIESTHOOD IMPERILED, Tác giả: BERNARD HARING, C.SS.R.
ÁNH SÁNG
CHÓI LÒA CỦA
THÁNH KINH
Đức Giêsu, Đấng tự xưng là “Con
Người”, Đấng là “một người trong chúng ta”, đã yêu cầu Gioan Tẩy
Giả, con trai của một tư tế và ngôn sứ, làm phép rửa cho Ngài cùng
với đám đông ở sông Gio-đan. Hành động này là một biểu tượng đầy
kích cảm cho thấy sự liên đới đầy sức cứu độ của Ngài với các tội
nhân và sự giải cứu họ khỏi vòng tội lỗi.
phép
rửa của Đức Kitô –
một
chìa khóa căn bản để nhận thức
Trong cốt lõi của nó, sự chuyển
đổi từ tình trạng tội lỗi tới sự liên đới cứu độ là một chìa khóa để
nhận hiểu ý nghĩa cuộc hoán cải mà Gioan rao giảng. Chính Đức Kitô,
Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, làm cho chúng ta có thể đạt được sự
hoán cải này, ở mức trọn vẹn của nó. Tuy nhiên, phép rửa của Đức
Kitô còn có ý nghĩa hàm súc hơn nhiều chứ không chỉ là một sự chuyển
đổi từ tình trạng liên đới trong tội lỗi tới ơn cứu độ. Đó là một
biến cố độc đáo của Ba Ngôi Thiên Chúa, trực tiếp hướng chỉ đến cái
chết thập giá và cuộc Phục Sinh của Đức Kitô. Trong hành động Đức
Giêsu công khai lãnh nhận phép rửa, Ngài tự thánh hiến chính mình và
đồng thời được thánh hiến bởi quyền năng Chúa Thánh Thần – được biểu
tượng nơi hình chim bồ câu hòa bình – để tôn vinh Cha là Đấng mãi
mãi làm chứng cho Đức Giêsu: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta rất hài
lòng về Người” (Mt 3,1-7); “Con là Con Ta rất yêu dấu, Ta hài lòng
về Con” (Lc 3,22; Mc 1,11). Những lời ấy – được trịnh trọng nhắc lại
trên núi Tabo – âm vọng lại câu mở đầu của Bài Ca Thứ Nhất trong bốn
Bài Ca Isaia Đệ Nhị (Is 42,1).
Việc thánh hiến qua phép rửa này,
vốn luôn luôn hướng chỉ đến đỉnh điểm là cái chết Thập Giá và cuộc
Phục Sinh, bộc lộ cho thấy căn tính của Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ và
là vị Thượng Tế mới, như được khai triển trong Thư Do Thái. Được thụ
thai bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Kitô
được mạc khải như là Người Tôi Tớ và Người Con phi bạo lực, đau khổ
và đầy năng lực giải phóng của Thiên Chúa – Ngài là biểu tượng đích
thực và là hiện thân của Bồ Câu hòa bình. Ngài là Đường không sai
lầm, là Chân Lý và Sự Sống hoàn toàn mới của hòa bình được hun đúc
từ thái độ phi bạo lực đầy sức giải phóng, từ sự liên đới có năng
lực cứu độ và từ những đau khổ của Ngài.
Các linh mục - và tất cả những ai
thuộc về đoàn dân tư tế, ngôn sứ và vương đế phục vụ của Thiên Chúa
- không bao giờ có thể suy tư cho đủ về bốn Bài Ca của Người Tôi Tớ
vốn được Đức Giêsu xem như chương trình sống và hoạt động của Ngài
và – do đó – cũng là chương trình sống cho các môn đệ Ngài.
Dacaria, tư tế và ngôn sứ
Giao ước
mới và nhãn quan hoàn toàn mới của nó về chức linh mục đã được biểu
tượng nơi Dacaria, cha của Gioan Tẩy Giả, là người thuộc về một
trong những phẩm hàm cao nhất của chức tư tế Lêvi và là người đang
chu toàn một việc phụng tự truyền thống khi Thiên Chúa mạc khải cho
ông biết vai trò của con trai ông: “Em bé sẽ đầy Thánh Thần. Em sẽ
đưa nhiều con cái It-ra-en về với Đức Chúa. Em sẽ... làm cho tâm tư
kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay” (Lc 1,15-17). Sứ
điệp ấy của thiên thần là một sứ điệp chan hòa niềm vui: “Ông sẽ
được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng sẽ được hỷ hoan ngày con
trẻ chào đời” (Lc 1,14).
Tính mới mẻ của sứ điệp này và
những bối cảnh xung quanh nó quá vĩ đại ngoài khả năng tiếp nhận của
Dacaria đến nỗi ông trở thành câm. Tình trạng câm này của Dacaria tự
nó là một biểu tượng của sự thay đổi lớn lao đã diễn ra. Dù vậy, ông
vẫn trung thực đưa tin cho vợ mình là Êlidabét, người thuộc dòng tư
tế Aaron và là một phụ nữ vừa có đức tin sâu sắc vừa có nhãn giới
ngôn sứ.
Ngôi nhà của Dacaria trở thành
khung cảnh đặc biệt cho một hiện tượng ngôn sứ độc đáo. Tất cả mọi
người đều nói tiên tri – Êlidabét, Dacaria, Maria nữ tì khiêm cung
của Chúa, và nhất là em bé Gioan với sự kiện “nhảy mừng trong bụng
mẹ” (Lc 1,44).
Gioan
Tẩy Giả, con trai
của một
tư tế và ngôn sứ
Theo luật, Gioan sẽ trở thành một
thành viên của tầng lớp tư tế có phẩm hàm cao của người Do Thái. Thế
nhưng, chúng ta không nghe nói gì về việc Gioan thực hiện những chức
năng tư tế theo truyền thống. Phép rửa đặc biệt của Gioan, trong tư
cách là một dấu hiệu của sự hóan cải, thì có tính phụng vụ theo ý
nghĩa tốt nhất của từ ngữ này, nhưng nó hoàn toàn đối nghịch với bất
cứ hệ thống nghi lễ nào. Phép rửa của Gioan vén mở trước mầu nhiệm
thâm sâu của Phép Rửa Đức Giêsu và, qua đó, vén mở cho thấy mầu
nhiệm Phép Rửa của chính chúng ta – nó đánh dấu việc chúng ta đi vào
trong Giao Ước Mới của ơn cứu độ, một giao ước được đặc trưng bởi ơn
gọi và căn tính của Đức Giêsu xét như Người Tôi Tớ và Người Con
khiêm hạ, đau khổ, phi bạo lực và có quyền năng chữa trị của Thiên
Chúa.
Ở cốt lõi của phép rửa Gioan Tẩy
Giả là Đức Giêsu, “Con Người”, hiện thân tuyệt đối của sự liên đới
có năng lực cứu độ, Đấng mở ra Luật Mới với ý nghĩa tối thượng là:
“Anh em hãy mang lấy gánh nặng của nhau, và như thế anh em sẽ chu
toàn Luật của Đức Kitô” (Gl 6,2). Sống luật này, đó không chỉ là
nẻo đường dẫn tới sự liên đới có sức cứu độ (một sự liên đới được
đào sâu không ngừng đến vô hạn) – mà đó cũng là con đường duy nhất
để thoát ra khỏi tình trạng liên lụy trong tội lỗi. Giao Ước Mới nằm
ở trung tâm mầu nhiệm thâm sâu của Phép Rửa Đức Giêsu và, do đó, của
Phép Rửa chúng ta nữa.
sự
tương phản:
tư tế
của các ông hoàng!
Vụ giết người tàn ác theo lệnh
của nhà vua - mà Gioan Tẩy Giả là nạn nhân - báo trước việc Đức Kitô
chịu đóng đanh và chịu chết trong tay của các thượng tế và người đại
diện của quyền bính Đế Quốc Rôma.
Hai số phận của Gioan Tẩy Giả và
của Đức Giêsu minh họa sự lạm dụng có hệ thống của tôn giáo vốn ủng
hộ kẻ cường quyền và thí đốt những người nghèo hèn, yếu thế. Hình
thức lạm dụng này cũng là một trong những cám dỗ lớn nhất được ghi
nhận nơi giới tư tế thuộc các tôn giáo và văn hóa khác nhau. Một
đoạn văn về tư tế Amaziah trong Sách Ngôn Sứ Amos cho ta thấy rõ sự
thật này:
Bấy giờ ông A-mát-gia, tư tế
đền thờ Bết-Eân, sai người đến gặp Gia-róp-am, vua It-ra-en, và
thưa: “A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ It-ra-en, và
đất nước này không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. Vì
A-mốt nói như thế này:
“Gia-róp-am sẽ chết vì gươm,
và It-ra-en sẽ bị
đày biệt xứ.”
Bấy giờ A-mát-gia
nói với ông A-mốt: “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó
mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm! Nhưng ở Bết-Eân này, đừng có hòng
nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền
thờ của vương triều.” (Am
7,10-13).
Có thể cần đến cả pho
sách để chỉ nói về đề tài mối quan hệ giữa các tư tế với các vua,
nhưng thiển nghĩ chỉ cần chấp nhận rằng trong Giáo Hội Công Giáo
nhiều người trong chúng ta có lý do để ăn năn hối lỗi vì đã gắn bó
mật thiết và là đồng minh của những thế quyền áp bức. Thiết tưởng sẽ
hữu ích việc vạch ra cách mà mối quan hệ bẩn thỉu này được hình
thành và phát triển.
Trong ba thế kỷ đầu của
Giáo Hội, các giám mục – cách riêng - đã trung thành theo bước chân
của Đức Kitô. Trở thành một giám mục, linh mục, phó tế hay một kỳ
lão của Giáo Hội, điều đó tất nhiên có nghĩa rằng người ấy hoàn toàn
sẵn sàng trở thành một ứng viên của cái chết tử đạo. Những người
được tuyển chọn ấy hiểu khá rõ ơn gọi phổ quát và đặc biệt của mình,
và họ sẵn sàng đón nhận những hệ lụy của ơn gọi ấy trong ánh sáng
của biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan, một phép rửa bằng
nước và máu.
Thế kỷ IV, khi
Constantine, một người “trở lại” với đức tin, được tôn phong hoàng
đế bởi giám mục Rôma, thì những thay đổi lớn đã xảy ra. Trong khi
quả thực Giáo Hội được giải phóng khỏi cuộc bách hại đẫm máu, thì
một cách nhanh chóng Giáo Hội cũng bị bế tắc trong bổn phận bước
theo chân Đức Giêsu Người Tôi Tớ. Sự thỏa hiệp và quị lụy quyền bính
thế tục - (điều mà Đức Giêsu đã chất vấn, như được thấy trong câu
chuyện cám dỗ, và điều mà Ngài đã giải trừ huyền thoại trong toàn bộ
cuộc sống của Ngài từ khi nhận phép rửa cho đến cái chết Thập Giá) -
không may đã trở thành một thực tại trong mọi thành phần của Giáo
Hội. Nhiều giám mục hoặc chịu khuất phục hoặc ngày càng xích tới gần
nghiệp chướng trở thành “tư tế của các vua”.
Trong cố gắng nâng đỡ
Giáo Hội và nâng đỡ các vị lãnh đạo của Giáo Hội trong tư cách là
cột trụ và là bộ mặt của xã tắc, các hoàng đế và các vua đã xây dựng
những dinh thự nguy nga cho các vị ấy, đã hào phóng ban tặng đủ thứ
đặc quyền đặc lợi thế gian, đã tôn phong cho các vị những tước hiệu
đầy cao ngạo như “Nhà Thần Học Của Triều Đình”, “Tổng Giám mục Hoàng
Thân”, “Đức Thánh Cha”, “Đức Cha”, vân vân và vân vân...
Hiện tượng kỳ dị này và
những biến cố có tính bước quặt đảo ngược này – vốn còn gây nhiều di
lụy mãi đến hôm nay – phải được suy tư và đánh giá lại trong ánh
sáng của phép rửa bằng nước và máu của Đức Giêsu. Cách mà chúng ta
chọn để nhìn và suy tư về những biến cố lịch sử từng định hình một
khuôn mặt chuyên chế như thế của Giáo Hội và của quyền lãnh đạo
trong Giáo Hội có thể ảnh hưởng rất quan trọng đến bản chất và chất
lượng của sự chọn lựa căn bản của chúng ta trong tư cách là những
Kitôhữu và những linh mục trong thời đại hôm nay.
Nói chung, Đức Giêsu
không chống đối chức tư tế Do Thái giáo trong truyền thống mà Ngài
nhận được, Ngài cũng không chống đối các tư tế một cách quơ đũa cả
nắm. Những xung đột chính của Ngài là với các phần tử cao nhất trong
giới tư tế. Tuy nhiên, đáng ghi nhận sự kiện rằng Đức Giêsu không
bao giờ gọi chính Ngài hay các môn đệ Ngài là “tư tế”, Ngài cũng
không nói đến cơ chế của một “chức tư tế mới”. Ít nhất những phần cũ
nhất của Tân Ước gần sát với thời Đức Giêsu không bao giờ dùng từ
“tư tế” để nói về Đức Giêsu hay các tông đồ của Ngài. Chỉ trong bản
văn rất muộn sau này, là Thư Do Thái, được viết khi Giáo Hội đã phát
triển một mức nào đó thành một tổ chức và cơ cấu, thì từ ngữ này mới
được sử dụng, và chủ yếu nhằm đề ra một tương phản rõ rệt với bất cứ
gì có dáng dấp một mối quan hệ gây chất vấn có thể dẫn đến việc các
giáo sĩ trở thành “tư tế của các vua”. Trái lại, nhãn quan Tân
Ước về chức linh mục thì hoàn toàn khác biệt, và nhãn quan ấy
được hình thành như vậy trong ánh sáng của phép rửa Đức Giêsu trong
nước sông Giođan và trong máu của Ngài nơi cuộc tử nạn Thập Giá.
câu chuyện về
hy tế của Abraham
Sẽ là thiếu sót việc
duy chỉ chăm chú đến những khác biệt rành rành giữa chức tư tế của
Cựu Ước và tính mới mẻ của những người tôi tớ của Tin Mừng. Chúng ta
cũng cần phải lưu tâm tới những quan niệm sai lầm về hy tế nữa.
Abraham sẵn sàng giết
Isaác để làm hy lễ đền tội dâng lên Thiên Chúa, đôi khi các nhà thần
học nói về ý niệm hy tế đã chọn thái độ sẵn sàng ấy làm khởi điểm
cho mình. Hồi tôi bắt đầu học thần học, người ta vẫn còn giảng dạy
rằng Thiên Chúa thử thách sự sẵn sàng của Abraham trong việc giết
Isaác để làm hy lễ. Abraham sẵn lòng, đó là sự thật, nhưng nói rằng
Thiên Chúa muốn điều đó thì quả là một xác định hết sức đáng ngờ. Để
hiểu chức linh mục của Tân Ước, điều trước hết là phải xua tan những
ý niệm sai lầm về hy lễ để có thể hiểu đúng ý nghĩa đích thực của
câu chuyện Abraham. Trong chiều hướng đó, cách đây khoảng 50 năm, W.
Eichrodt, một học giả Thánh Kinh tên tuổi đã đề ra một cách giải
thích hoàn toàn khác, cách giải thích này nói chung được chấp nhận
trong giới Thánh Kinh và được giảng dạy trong lãnh vực huấn giáo
ngày nay.
Eichrodt chỉ ra rằng,
trong môi trường và nền văn hóa sơ khai mà Abraham đã sống và đã từ
bỏ để theo tiếng Chúa gọi, có một niềm xác tín rằng trong một số
trường hợp Thiên Chúa chỉ có thể được vuốt giận bằng hy tế đứa con
trai đầu lòng của người ta. Người ta phải rùng mình tự hỏi trong
giòng lịch sử đã có bao nhiêu đứa con trai đầu lòng bị hành quyết
một cách dã man “nhân danh Thiên Chúa”. Abraham không là ngoại lệ
của sự mê tín thảm khốc này. Vì ông sống trong bối cảnh mà theo
truyền thống của thời ông, một hy tế như thế được kỳ vọng, vì thế
Abraham với lương tâm sai lạc của mình đã kết luận rằng việc giết
con mình để tế lễ là điều hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, ngay cả
trong lương tâm sai lạc này của Abraham, một điều gì đó tốt vẫn có
thể được nói về ông: Ông sẵn sàng làm theo thánh ý Thiên Chúa khi
ông hiểu sai thánh ý ấy! Tuy nhiên, khi câu chuyện diễn tiến, Thiên
Chúa đã can thiệp và đã giải phóng Abraham khỏi một lương tâm mê
tín. Đây là một kinh nghiệm mạc khải vĩ đại và một bước đột phá về
văn hóa để giải phóng con người khỏi một hình ảnh sai lầm và bạo lực
khủng khiếp về Thiên Chúa.
Một trong những bằng
chứng rõ ràng nhất cho cách giải thích của Eichrodt là sự kiện hiển
nhiên rằng kể từ đó đã có phát triển một ý thức trong It-ra-en rằng
việc cố gắng làm nguôi lòng Thiên Chúa bằng mạng sống con người là
một tội ác kinh tởm chống lại Thiên Chúa và loài người. Tuy nhiên,
Thánh Kinh cũng nhanh chóng chỉ ra rằng trong một số giai đoạn tàn
bạo nào đó của lịch sử Ít-ra-en, vẫn có một số người bị ảnh hưởng và
bị nhiễm cái nhìn kinh khủng ấy – một cái nhìn vẫn còn rất bình
thường trong thế giới xung quanh It-ra-en.
Hình ảnh sai lạc này về
một vị Thiên Chúa hay báo thù đòi hỏi con người dâng hy tế các con
trai đầu lòng, lạ thay, lại được đưa trở lại vào một lý thuyết cứu
chuộc được gán (có lẽ một cách lầm lẫn) cho Thánh Ansenmô. Lý thuyết
này dẫn đến sự ngộ nhận thông thường rằng tội lỗi của loài người quá
lớn đến nỗi công lý của Thiên Chúa đòi hỏi hy lễ là chính Con Một
của Ngài để chuộc lại. Dĩ nhiên, lý thuyết này sau đó phủ trùm bóng
rợp của nó trên hầu như mọi sự được coi là hy lễ trong tương quan
với chính Đức Giêsu. Để làm sáng tỏ sự ngộ nhận này, không gì hữu
ích hơn là nhìn sát hơn phép rửa của Đức Giêsu và tất cả những hệ
quả theo sau trong ánh sáng ấy.
Người Tôi Tớ phi bạo lực, đau khổ
và có sức mạnh giải phóng
của Thiên Chúa
Tin Mừng Máccô giới
thiệu căn tính và sứ mạng của Đức Giêsu trong ánh sáng của một nhận
hiểu căn bản được tìm thấy trong bốn Bài Ca của Isaia Đệ Nhị: “Vì
Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ“ (Mc
10,45). Trong tư cách là Người Tôi Tớ, Đức Giêsu được nhìn nhận
là Người Con yêu dấu. Trong bản văn tiếng Hípri, câu mở đầu của Bài
Ca Thứ Nhất nói về ebed, nghĩa là người tôi tớ được tôn vinh –
được tín thác mọi sự. Bản Bảy Mươi dùng từ Hy lạp pais để chỉ
đứa con trai. Trong ánh sáng của các Bài Ca Người Tôi Tớ, Đức Giêsu
được hiểu trước hết như người tôi tớ hòa bình – một cách hiểu không
hề có bao hàm bất cứ ý niệm sai lạc nào về nhu cầu được nguôi giận
của Thiên Chúa. Đúng hơn, cách hiểu ấy nhằm giúp cho con người tìm
ra con đường hòa bình nơi chính Đức Giêsu, Đấng là đường hòa bình và
là hiện thân của thái độ phi bạo lực.
Lời Đức Giêsu mời gọi
yêu thương kẻ thù là con đường biến kẻ thù thành bạn hữu. Con đường
hòa bình mà Đức Giêsu vạch ra cho chúng ta là con đường phi bạo lực
– nó chọn lựa đau khổ và thậm chí sự chết thay vì giết chết hay làm
hại kẻ thù. Chính năng lực phi bạo lực đầy sức giải phóng này là
điểm tựa cho một thái độ hoàn toàn sẵn sàng khai quang con đường hòa
bình, và sẵn sàng làm thế bằng cách trao ban mạng sống. Đức Giêsu
là Sự Thật, và một cách rất chuyên biệt, Ngài là Sự Thật về tinh
thần phi bạo lực đầy sức giải phóng.
Nhưng câu hỏi vẫn còn:
Phải chăng Thiên Chúa đã đòi hy lễ là chính Con Một Ngài? Bởi vì
chúng ta đứng trước một mầu nhiệm thâm sâu và bởi vì từ góc nhìn của
mình chúng ta chỉ có thể phát biểu trong những giới hạn của ngôn
ngữ, của nhãn quan, bối cảnh con người chúng ta – là những cái luôn
luôn khiếm khuyết và bất toàn - nên câu trả lời là vừa có vừa không.
Trong mối tương quan nội tại và năng động của Ba Ngôi, Thiên Chúa
muốn chỉ cho con người thấy con đường hòa bình bằng bất cứ giá
nào. Như vậy, “hy tế Đức Kitô” là cái giá của hòa bình và hòa
giải – một cái giá vừa có sức thanh toán sự chết vừa có sức trao ban
sự sống, cái giá tột cùng của mạc khải độc đáo về tình yêu vô hạn
của Thiên Chúa. Nhưng, để hiểu cái giá này, cần phải cảnh giác một
điều gì đó. Thiên Chúa không hề có ý định hay có kế hoạch sát hại
Đức Giêsu, Người Con Yêu Dấu. Điều Thiên Chúa thực sự nhắm đến chính
là sự hòa giải cho một nhân loại hòa bình và phi bạo lực. Hơn nữa,
Thiên Chúa muốn – và Ngài tiếp tục muốn – chúng ta sẵn sàng trả giá
cho hòa bình, hòa giải và cho tình yêu cứu độ như được hiểu trong
ngôn ngữ của Thánh Phao-lô: “Ngài là sự bình an của chúng ta” (Ep
2, 14).
Để làm sáng tỏ điều này
hết sức có thể, Ba Ngôi Vị - Đấng Sáng Tạo, Đấng Cứu Độ và Đấng Hiệp
Nhất – cấm giết người và nhất là cấm giết người nhân danh Thiên
Chúa. Giết người là tội ác ghê tởm nhất. Như vậy, nhận thức này làm
sáng tỏ cho mọi thời rằng Thiên Chúa không bao giờ có ý muốn Người
Con nhập thể của Ngài bị giết như một nạn nhân để làm cho Ngài nguôi
ngoai hay để chuộc tội.
Điều Thiên Chúa thực sự
nhắm đến là thái độ sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm, thậm chí chấp nhận
chết trên thập giá nếu cần, để mạc khải tình yêu vô hạn của Thiên
Chúa và để cho con người thấy con đường hòa bình, chân lý và sự
sống. Cuối cùng, đây là giá mà Đức Giêsu đã trả, thậm chí đến độ
trên thánh giá Ngài cầu nguyện cho các kẻ thù của Ngài và cho mọi
tội nhân. Như thế, việc giết Đức Giêsu trên thập giá là hệ quả của
sự dám liều ấy chứ không phải là hệ quả của “hy tế có thể được
chấp nhận” như đã được dạy hằng bao thế kỷ và vô tình đã vẽ ra
cho Thiên Chúa một khuôn mặt khắc nghiệt và tàn bạo.
Cả ba Sách Tin Mừng
Nhất Lãm đều trình bày câu chuyện Đức Giêsu chịu phép rửa trong ánh
sáng của bốn Bài Ca Người Tôi Tớ. Ngay cả Tin Mừng Gioan cũng minh
nhiên giới thiệu: “Đây là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần
gian!” (Ga 1,29). Gioan cũng nhắc chúng ta nhớ chủ đề cốt lõi
của Bài Ca Thứ Nhất trong bốn Bài Ca Người Tôi Tớ: “Tôi trung Ta sẽ
không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố
phường. Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gãy; tim đèn leo lét, nó
chẳng nỡ tắt đi“ (Is 42, 2-3); “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục,
chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín
khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53,7).
Một kết quả dị hợm do cách nghĩ
méo mó biến Đức Giêsu thành một con dê tế thần ấy là bản văn tiếng
Anh của bản Thánh Kinh Giê-ru-sa-lem – bám chặt vào cách dịch:
“Yahweh has been pleased to crush him with suffering” = “Giavê
hài lòng đè bẹp người trong đau khổ” (Is 53,10). Chúng ta có thể
nói rằng Thiên Chúa rút ra được niềm vui khi hành hạ Đức Giêsu
không? Bản Thánh Kinh Anh ngữ mới và tất cả các bản dịch đại kết mới
đều nói một cái gì đó hoàn toàn khác: “Yet the Lord took
thought for his tortured Servant and healed him who made himself a
sacrifice” = “Tuy nhiên Đức Chúa nghĩ đến Người Tôi Tớ tan nát của
Ngài và chữa lành Người đã tự hiến mình làm hy lễ” (Is 53,10).[1]
Trong khi chúng ta có
thể và sẽ tiếp tục nói về “hy lễ” như một cách giải phóng khỏi tội
lụy để đạt đến sự liên đới trong hòa bình, đạt đến tình yêu vô vụ
lợi, công lý có sức cứu độ, thì hy lễ theo nghĩa đúng đắn của nó có
hàm chứa những sự chọn lựa gay go kèm theo những hệ quả khó khăn cho
các linh mục và các Kitôhữu. Những hệ thống nghi lễ, những công phu
khổ hạnh và những “hy sinh” trống rỗng không thể là hầm trú cho ta
ẩn náu và không thể cho phép ta bất cần một sự nhận thức đích thực
về cuộc sống. Hơn nữa, tất cả chúng ta phải sẵn sàng và mau mắn từ
bỏ những gì ngăn cản bước tiến của mình trên con đường hòa bình và
công lý hướng về Thiên Chúa, và chúng ta phải sẵn sàng đảm nhận
những gánh nặng do hòa bình và hòa giải đặt ra bằng cách dám chịu
đau khổ, thậm chí dám chịu chết, nếu đó là yêu cầu của Tin Mừng hòa
bình, Tin Mừng của Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa.
Chúng ta nhấn mạnh bao
nhiêu cũng không đủ rằng Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta gọi là Cha và
Mẹ của Đức Giê-su Kitô Đấng Cứu Độ chúng ta, không hề muốn và không
hề cho phép bất cứ loại hy tế nào dẫn chúng ta đến chỗ trốn tránh
tiếng gọi đích thực của mình trong, và cho, lịch sử cứu độ. Ý nghĩa
đích thực của hy tế Đức Kitô rõ ràng đòi hỏi một tinh thần hy sinh
chính mình, một thái độ hoàn toàn sẵn sàng đảm nhận những gánh nặng
của anh chị em mình, và một lòng can đảm không nao núng để đối mặt
với những chống đối, khổ đau và nguy hiểm – tất cả những cái ấy có
thể bật lên trong quá trình thăng tiến hòa bình, công lý và tình yêu
cứu độ.
tinh thần phi bạo lực
và sự thứ tha tội lỗi
Cốt lõi của sự tự thức
nơi Đức Kitô trong tư cách là Người Tôi Tớ phi bạo lực và là bí tích
của hòa bình cũng dọi tia sáng trên cuộc khủng hoảng hiện nay xung
quanh bí tích hòa giải.
Câu chuyện nổi tiếng về
Cơn Lụt Hồng Thủy là biểu tượng rõ ràng cho thấy con đường tự hủy
diệt của toàn thể nhân loại xuyên qua bạo lực và sai lầm, cả hai
luôn luôn sóng bước cùng với thói kiêu căng và ngạo mạn. “Đất đã ra
hư hỏng trước nhan Thiên Chúa và đầy bạo lực. Thiên Chúa nhìn đất
và thấy nó đã ra hư hỏng, vì mọi xác phàm đã theo nếp sống hư hỏng
trên mặt đất” (St 6,11-12).
Thánh Kinh kể lại một
lịch sử dài về bạo lực của chế độ đàn ông trị. Lamec, người khủng bố
các vợ mình và là một hậu duệ của Cain, kẻ sát nhân, là một điển
hình rất rõ nét cho sự thật này: “Ông Lamec nói với các bà vợ:
‘Ađa và Xila, hãy nghe tiếng ta! Thê thiếp của Lamec, hãy lắng tai
nghe lời ta! Vì một vết thương, ta đã giết một người, vì một chút
sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng
Lamec thì gấp bảy mươi bảy!” (St 4,23-24).
Điều rõ ràng là chỉ
những con người phi bạo lực mới được cứu trong và xuyên qua cơn Hồng
Thủy ấy. Chính Đức Giêsu đã qui chiếu đến nhãn quan này khi Phêrô
hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, con phải tha
thứ bao nhiêu lần? Bảy lần chăng?” Đức Giêsu đáp: “Ta không bảo
anh tha thứ bảy lần, nhưng là bảy mươi bảy lần” (Mt 18,21-22).
Viêc Matthêu vận dụng ẩn dụ này cho thấy rằng Đức Giêsu tha
thiết muốn chúng ta tha thứ vô giới hạn.
Được rửa với Đức Kitô
“để được thứ tha tội lỗi” nghĩa là được tha thứ, và điều đó cũng còn
có nghĩa – quan trọng hơn nhiều - rằng tất cả được cứu khỏi số phận
tội lụy, tất cả được mang về mối liên đới có sức cứu độ, và tất cả
được mời gọi trở thành những người cộng tác trong sứ mạng hòa bình
và hòa giải của Đức Kitô trên trần thế.
Nếu ta có thể nói rằng
chức linh mục thừa tác thêm một cái gì đó cho chức linh mục phổ
quát của tất cả những ai đã chịu Phép Rửa, thì sự “thêm một cái
gì đó” ấy chắc hẳn nằm ở chỗ: ở mọi cấp độ, các linh mục phải là
những mẫu gương của thứ tha, những nhà lãnh đạo và những người kiến
tạo hòa bình trên con đường tiến tới phi bạo lực và hoà giải. Con
đừơng ấy bao hàm một tinh thần hủy mình ra không và sẵn sàng nhận
hiểu đúng đắn về thái độ từ bỏ chính mình. Nói cách khác, các linh
mục phải là những nhà kiến tạo hòa bình dám nhận mọi hiểm nguy, mọi
gánh nặng, mọi hy sinh cần thiết để thi hành sứ mạng của Đức Kitô.
Để có được thái độ sẵn sàng và bỏ mình như vậy, các linh mục cần
biết sẵn lòng khiêm tốn cộng tác với mọi người thiện chí nhằm phục
vụ cho ơn cứu chuộc con người khỏi tội lụy trong mọi hình thức bất
công, lầm lạc và bạo lực của nó ở bất cứ nơi nào mà nó có mặt. Điều
này hoàn toàn khác hẳn với những thực hành khổ chế có tính trấn áp
chính mình vốn bị nhiều người chất vấn – những thực hành này có bao
gồm những sự hành hạ chính mình và những đau khổ không cần thiết
nhằm mục đích làm nguôi ngoai cơn giận của một vị Thiên Chúa hay báo
thù.
Thư Do Thái giới thiệu
Đức Kitô như vị thượng tế đầy lòng trắc ẩn, và chính lòng trắc ẩn và
tình thương này thúc đẩy Đức Kitô thương xót các tội nhân. Điểm đặc
trưng nơi một người linh mục đích thực là: “Vị ấy có khả năng cảm
thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người
cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội
cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ cho chính mình như vậy” (Dt
5,2-3).
Tôi có một đề nghị đầy
sức chữa trị và đầy an ủi cho các linh mục cũng như cho các Kitô hữu
phải khổ sở vì trằn trọc không biết mình đã xưng thú đàng hoàng mọi
tội trọng của mình chưa, không biết mình đã xưng đúng loại tội và
đúng số lượng chưa – đề nghị đó là: Bạn hãy tập trung mọi sự chú ý
và mọi năng lực của bạn vào việc trở thành một dấu hiệu hữu hình và
đầy thuyết phục của sự chữa trị, thứ tha và của tinh thần phi bạo
lực hết sức có thể! Đó là một loại bí tích đấy! Rồi bạn sẽ được đảm
bảo trong đức tin rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi của bạn. Chỉ
khi nào quyết chí bước đi trên lộ trình này, chúng ta mới có thể
đóng góp phần mình vào nỗ lực vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay xung
quanh bí tích của hòa bình và hòa giải.
chức linh mục của
các tín hữu
và chức linh mục
thừa tác
Công Đồng Vatican II đã
sải những bước dài trên con đường vượt qua não trạng giáo sĩ trị in
hằn bao đời, não trạng đó đánh giá cao các linh mục và đánh giá thấp
người giáo dân – sự phân biệt này dẫn đến nhiều hình thức lảng xa và
phân biệt trong Giáo Hội. Từ một góc nhìn phụng vụ, tôi thấy những
lá chắn ấy chưa bao giờ được ghi nhận rõ ràng hơn thời điểm cách đây
ít lâu khi tôi ghé thăm một số nhà thờ ở Ý và nhận thấy các bàn thờ
được đặt ở một tầng cao hơn gian giữa của giáo đừơng. Thời ấy, ít
khi một linh mục bước xuống vào giữa lòng Giáo Hội, ngay cả lúc cho
rước lễ.
May thay, quyết định
của Công Đồng uỷ trao cho mọi người đã chịu Phép Rửa - những Kitô
hữu không có chức thánh – các vai trò quan trọng trong phụng vụ và
mục vụ là một bước quan trọng trong việc phá bỏ các lá chắn ấy. Hiện
nay đa số trong chúng ta đều biết rằng chức linh mục không phải là
một bước đi lên trong bậc thang xã hội, nhưng đúng hơn, đó là một sự
dấn thân đặc biệt để đi xuống, trong khiêm nhường và phục vụ, đến
với con người để trở thành “một người trong họ”. Khi làm thế, ý
nghĩa của chức linh mục không bị lạc mất. Đúng hơn, có thể nói,
chức linh mục được vãn hồi, được củng cố và được đào sâu theo chiều
hướng trở lại với sự khiêm nhường của Đức Kitô như dấu hiệu căn tính
của Ngài là Thượng Tế tốt lành. Chức linh mục phổ quát và chức linh
mục thừa tác cùng hướng chỉ đến ơn gọi Phép Rửa của chúng ta là ơn
gọi phục vụ cho nền hòa bình Messianic trên trái đất này.
còn
tiếp
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NGƯỜI MÙ BA-TI-MÊ |
Nguyên Tác
IN STEP WITH GOD
LM Vincent Travers, OP
HƯƠNG
VĨNH chuyển ngữ
Thánh
Mác-cô thuật lại câu chuyện người mù Ba-ti-mê trong Phúc Âm của
ngài như sau (Mc 10, 46-52):
“Chúa
Giêsu và các môn đệ đến thành Giê-ri-cô. Khi Chúa Giêsu cùng với
các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-cô thì
có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đuờng, tên anh là
Ba-ti-mê, con ông Ti-mê.
Vừa nghe
nói đó là Chúa Giêsu Na-gia-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: ‘Lạy
ông Giêsu, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!’ Nhiều
người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn
tiếng: ‘Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!’ Chúa
Giêsu đứng lại và nói: ‘Gọi anh ta lại đây!’ Người ta gọi
anh mù và bảo: ‘Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!’
Anh mù
liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu.
Người hỏi: ‘Anh muốn tôi làm gì cho anh?’ Anh mù đáp: ‘Thưa
Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.’ Người nói: ‘Anh hãy
đi, lòng tin của anh đã cứu anh!’
Tức
khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường
Người đi.”
***
Người mù
Ba-ti-mê được kể lại trong đoạn Phúc Âm của Thánh Mác-cô trên
đây, ngồi đơn độc bên vệ đường trông thật thảm não. Anh ta bừng
sống dậy khi nghe biết Chúa Giêsu đi ngang qua. Anh kêu lớn
tiếng và van xin mãnh liệt: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn
thấy được.” (Mc 10, 51).
Lời cầu xin
của anh đã được đáp trả. Bất chợt, anh thấy được. Để có thể thấy
được như thế phải có một kinh nghiệm lạ thường. Thật dễ dàng cho
bạn để tưởng tượng hơn là cho tôi để diễn tả.
Những
dấu vết mù lòa
Chúng ta
thường nghe nói: Không ai mù lòa cho bằng những người không
muốn thấy. Nói cách khác đi là chúng ta mang trên mình
những vết mù lòa riêng tư. Có những lúc chúng ta trở nên mù lòa
như câu ngạn ngữ trên đây.
Khi chúng
ta mang vết “mù lòa tâm linh” thì niềm hy vọng duy
nhất của chúng ta là cầu xin như Ba-ti-mê trên đây. Bởi vì trong
cuộc sống có những điều mà chỉ một mình Thiên Chúa chữa trị được
thôi – và sự mù lòa tâm linh là một trong những điều đó.
Kinh
nghiệm giải phóng
Để có thể
thấy được, trước khi không thấy, phải có một “kinh nghiệm
giải phóng” thật sự. Có nhiều người kêu xin cho được
kinh nghiệm đó. Họ bảo là họ thấy Chúa Giêsu như Vị Cứu Tinh của
họ. Họ đã được tái sinh và không ngừng nói lên điều đó. Họ không
thể im hơi lặng tiếng. Tôi đã gặp gỡ vài người như thế.
Để đáp lại,
bạn và tôi có thể nói: “Thật tốt cho bạn, hỡi Annie. Thật tốt
cho bạn, hỡi Ba-ti-mê. Tôi ghen tị với các bạn, bởi vì đối với
tôi, kinh nghiệm xảy ra trong chiều hướng ngược lại. Tôi ở trong
bóng tối, đang kêu lên: Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.”
Có nhiều
cách thế để “kinh nghiệm sự mù lòa”. Tôi bắt đầu lau chùi
nhà cửa và trước khi xong được một nửa thì bụi bắt đầu bám trở
lại. Vậy ích lợi gì? Tôi đang dọn bữa ăn và trong khi đang nấu
nướng, tôi nghĩ tới bữa ăn tối mai. Không bao giờ ngừng nghỉ.
Chu kỳ vẫn tiếp diễn và xem ra không ai quan tâm hết.
Tôi tự cho
mình quan trọng khi nuôi dưỡng con cái, nhưng giờ đây chúng nó
mỗi đứa đi một ngả. Tôi biết chúng thương yêu tôi, nhưng trong
thực tế, chúng đã ra đi và không gọi điện thoại về nhà hay thăm
viếng đôi ba lần trong năm hay trong nhiều năm.
Chồng tôi
và tôi xem ra không đi bất cứ nơi nào nữa hết. Mọi ngày vẫn như
vậy. Thế giới của tôi đầy tăm tối. Không có ánh sáng trong cuộc
đời tôi. Tôi bị mù lòa. Tôi là anh chàng Ba-ti-mê.
Cảm thấy
bất lực
Hoặc giả
chúng ta kêu lên:
“Lạy Chúa
Giêsu, xin thương xót con. Mỗi ngày con đi làm, nhưng công việc
lút đầu lút cổ. Hệ thống thối nát. Con bất đồng với thái độ đối
xử với nhau như khuyển mã và những phương pháp nhẫn tâm vẫn được
sử dụng. Con cảm thấy bất lực để sửa đổi được gì.
Ngoài ra, ý
kiến của con xem ra không được người ta đếm xỉa và công việc của
con không được đảm bảo. Con đã lớn tuổi để có thể bắt đầu trở
lại ở một nơi khác và con còn quá trẻ để có thể xin nghỉ hưu.
Con phải bảo vệ hưu bổng của con cũng như sự an toàn tài chánh
cho gia đình con. Con nhận được chi phiếu vào mỗi kỳ lương là
điều thật tốt, nhưng về mặt tâm linh, con bị mù lòa như
Ba-ti-mê, bởi vì con không thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm.”
Đơn độc
và bơ vơ
Hoặc giả
chúng ta kêu lên:
“Lạy Chúa
Giêsu, xin thương xót con. Hôn nhân của con đang trên đà đổ vỡ.
Chồng con không chịu đi gặp chuyên viên cố vấn để được khuyên
bảo. Nhìn về tương lai, con cảm thấy lo sợ. Nghĩ đến việc sống
còn khiến con kinh hãi. Con lo sợ những vụ cãi cọ vu vơ khiến
mỗi người bị thần kinh căng thẳng.
Con không
tìm ra một giải pháp nào. Con giống như một kẻ bi quan không
thắc mắc về tương lai, bởi vì biết rằng tương lai sẽ rất kinh
hoàng. Con không còn đóng góp được gì cho nhân quần. Con cảm
thấy không còn hữu dụng cho ai nữa.”
Hoặc giả
chúng ta la lên:
“Lạy Chúa
Giêsu, xin thương xót con. Con mới vào đại học đây. Con cảm thấy
bị lạc lõng giữa rừng người. Không ai hiểu rõ con. Con không
được may mắn trong việc giao tế. Xem ra ai cũng tương giao tốt
đẹp, chỉ trừ một mình con thôi. Con rất bối rối. Con không biết
sẽ đi về đâu. Con là chàng Ba-ti-mê.”
Không ai
thiện cảm
Bây giờ là
lúc nên chấm dứt kinh cầu của những nỗi thống khổ đó để suy niệm
đoạn Phúc Âm nói về anh chàng Ba-ti-mê và lấy tờ giấy đó ra khỏi
quyển sách. Khi anh ta nghe nói Chúa Giêsu đang đi ngang qua,
anh đã kêu lên để cầu xin Ngài. Bước khởi đầu của anh là kêu
cầu Đấng Toàn Năng.
Đã lâu lắm
rồi chúng ta nghe được là hầu hết những khó khăn của chúng ta
đều có tính cách tâm lý và tất cả những giải pháp của chúng ta
thuộc về tâm linh. Ba-ti-mê đã tin tưởng nơi lời cầu xin.
Hãy ghi
nhận điều gì xảy ra sau đó. Ba-ti-mê “không được cảm tình”.
Anh bi quở trách bởi những người rất có lý do. Họ bảo anh câm
miệng lại. Nhưng Ba-ti-mê không để ý tới. Anh tỏ ra can đảm
trong sự liều lĩnh. Anh càng la lớn tiếng hơn nữa.
Thông
thường trong những lúc gặp hoạn nạn, chúng ta cũng bị đối xử như
thế bởi những người có dụng ý. Họ quở trách chúng ta một cách
khắc nghiệt hay có tính cách khôi hài: Anh cần đi gặp một bác
sĩ tâm lý giỏi thì tốt hơn. Chỉ anh lo cho cuộc sống của anh
mà thôi. Đừng tưởng Thiên Chúa quan tâm đến anh. Thiên Chúa có
nhiều việc quan trọng hơn để phải ưu tư.
Khi chúng
ta theo gương Ba-ti-mê mà hành động, chúng ta không buông xuôi,
cho dù gặp phải những tiếng nói tiêu cực. Chúng ta tiếp tục kêu
lên Chúa lớn tiếng hơn nữa.
Cái chăn
an toàn
Sự kiên trì
của Ba-ti-mê đã được tưởng thưởng. Chúa Giêsu phán: “Gọi
anh ta lại đây!” (Mc 10, 49). Ban đầu anh ta do
dự. Việc anh đứng phắt dậy, “vất áo choàng đi” và tới với
Chúa Giêsu trong bóng tối là việc mà chỉ Ba-ti-mê làm được mà
thôi và đó cũng là việc mà Chúa Giêsu sẽ không làm. Thiên Chúa
sẽ không làm cho chúng ta những gì chúng ta có thể tự mình làm
được.
Ba-ti-mê
đứng phắt dậy, đã vất áo choàng lại và đi tới Chúa Giêsu trong
bóng tối. Tại sao anh do dự? Để hiểu rõ sự do dự của anh,
chúng ta phải thẩm định giá trị chiếc áo choàng của anh. “Chiếc
áo choàng đó là ‘cái chăn an toàn’ của anh”. Đó là cái
giường của anh, đồ vật cho anh hơi ấm, là vật sở hữu duy nhất
của anh.
Khi vất
chiếc áo choàng đó đi là anh vất bỏ tất cả những gì mà anh lệ
thuộc vào. Kinh ngạc thay, khi anh vất bỏ chiếc áo choàng, chính
là lúc anh thấy được ánh sáng.
Buông bỏ
Linh đạo ở
đây là sự “buông bỏ”. Buông bỏ không phải chỉ được
đề cập tới trong Kitô giáo, mà còn trong Do-thái giáo, Ấn-độ
giáo, Hồi giáo, Phật giáo. Ở giai tầng cao nhất, tất cả những
tôn giáo lớn đều dạy về huyền nhiệm và nghệ thuật của sự buông
bỏ. Khi bạn buông bỏ là bạn tìm gặp được cái “chân ngã”
của bạn.
Buông bỏ là
một bí quyết. Buông bỏ đưa đến ánh sáng. Linh đạo ở đây mang ý
nghĩa là “buông bỏ những cái chăn an toàn của chúng ta”,
những sự vướng mắc của chúng ta, những sự khước từ và gian dối
của chúng ta, những điều thỏa hiệp đối với sự liêm khiết của
chúng ta và làm giảm giá trị chúng ta trên phương diện nhân
sinh, cũng như nguyên nhân gây ra những hành động theo một cung
cách bất xứng đối với nhân cách chúng ta như là con cái Chúa.
Linh đạo
diệu kỳ trong đoạn Phúc Âm nầy là Ba-ti-mê, một người ăn xin,
không có chút của cải, không có quà tặng, do đó không có gì để
dâng hiến cho Chúa, ngoại trừ những sự khổ đau, tâm trạng
trống rỗng, sự cô đơn, sự thất bại và thất vọng. Và thật
ngạc nhiên, khi anh dâng cho Chúa tất cả những thứ đó, chính lúc
bấy giờ anh thấy ánh sáng và rồi theo Chúa Giêsu.
Tôi không
đưa ra giả thuyết là từ đây cuộc đời của anh không còn vấn đề gì
nữa. Cuộc sống vẫn còn khó khăn cho dù có ánh sáng. Tình yêu
chân thật không bao giờ trôi chảy êm xuôi!
Nói tóm
lại: Linh Đạo ở đây là “đứng phắt dậy, vất áo choàng đi và
tới với Chúa Giêsu trong bóng tối”. Bước nhảy vọt bằng
đức tin đưa chúng ta ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng
và lăn xả vào thời điểm của chính chúng ta để trở nên những con
người mà Chúa kêu gọi chúng ta phải hướng tới.
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NHẬT THỰC |
Kể từ ngày
18-05, tại Việt Nam, người ta bắt đầu trình chiếu một bộ phim có cái
tên nghe rất “kêu”: Sài Gòn Nhật Thực.
Tôi thì “về
vườn” đã lâu, trở thành anh “nông dân Hai Lúa”, chẳng còn đến rạp
chiếu bóng nào nữa, nên không quan tâm gì tới bộ phim đang được
quảng cáo rầm rộ kia. Tuy nhiên, hai chữ Nhật Thực trên đây khiến
tôi nhớ lại hiện tượng nhật thực toàn phần đã xảy ra tại Sài Gòn vào
ngày 24-10-1995:
Lúc đó, tôi
đang làm việc tại Xưởng Phim Hoạt Hình trong thành phố. Mấy ngày
trước, thiên hạ bàn tán xôn xao về hiện tượng nhật thực sắp xảy ra.
Vì đây là một hiện tượng hiếm hoi, lâu lắm mới xảy ra một lần, chỉ
những ai “may mắn” lắm mới được chiêm ngưỡng nó, nên ai cũng háo hức
cả. Trên vỉa hè, những người bán hàng rong bày bàn những chiếc
“kính” coi nhật thực làm bằng bìa cứng có dán hai tấm giấy gì gì đó
“để bảo vệ mắt khi nhìn thẳng vào mặt trời trong lúc nhật thực”. Tôi
cũng hăng hái mua một cái để dành.
Ngày quan trọng
đã tới. Trong Xưởng Phim, ai nấy thủ sẵn “mắt kính nhật thực” của
mình... Đến giờ nhật thực, mọi người đồng loạt ngưng việc, chạy ùa
ra sân để nhìn lên mặt trời. Trời bắt đầu tối sầm lại. Bỗng một ai
đó la lên: “Chạy xuống nhà kho coi, rõ lắm!”
Trong nhà kho
của Xưởng Phim, một nhân viên nào đó nhiệt tình và có đầu óc “khoa
học” đã làm một “hệ thống quan sát nhật thực” bằng một thau nước và
một tấm gương soi, phản chiếu hình ảnh mặt trời lên bức tường, quan
sát rất dễ dàng và rõ ràng!
Cái hình ảnh
mặt trăng ăn lẹm vào, rồi che khuất hoàn toàn mặt trời, làm cho mặt
trời trở nên mờ mịt, kể cũng “ngồ ngộ”, nhưng không khiến tôi bất
ngờ cho lắm, vì đây là điều mà ai cũng mường tượng ra được. Điều làm
tôi hết sức ngạc nhiên là lúc mặt trăng bắt đầu “nhả” mặt trời ra,
chỉ để cho mặt trời loé sáng theo một hình lưỡi liềm như kiểu vầng
trăng khuyết: khi nhìn xuống đất, tôi ngỡ ngàng nhìn thấy đầy dẫy
những bóng sáng hình trăng khuyết trên nền nhà kho. Thì ra, các tia
sáng phát ra từ mặt trời bị nhật thực, chiếu xuyên qua các lỗ đinh
trên mái tôn, đã tạo nên những hình ảnh của một tia sáng “khuyết”
thay vì một tia sáng tròn trịa của ngày thường!
***
Bây giờ, cứ
nghĩ về nhật thực là tôi lại giật mình: trong cuộc đời của mỗi
người, chúng ta hẳn đã tạo nên rất nhiều cuộc “nhật thực”!
Tôi tạo ra
“nhật thực toàn phần” khi tôi để cho “u mê ám chướng” che khuất hoàn
toàn “mặt trời chân lý” và tôi sống trong sa đoạ hư hỏng. Những lúc
đó, cuộc đời của tôi trở nên tối sầm lại, không còn soi sáng cho ai
được nữa. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, mức độ “tác hại” của những lúc
này có thể không nghiêm trọng quá, vì những người chung quanh đã
biết rõ tôi là “mặt trời đen” và chẳng ai trông cậy gì vào ánh sáng
phát ra từ tôi nữa. Trái lại, họ còn tìm cách để “giải cứu” tôi khỏi
tình trạng đáng buồn kia.
Sức “tác hại”
dường như xảy ra lớn hơn khi tôi che khuất một cách nhập nhằng theo
kiểu “nhật thực một phần”: tôi vẫn để cho mặt trời trong tôi chiếu
sáng, nhưng tôi làm cho các tia sáng biến dạng một cách tinh vi khó
nhận ra: tôi vẫn phát ra ánh sáng, nhưng ánh sáng này mang nặng các
méo mó dị dạng của con người tôi! Chắc hẳn có những người vẫn đón
nhận thứ ánh sáng dị dạng của tôi mà cứ tưởng rằng đó là ánh sáng
bình thường, và họ vô tình bị ảnh hưởng bởi thứ ánh sáng tai hại này
mà không hay biết. Thay vì soi sáng, tôi đã làm cho họ bị “mù mờ”
đi. Thay vì dẫn đưa họ tới miền ánh sáng đích thực thì tôi lại đẩy
họ vào vùng sai trái lầm lạc!
***
Thật rất khó để
có thể nhận ra những “mập mờ” trong cuộc sống của mình nếu không cậy
dựa vào Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng được mệnh danh là “Mặt Trời Công
Chính”. Thông thường, trong nỗ lực hướng thiện, ai cũng cố gắng để
sống trong chân lý và phục vụ trong chân lý. Tuy nhiên, vì “cái tôi”
thường rất khó thăm dò và kiểm soát, nên nó rất dễ luồn lách và bành
trướng che phủ lên Sự Thật. Bởi tôi thường chủ quan cho rằng sự thật
của mình là đúng, nên nhiều khi tôi đã khiến cho sự thật khách quan
bị méo mó đi, dẫn đến những hậu quả dị dạng trong cuộc sống.
Lạy Chúa
Giê-su, xin Chúa giúp con thoát khỏi tính chủ quan để con nhận ra và
sửa đổi những khuyết tật nơi linh hồn con, hầu con có thể phản chiếu
lại trọn vẹn Ánh Sáng Cứu Độ của Chúa cho những người chung quanh.
A-men./.
- Trầm Tĩnh Nguyện -
|
VỀ MỤC LỤC |
|
RỬA
TỘI CHO NGƯỜI CHẾT ? |
Hỏi:
đang có một linh mục công khai loan truyền việc rửa tội cho
người chết hiện về.. xin cha cho biết có giáo lý nào nói về việc
này không ?
Trả lời:
Xưa nay ở khắp nơi, người ta
đã nói nhiều về những hiện tượng như người chết hiện về trong
giấc mơ hay trong thực tế để xin điều này, cảnh cáo việc kia hay
người khác còn sống. Người ta cũng kể những truyện kinh hoàng về
ma quái hiện ra để nhát người sống hoặc phá phách khiến nhiều
người không dám ở trong những căn nhà nơi có xảy ra những hiện
tượng quá bất thường này.
Tuy nhiên, trước những sự
kiện đó, Giáo Hội không chính thức đưa ra một giáo lý nào để
giải thích và áp dụng mà vẫn giữ thái độ im lặng cho đến nay.
Các linh mục chỉ khuyên giáo dân dùng nước phép để vẩy trong nhà
hay xin làm phép nhà mà thôi. Dầu vậy, riêng trường hợp những
người được coi là bị “tà thần hay ma quỷ ám hại công khai”
(publicly possessed) thì Giáo Hội vẫn xử dụng biện pháp gọi là
trừ quỉ (exorcism) để giúp những nạn nhân trong trường hợp này
được bình an trở lại. Vì thế, ở mỗi Giáo phận, một hay vài linh
mục nào đó được Giám Mục chỉ định cho làm việc này, và chỉ các
linh mục này được phép “trừ quỷ” mà thôi.
Như thế cho thấy là thực tế
có hiện tượng ma quỷ phá phách mà Giáo Hội phải quan tâm, ngoài
niềm tin là có “ma quỷ, địch thù của anh em, như
sư
tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé” để cám dỗ con người phạm
tội nghịch cùng Thiên Chúa như Thánh Phêrô đã cảnh giác
(x 1 Pr 5:8).
Nhưng nếu ai nói rằng linh
hồn người nào đã chết hiện về để xin rửa tội và từ đây muốn dạy
giáo lý cho ai về phép rửa dành cho người chết thì đó hoàn toàn
là điều tưởng tượng hoang đường, nếu không muốn nói là lac
giáo=heresy vì không có căn bản tín lý, giáo lý, thần học nào
của Giáo Hội về việc này.
Tôi quả quyết như vậy, vì
những lý do sau đây:
Trước hết, Giáo Hội không tin
và dạy chúng ta tin về điều được gọi là “luân hồi=
reincarnation”. Đây là niềm tin của tôn giáo khác và chúng ta
kính trọng niềm tin của tôn giáo này. Nhưng là tín hữu Chúa Kitô
trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta không được tin điều này vì
Giáo hội đã dạy như sau về số phận con người ngay sau khi chết:
“Mỗi
người lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình phần
trả công đời đời cho mình ngay sau khi chết trong một cuộc phán
xét riêng, chiếu theo cuộc sống của mình hướng về Chúa Kitô, để
hoặc sẽ trải qua một sự thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng
diễm phúc Thiên Đàng hoặc lập tức bị án phạt đời đời”
(x. SGLGHCG, số 1022)
Như thế có nghĩa là một người
sau khi chết sẽ tức khắc chịu phán xét riêng để :
1-
hoặc phải được thanh luyện thêm ở
nơi gọi là “luyện tội” (purgatory) một thời gian dài, ngắn tùy
sự công bằng và lòng nhân ái của Chúa đòi hỏi.
2-
hoặc được vào thẳng Thiên Đàng để
vui hưởng Thánh Nhan Chúa vì đã tốt lành đủ sau khi chết.
3-
hoặc phải chịu án phạt đời đời trong
nơi gọi là hỏa ngục vì đã hoàn toàn khước từ Chúa và tình thương
của Ngài cho đến phút chót trước khi chết. (x. Sđd, số 1033-34)
Như vậy, làm
gì còn trường hợp nào linh hồn được trở về thế gian để xin rửa
tội nữa?
Vả lại, mặc dù phép rửa rất
cần thiết để được cứu độ như Chúa Giêsu đã dạy (x.Ga 5:3; Mc
16:16; Mt 28 : 19), nhưng chúng ta đừng quên hai điều rất quan
trọng sau đây:
Trước hết, rửa tội là cần
thiết, nhưng cần hơn nữa là phải sống những cam kết khi được
lãnh bí tích này (baptismal promises). Đó là yêu mến Chúa trên
hết mọi sự và yêu anh em như chính mình. Phải từ bỏ ma quỉ và
xa lánh mọi tội lỗi để sống theo đường lối của Chúa vì
“không phải bất cứ ai thưa với
Thầy : lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng
chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời,
mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21). Nói khác đi, không
phải cứ rửa tội thôi là được cứu rỗi, không cần phải làm gì nữa.
Ngược lại, nếu không sống những đòi hỏi trên của phép rửa, thì
rửa tội rồi cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy, vì phép rửa
nguyên mình nó không phải là Giấy thông hành (Passport) cho ai
để đi thẳng lên trời mà không cần bất cứ thủ tục nào khác nữa.
Thứ đến, với những người chết
đi mà không được rửa tội trong đó có các trẻ con, Giáo Hội vẫn
tin tưởng là họ có thể được cứu rỗi nếu đó không phải là lỗi của
họ qua lời dạy giáo lý và tín lý sau đây :
“Đúng thế, những người không do lỗi của mình mà
không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài, nhưng
thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Ngài mà hành
động để làm trọn Thánh Ý
Ngài, theo như lương tâm mặc khải cho họ và truyền dạy họ thì
những người đó có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời.” (x. Sđd
,số 847; Lumen Gentium ,số 16).
Như thế rỏ ràng cho thấy là
những người đã chết mà không được chiu phép rửa tội, vẫn có thể
được cứu rỗi, nếu họ đã sống đúng với tinh thần giáo lý nói
trên đây.Ngược lại, nếu đã không sống đúng với tinh thần đó hay
đã không thực hành những cam kết khi được rửa tội thì dù có
được rửa rồi cũng vô ích mà thôi, nói gì đến không được rửa tội
nữa.
Phép rửa chỉ là khởi đầu cần
thiết cho một tiến trình hoán cải (conversion) nội tâm để nên
thánh và được cứu độ. Nhưng phép rửa không bảo đảm cho ai thoát
khỏi mọi nguy cơ phạm tội cá nhân trở lại sau khi được rửa tội,
vì bản chất con người còn yếu đuối, cộng thêm ý chí tự do
(freewill) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng
bao lâu còn sống trên đời này. Vì thế, nếu không có thiện chí
cộng tác với ơn Chúa để sống những cam kết của bí tích rửa tội
thì Chúa không thể cứu ai được. Chính vì thực trạng con người
vẫn hoàn toàn yếu đuối sau khi được rửa tội, cộng thêm nguy cơ
cám dỗ của ma quỉ và gương xấu của thế gian mà Chúa Giêsu đã lập
thêm các bí tích cần thiết khác như Thêm sức, Thánh Thể và Hòa
giải để giúp con người được bổ sức tiến bước trên đường thánh
hóa cũng như lấy lại ơn Chúa sau khi lỡ sa phạm tội vì yếu đuối
bản thân. Nghĩa là nếu chỉ cần rửa tội là được cứu độ thì Chúa
Giêsu lập thêm các bí tích kia làm gì nữa ?
Như thế, người chết không cần
hiện về để xin chịu phép rửa tội qua trung gian của ai nữa vì
đã quá muộn để làm việc này.
Điều này hoàn toàn huyền hoặc
và lạc giáo vì không có chút căn bản thần học và tín lý nào hết.
Chắc chắn như vậy.
Tuy nhiên, nếu chuyện “hiện
về này” thực sự có xẩy ra cho một cá nhân nào, nghĩa là có ai
mơ gặp người chết về xin rửa tội, thì đó chỉ là kinh nghiệm
riêng tư rất cá biệt của người ấy mà thôi. Nhưng chắc chắn kinh
nghiệm này không thể là kinh nghiệm phổ quát có giá trị giáo lý
để kêu gọi người khác tin và thực hành được.
Điều chúng ta cần ghi nhớ là
Chúa Giêsu đã sinh xuống thế và chết cách nay chỉ mới 2000 năm.
Giáo Hội cũng chỉ mới thi hành việc rửa tội từ sau ngày Chúa về
trời, cách nay cũng chưa được 2000 năm. Trong khi thực tế là số
người đã sinh ra và chết đi trước Chúa Giêsu thì không biết là
bao ngàn triêu con người. Những người này tuyệt đối không biết
Chúa Kitô và không được chịu phép rửa. Vậy nếu “huyền thoại” nói
trên mà đúng và cần thực hành thì tất cả những người đã chết
đều phải hiện về hết để xin rửa tội. Khi đó, chắc chắn Giáo Hội
sẽ không thể có đủ thì giờ và huy động đủ thừa tác viên và
người trung gian đỡ đầu để rửa tội hết cho bao ngàn triệu sinh
linh ấy được !
Thiên Chúa là tình thương và
công bằng. Ngài không thể thiên vị ai trong việc cứu độ.
Vậy nếu phép rửa là điều kiện
duy nhất bắt buộc cho mọi linh hồn để được phần rỗi, thì điều
này phải áp dụng cho hết mọi linh hồn đã không được rửa tội khi
còn sống trong thân xác ở đời này. Nghĩa là, Chúa không thể ưu
tiên cho ai trở về xin phép rửa mà không cho các linh hồn khác
được về vì nhu cầu tối thiết này. Như vậy, chúng ta cũng không
cần biết đến lời dạy giáo lý trên đây của Giáo Hội nữa vì không
đúng thực tế. Ấy là chưa nói đến mối nguy hại lợi dụng của những
người còn sống vì chắc chắn sẽ có những người nghĩ rằng rửa tội
trước là điều thua thiệt. Họ không cần xin rửa tội nữa, cứ sống
và ăn chơi cho phỉ chí, cần gì bận tâm đến những răn đe về
luân lý và đạo đức cho mệt. Cứ sống theo sở thích rồi sau khi
chết, sẽ hiện về xin rửa tội để đươc tha hết một lần mọi tội cá
nhân và nguyên tổ. Như thế sẽ nắm chắc phần rỗi hơn vì không còn
thì giờ và nguy cơ để phạm tội thêm nữa như những người đã rửa
tội và đang còn sống trên trần gian này !
Nhưng ai dám tin và dạy cho
người khác tin điều quái đẳn này ?
Có chăng chỉ có người vô
tình hay cố ý coi thường giáo lý, và thần học tín lý của Giáo
Hội nên đã tự ý đưa ra giả thuyết hoang đường để hướng dẫn sai
lầm người khác mà thôi !
Tóm lại, chúng ta không được
tin và thực hành những gì Giáo Hội không dạy về tín lý, giáo lý
và luân lý, nếu chúng ta muốn coi Giáo Hội là Mẹ thay mặt Chúa
là Cha trong trách nhiệm dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta sống đức
tin trong cuộc lữ hành này.
LM Phanxicô
Xaviê Ngô Tôn Huấn |
VỀ MỤC LỤC |
|
DI CHÚC CỦA ĐỨC TGM
PHILIPPHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN: |
Giáo Hội Công Giáo
Tòa Tổng Giám Mục Huế
Archevêché Huế
Việt Nam
DI CHÚC
Nhân Danh
Cha và Con và Thánh Thần!
Tôi cám đội ơn Chúa đã
thương chọn tôi làm con Chúa, Linh Mục và Giám Mục trong Hội
Thánh của Ngài, mặc dù tôi rất bất xứng.
Tôi không có ước muốn riêng
nào về sự chết và cuộc tẩm liệm hay chôn xác tôi. Sao cũng
được, tùy Thánh Ý Chúa và sự liệu định của anh em Linh Mục Giáo
Phận, vì tôi chẳng đáng chi cả.
Tôi không có gì để nhắc nhủ
các Linh Mục Huế cách đặc biệt, trừ ra xin phép được khuyên các
ngài hãy can đảm tỏ ra trung thành với Hội Thánh trong mọi hoàn
cảnh, sống đoàn kết trong Linh Mục đoàn và sống trọn vẹn bổn
phận chủ chăn nhân hiền.
Tôi cám ơn các Linh Mục
trong Giáo Phận đã nhẫn nại chịu đựng tôi và tận tâm cộng tác
với tôi. Những ai mà tôi vô tình hay vì bổn phận đã làm mất lòng
thì xin tha lỗi cho tôi. Phần tôi, không buồn phiền một ai cả.
Xin mọi người cầu nguyện cho tôi.
Về tiền bạc, tôi không mắc
nợ ai. Nếu như ai có thấy đang thiếu tôi vật gì, thì tôi vui
lòng tha thứ cho hết.
Các vật dụng, sách vở và
tiền mặt tôi đang có, thì tôi trối lại hết cho Tòa TGM Huế.
Một lần nữa, tôi cám đội ơn
Chúa và xin tạm biệt mọi người, hẹn nhau trên Nhà Cha.
Huế, ngày tám tháng mười
một 1985
(ký tên và đóng dấu)
Philipphê Nguyễn Kim
Điền
Tiểu Sử của Đức Tổng
Giám Mục Philippe Nguyễn Kim Điền:
- Ngài sinh ngày 13 tháng 3 năm 1921 tại
Gia Định. - Năm 12 tuổi, ngài vào tu học tại Tiểu Chủng Viện
rồi sau đó vào Đại Chủng Viện Thánh Giuse, đường Cường Để Sài
Gòn (nay đổi tên mới là đường Tôn Đức Thắng). - Ngài chịu chức
Linh Mục ngày 21 tháng 5 năm 1947, sau đó làm giáo sư, rồi Giám
Đốc Chủng Viện.
- Năm 1955, ngài gia nhập Dòng Tiểu Đệ của
Thánh Charles de Foucault, sinh hoạt mục vụ với người nghèo
trong các xóm lao động, đạp xích lô để sống tự túc. Ngài cũng
đã qua Bắc Phi, sống tập thể trong sa mạc Sahara với các tu sĩ
Dòng Tiểu Đệ theo truyền thống của Dòng nầy. Năm 1957, trở về
Việt Nam, ngài đã từng sống ở Sài Gòn, Lâm Đồng, Cần Thơ
- Ngày 8 tháng 12 năm 1960, ngài được Tòa
Thánh Vatican chính thức bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo Phận Cần Thơ
(lúc 39 tuổi), lễ tấn phong được tổ chức tại Sài Gòn ngày 22
tháng 01 năm 1961.
- Ngày 30- 9- 1964, ngài được Tòa Thánh cử
làm Giám Quản Tổng Giáo Phận Huế thay thế Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đình Thục đi họp ở Roma và không trở về sau biến cố 01- 11-
1963.
- Ngày 11- 3- 1968, ngài được chính thức
làm Tổng Giám Mục Huế.
(......)
- Ngày 8- 11- 1985, cảm thấy cái chết có
thể đến với ngài bất cứ lúc nào nên ngài đã viết di chúc ngắn để
lại cho các Linh Mục “khuyên các cha hãy trung thành với Hội
Thánh và đoàn kết với nhau, sống trọn vẹn bổn phận của chủ chăn
nhân hiền”...
- Ngày 25- 3- 1988, ngài viết một bức thư
gởi cho ông Nguyễn Văn Linh, sau khi ông được bầu làm Tổng Bí
Thư đảng CSVN và tuyên bố chính sách “đổi mới”...Nội dung bức
thư đòi xóa bỏ lệnh quản chế, được phục hồi quyền công dân, được
tự do đi lại để thi hành nhiệm vụ Tổng Giám Mục đối với giáo dân
Huế và thăm viếng các Giáo Phận khác thuộc Tổng Giáo Phận Huế.
- Ngài qua đời ngày 8 tháng 6 năm 1988
tại Sài Gòn, hưởng thọ 67 tuổi.
Lược ghi theo tài liệu
của độc giả gởi đến |
VỀ MỤC LỤC |
|
Thánh lễ nối dài
giữa lòng nhân loại |
Trên đường về thành Bétxaiđa,
đám đông dân chúng tuôn đến với Chúa Giêsu để nghe lời Người
giảng dạy. Cùng với Chúa Giêsu, các môn đệ và đám đông, chúng ta
đang ở nơi đồng vắng – nơi sẽ xảy ra phép lạ hoá bánh ra nhiều
nuôi sống dân chúng. Sự kiện Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều không
chỉ đơn thuần là một phép lạ, mà còn là một một lời loan báo cho
tương lai: nhân loại sẽ được dưỡng nuôi bằng bàn tiệc Thánh Thể
trong đó nhiệm thể Chúa Kytô trở nên Linh dược Thần linh nuôi
sống nhân trần.
Giữa nơi hoang vắng, ngày lại
sắp tàn và với một lượng người quá đông đã khiến các môn đệ lo
lắng. Các ông lo lắng là phải. Bởi các ông biết rằng đối với đám
đông, các ông cũng có một vai trò nhất định nào đấy. Một điều dễ
hiểu là để lời Thầy được thính giả lãnh hội thì công việc của
các môn đệ trong vấn đề tổ chức chẳng dễ dàng gì. Chính vì thế,
giữa đồng không hiu quạnh, các ông lo cho số phận của năm ngàn
con người sẽ ra sao khi đêm về mà không có gì lót dạ. Lương thực
dự trữ bấy giờ chỉ vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá. Thật
chẳng thấm vào đâu với số người quá đông như thế. Vì thế, theo
các ông, cách tốt nhất là giải tán đám đông, cho họ về nhà, nhẹ
gánh nặng, thầy trò còn có thời gian nghỉ ngơi sau một ngày mệt
nhọc. Hợp lý quá đi chứ. Nhưng Chúa Giêsu không nghĩ như vậy.
“Chính anh em hãy cho họ ăn”. Tâm trạng của các ông có lẽ bực
bội hơn là ngạc nhiên. Chúng con cho họ ăn ư? Ồ không đâu, thưa
Thầy. Chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá? Chỉ còn cách là chúng
con đành phải lặn lội vào nơi gần nhất để mua lương thực cho
ngần ấy người mà thôi. Chúa Giêsu không để các ông phải khổ sở
với suy nghĩ rất ư bình thường như vậy. Điều Chúa muốn các ông
làm là hãy bảo đám đông quy tụ từng nhóm năm mươi người, nằm ngã
xuống và phân phát bánh cho họ.
Khi đám đông dân chúng đã ngã
mình trên đồng vắng, nghĩa là như Israel xưa trong sa mạc, họ
không còn lạc lõng, bơ vơ, tản mát nữa, tất cả đều được quy tụ
trở thành cộng đoàn cùng nhau dự tiệc- một hình ảnh loan báo cho
một dân tộc mới được mời gọi vào dự Tiệc cánh chung của Thiên
Chúa, khi đó kẻ nghèo sẽ được ăn uống thoả thuê- Chúa Giêsu mở
đầu bữa tiệc này theo đúng phong tục của người Dothái, nghĩa là
bằng lời chúc tụng. Một điều thú vị là nếu đối chiếu với bản văn
Tin mừng hôm nay với bản văn bữa Tiệc ly và bữa tiệc Emmau,
chúng ta sẽ thấy 4 động từ sau đây như là nét đặc trưng của việc
dâng lễ tạ ơn. Đó là việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc
tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ. Có khác chăng là ở đây là
lời chúc tụng, còn trong bữa Tiệc ly là lời Tạ ơn (x. Lc 22,
19;24, 30). Như thế phép lạ hoá bánh ra nhiều không chỉ cho thấy
Chúa Giêsu chính là vị Ngôn sứ vượt trên mọi ngôn sứ của thời
đại, như ngôn sứ Êlia xưa đã nuôi 100 người bằng 20 chiếc bánh
lúa mạch (x. 2V 4, 42-44) mà còn có quyền năng trong việc quy tụ
và nuôi sống dân Thiên Chúa. Chúa Giêsu còn cho chúng ta thấy
chính Người là hình ảnh của Thiên Chúa đến trần gian để yêu
thương con người, săn sóc và nuôi dưỡng họ bằng phương cách họ
không thể ngờ. Hôm nay chính Người đã ban tặng cho họ ân huệ cao
vời, đã nuôi sống họ cách dư dật.
Như ngôn sứ Êlia xưa, Chúa
Giêsu hôm nay cũng dựa trên năm chiếc bánh và hai con cá của đám
đông dân chúng hiến dâng để nuôi sống họ. Bí tích Thánh Thể mà
chúng ta tham dự mỗi ngày cũng vậy. Chính chúng ta cũng phải
dâng hiến năm chiếc bánh và hai con cá, tức là những hy sinh,
những đau khổ, bình an và hạnh phúc của cuộc đời lên cho Thiên
Chúa. Năm chiếc bánh và hai con cá thật chẳng đáng là gì trước
một đám đông đang đói lả, nhưng đó lại chính là phương tiện cần
thiết để Chúa thi ân giáng phúc. Cũng vậy, với quyền năng, Chúa
Kytô sẽ biến đổi, hiến thánh sự đói nghèo của chúng ta, Người sẽ
tiến dâng lên Chúa Cha cuộc sống và những việc làm dù rất nhỏ bé
của chúng ta trở nên điều thiện hảo mưu ích cho muôn người.
Bí tích Thánh Thể chính là
việc Thiên Chúa muốn quy tụ, mời gọi và đón nhận mỗi người chúng
ta vào dự Tiệc với Người. Bữa tiệc đó rất cụ thể, rất sinh động
và sinh muôn ơn ích. Bàn tiệc mà chúng ta tham dự không đơn
thuần là một bữa tiệc thông thường, mà là một bữa Tiệc Sự Sống
của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến kín múc nơi bàn
tiệc Thánh Thể để toàn thể con người chúng ta qua việc lãnh nhận
Mình và Máu Thánh Chúa Kytô, chúng ta được hiệp thông cách trọn
vẹn với Thiên Chúa, được sống chính đời sống Thần linh của Thiên
Chúa. Bí tích Thánh Thể còn là một lời mời gọi chúng ta can đảm
lên đường, đến với thế giới đang chia rẽ, đến với đồng loại đang
đói nghèo, đau khổ, bệnh hoạn tù đày để liên kết, an ủi, nâng đỡ
và cưu mang họ. Xin Chúa thánh hoá và biến đổi chúng ta hầu cuộc
đời chúng ta mãi mãi là Thánh lễ nối dài giữa lòng nhân loại.
Lm.
Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb |
VỀ MỤC LỤC |
|
TÌNH YÊU KHÔNG KHOE KHOANG |
Tác phẩm 13 Nét Mặt
Tình Yêu
Lm. Dominique AUZENET
Lm
Micae-Phaolô Trần Minh Huy chuyển
ngữ
TÌNH YÊU KHÔNG KHOE KHOANG
1. Đừng có thổi kèn báo trước ngươi.
Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho các môn đệ biết rằng tìm làm cho người ta
chú ý là rất có hại biết bao cho những hành vi có ý tốt nhất :
"Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng,
chớ có phô trương cho thiên hạ trông thấy, bằng không anh em sẽ
chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi
bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường
biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen.
Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố
thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí
được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ
trả lại cho anh" (Mt 6,1-4).
"Tình yêu không phô trương". Tình yêu không làm cho mình nổi bật
trước việc thiện mình làm, đó là điều mà ở đây Chúa Giêsu nói là
"thổi kèn" và coi là giả hình. Tình yêu đích thực là vô vị lợi và
không qui về chính mình. Người ta thường nói tình yêu không làm rộn
ràng...
Tuy nhiên, điều đó giả thiết cả một cuộc thanh luyện tình yêu. Trải
qua dòng thời gian, chúng ta học tập tự giải thoát khỏi lòng khao
khát được người đời biết đến. Lòng khao khát nầy làm cho chúng ta
không ngừng tìm kiếm lời tán dương của kẻ khác. Và như Chúa Giêsu đã
nói, "chúng thực hành công chính trước mặt người đời để
được họ lưu ý...".
"Điều có thể xảy ra là tôi đến với tha nhân là để bảo
đảm về giá trị riêng của tôi. Lối ứng xử của những kẻ khoe khoang
trên đời đều như thế cả. Không chắc chắn được về chính mình, họ cảm
thấy nhu cầu khẩn thiết gặp được những dấu hiệu tán thưởng mới trên
gương mặt tha nhân. Họ tìm kiếm cái gì ? Một bộ sưu tập những kẻ
tâng bốc. Nói đúng ra, thái độ ứng xử ấy không thiếu sự hấp dẫn của
nó. Khác với kẻ kiêu ngạo coi thường lời phẩm bình của người đồng
loại, kẻ khoe khoang nhìn nhận nhu cầu được người chung quanh cảm
phục và khen lao. Trong trường hợp như vậy, người ta chưa thương tha
nhân vì tha nhân, mà chỉ tìm nơi tha nhân những lời tung hô làm dịu
đi trong chốc lát cái cảm xúc hằng ám ảnh về sự yếu kém của mình"[1]
2. Hãy đi ngồi vào chỗ rốt hết.
Chúa Giêsu đã giới thiệu vài phương thuốc hiệu nghiệm, cách riêng
phương thuốc để tự hạ mình xuống và đặt mình vào chỗ rốt hết :
"Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn chỗ nhất mà
ngồi nên nói với họ dụ ngôn nầy : Khi anh được mời đi ăn cưới thì
đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh
cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến
nói với anh rằng 'xin ông nhường chỗ cho vị nầy'. Bấy giờ anh sẽ
phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời thì
hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người mời anh phải đến nói 'xin mời
ông bạn lên trên cho'. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi
người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ
mình xuống sẽ được nâng lên" (Lc 14,7-11).
Hay còn nữa : "Giữa anh em thì không được như vậy : ai
muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn
làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người" (Mc 10,43-44).
Còn lâu chúng ta mới thỏa mãn đạt được địa vị ngôi sao mà chúng ta
muốn trải rộng cái tôi của mình... Chúa Giêsu đã nói về Ngài và cuộc
khổ nạn của Ngài. Cha Huvelin đã viết cho Charles de Foucauld :
"Chúa Giêsu đã chọn chỗ tận cùng đến đỗi chẳng bao giờ có ai có thể
cướp mất được chỗ đó của Ngài". Vậy đừng có ai trong chúng ta cảm
thấy bàng hoàng khi phải hạ mình xuống ! "Đừng sợ, bạn càng khốn
khó, Chúa Giêsu càng yêu bạn. Ngài sẽ đi xa, thật xa để tìm kiếm
bạn..."[1]
3. Lạy Chúa, xin canh phòng miệng lưỡi con.
"Tình yêu không khoe khoang"... dĩ nhiên cũng liên quan đến lời nói
của chúng ta. Người ta sẽ có thể giải thích : Tình yêu cân nhắc
những lời nói của mình. Quả thực, chúng ta biết rõ là thói khoe
khoang được diễn tả ra bằng lời nói nhằm làm cho người ta được nổi
bật. Người ta có thể không bao giờ nói bậy, không bao giờ nói xấu kẻ
khác. Nhưng trong mức độ mà người ta không ngớt kể lể với kẻ khác về
mình, thì cuộc trao đổi không nhất thiết vẫn ở bình diện lời nói.
Chúng ta hãy lấy Mẹ Maria làm gương mẫu : sự thinh lặng nội tâm của
Mẹ làm cho mỗi lời nói của Mẹ trở nên một viên ngọc quí. Chớ gì khi
chúng ta nói, lời nói của chúng ta phải là hoa trái của sự thinh
lặng của chúng ta.
"Lạy Chúa, xin canh giữ miệng con và trông chừng lưỡi
con" (Tv 141,3). Câu thánh vinh nầy là một lời cầu
nguyện rất cần thiết cho nhiều người trong chúng ta. Những thái quá
trong lời nói được diễn tả trong cuộc tán gẫu kéo dài, trong nhu cầu
không thể nén để kể lể về mình, trong sự không thể giữ một điều bí
mật, trong ước muốn thỏa mãn tính hiếu kỳ của chúng ta về cuộc đời
kẻ khác... và trong nhiều cách thế khác ít lộ liểu hơn. Tính huênh
hoang trong lời nói cũng dẫn chúng ta đến chỗ khoe khoang những sự
hư vô thế gian, và như thế duy trì một bầu khí hời hợt bề ngoài ngăn
cản việc lắng nghe Lời Chúa tự trong sâu thẳm của lòng mình : "Chúng
huênh
hoang vì những vật hư vô nầy..." (Tv 97,7).
Phải, chúng ta hãy đắn đo và chế ngự lời nói của chúng ta. Hãy cầu
xin ơn ấy với Chúa Thánh Thần đang ngự trong chúng ta :
"Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được, nó là một sự
dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nộc độc giết người. Ta dùng
lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền
rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng
một cái miệng phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh
em, như vậy thì không được. Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun
ra từ một nguồn cả nước ngọt lẫn nước chua sao ? Thưa anh em, làm
sao cây vả lại có thể sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh trái vả
? Nước mặn cũng không thể sinh ra nước ngọt. Trong anh em, ai là
người khôn ngoan hiểu biết ? Người ấy hãy dùng lối sống tốt đẹp mà
chứng tỏ rằng những hành động của họ phát xuất từ lòng hiền hậu và
đức khôn ngoan. Nhưng nếu trong lòng anh em có sự ghen tương, chua
chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại mà nói dối trái
với sự thật" (Jc 3, 8-14).
Trong nhiều trường hợp, khoe khoang chính là nói dối trái với sự
thật... Tốt hơn là hãy làm thinh, dè dặt kín đáo.
4.
Tình yêu là dè dặt kín đáo .
Đây là hai bản văn của thánh nữ Catarina đệ Siêna giúp chúng ta xác
định rõ và thăm dò tầm quan trọng của sự dè dặt kín đáo :
"Sự dè dặt kín đáo kéo thân xác ra khỏi những vui thú và
những tế nhị của thế gian. Nó làm cho thân xác tránh xa xã hội của
người trần gian và đưa nó vào xã hội của các tôi tớ Thiên Chúa. Sự
dè dặt kín đáo khiến con người trốn khỏi những nơi tội lỗi và dẫn
đưa nó vào những chỗ thúc đẩy lòng đạo hạnh. Nó điều tiết mọi phần
thân thể để chúng trở nên giản dị và được giữ gìn ý tứ : Con mắt
không nhìn những gì bị cấm đoán và chỉ nhìn thấy trước mặt trời và
đất; miệng lưỡi tránh mọi lời nói vô ích và phù phiếm, nhưng sẵn
sàng loan báo Lời Chúa vì phần rỗi của tha nhân và xưng thú tội lỗi
mình; lỗ tai xua đuổi các diễn từ bởn cợt, nịnh hót, phóng đãng, và
nói xấu kẻ khác, nhưng chăm chú lắng nghe Lời Chúa và những kêu than
của tha nhân hầu cảm thông với nhu cầu của họ... Sự dè dặt kín đáo
cũng điều tiết đôi tay trong những gì chúng đụng chạm và thực hiện,
hướng dẫn đôi chân trên những nẽo đường của chúng, hầu luật lệ xấu
xa của xác thịt hằng chống lại tinh thần không làm ô nhiễm các khí
cụ nầy"[1]
Và đây là điều Chúa Chúa Cứu Thế nói với Catarina : "Sự dè dặt kín
đáo không là gì khác ngoài sự
hiểu biết đích thực mà linh hồn có về mình và về Chúa. Chính trong
sự nhận biết nầy mà sự dè dặt kín đáo đã cắm rễ vào. Nó là một ngành
được ghép vào và kết hiệp với đức ái... Sự dè dặt kín đáo sẽ không
là một nhân đức mang lại những hoa trái sự sống, nếu nó không được
trồng cấy trong nhân đức khiêm nhường, bởi vì đức khiêm nhường phát
xuất từ sự nhận biết mà linh hồn có được về mình. Và Thầy đã bảo con
là căn rễ của sự dè dặt kín đáo là một hiểu biết chân thực về bản
thân và về lòng nhân lành của Chúa, nó làm cho linh hồn trao ban
cách tự nhiên cho mỗi người cái gì họ đáng phải được.
Và trước hết, nó qui về Chúa những gì là của Chúa, bằng cách trả lại
cho Danh Chúa danh dự và vinh quang, các thánh sủng và ân ban mà nó
biết là đã nhận lãnh từ nơi Chúa. Nó cũng trả lại cho chính mình cái
mà nó ý thức được là mình đáng được, bằng cách nhận biết rằng nó
không hiện hữu bởi chính nó và nó chỉ tồn tại nhờ ân ban của Chúa.
Đó là những kết quả của sự kín đáo dè dặt được xây dựng trên sự hiểu
biết chính mình, vốn là đức khiêm nhường đích thực. Không có sự
khiêm nhường nầy, linh hồn sẽ không kín đáo được. Và sự không kín
đáo bắt nguồn từ lòng kiêu ngạo, cũng như sự kín đáo có nguồn ngọn
trong lòng khiêm nhường. Như một tên ăn cắp, nó lấy cắp vinh dự
thuộc về Thầy để qui hướng về nó và làm cho nó được vinh quang. Còn
những gì thuộc về nó thì nó lại gán cho Thầy bằng cách lẩm bẩm ca
thán những ý định nhiệm mầu Thầy đã kiện toàn trong nó và trong các
tạo vật khác của Thầy. Nó công phẫn trong mọi sự chống lại Thầy cũng
như tha nhân.
Hoàn toàn ngược lại cách ứng xử của những ai có nhân đức dè dặt kín
đáo... Họ trả lại cho tha nhân những gì họ nợ tha nhân, nhất là hiến
tặng cho tha nhân tình thương phát xuất từ đức ái, lời cầu nguyện
khiêm tốn và liên lĩ mà mọi người phải duy trì cho nhau"
Suy niệm
để lần hạt Mân Côi
1. Tình yêu không khoe khoang. "Khi làm việc lành
phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ
thấy, bằng không anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên
trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống như
bọn đạo đức giả... cốt để người ta khen" (Mt 6,1-2). Tình yêu không
làm cho người
ta chú ý. Xin Chúa ban cho chúng con sự xóa bỏ về điều thiện không
gây rộn ràng nầy.
2. Tình yêu không khoe khoang. "Khi anh được mời dự
tiệc, anh hãy đi ngồi vào chỗ cuối, để khi người đã mời anh đến nói
với anh 'xin mời bạn lên trên cho'. Bấy giờ anh sẽ được vinh dự
trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ
xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" (Lc 14,10-11). Chúng ta
hãy cầu xin Chúa
ban ơn có thể hạ mình xuống, bằng cách ngồi vào chỗ cuối trong
trường hợp cụ thể nọ kia xảy ra.
3. Tình yêu không khoe khoang. "Lạy Chúa, xin canh
giữ miệng con và trông chừng lưỡi con" (Tv
141,3). Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi sự thái quá trong lời nói
lộ rõ trong việc tán gẫu kéo dài, trong nhu cầu kể lể về mình không
kìm hãm được, trong sự không thể giữ bí mật, trong ước muốn thỏa mãn
tính tò mò về cuộc đời kẻ khác...
4. Tình yêu không khoe khoang. Chúa Cứu Thế nói với thánh nữ
Catarina đệ Siêna rằng "Sự dè dặt kín
đáo không là gì khác ngoài sự hiểu biết đích thực mà linh hồn có về
mình và về Chúa. Chính trong sự hiểu biết ấy mà sự dè dặt kín đáo đã
ăn rễ sâu vào". Chúng ta hãy xin ơn khiêm nhường và
nghèo khó tâm hồn. Tình yêu là dè dặt kín đáo.
5. Tình yêu không khoe khoang. "Còn Maria thì cẩn
thận giữ gìn những điều ấy và suy niệm trong lòng"
(Lc 2,19). Chúng ta hãy cầu xin ơn nội tâm, thinh lặng và cầu
nguyện.
|
VỀ MỤC LỤC |
|
Cập Nhật về Bệnh Lao |
Trong mấy tuần lễ vừa
qua, một vần đề thời sự y học đã được không những các nhà y
khoa học lên tiếng mà truyền thông khắp nơi cũng sôi nổi bàn
cãi, phóng sự, thông tin. Vài ngài dân cử Hoa Kỳ cũng lên
tiếng trách cứ cơ quan kiểm soát bệnh tật, nhân viên an ninh
biên giới và đòi họ ra quốc hội điều trần nội vụ đồng thời
tìm biện pháp đối phó, bảo vệ sức khỏe dân chúng.
Ðó là chuyện về một vị
thầy cãi 31 tuổi người Mỹ ở thành phố Atlanta, làm một đường
đi mây về gió, vượt Ðại Tây Dương sang Tây Âu cưới vợ, hưởng
tuần trăng mật rồi bay trở lại Hoa Kỳ qua ngả Gia Nã Ðại.
Ðiểm đặc biệt gây ra bàn
cãi là anh ta đang mắc một loại bệnh hiếm, có thể lây truyền
sang hành khách cùng ngồi trong phi cơ với anh trong hơn
chục giờ bay. Anh bị bệnh Lao phổi với loại vi khuẩn ngoan
cố, chống cự lại được với các kháng sinh trừ lao tốt nhất.
Anh bào chữa là cơ quan y
tế đã không cản trở việc anh đi máy bay và cho biết bệnh của
anh không có rủi ro truyền lây cho người khác.
Giới chức y tế phủ nhận,
khuyến cáo anh ta không nên trở lại Hoa kỳ bằng phi cơ dân
sự mà phải thuê một máy bay riêng. Anh bèn bay tới Gia Nã
Ðại rồi lái xe về New York, vào một bệnh viện xin điều trị.
Cơ quan kiểm soát bệnh
liên bang bèn tức tốc cho máy bay riêng tới đón anh về trụ
sở CDC ở Atlanta để khám nghiệm.
Hiện nay, anh đang được
để ở riêng, chữa trị tại một bệnh viện chuyên về Lao tại
thành phố Denver, Colorado. Tin cuối cùng cho biết luật sư
đã có ba kết quả thử đàm không có trực khuẩn lao.
Ðể trấn an dân chúng và
để ngăn ngừa lây lan bệnh, các cơ quan y tế đang tìm kiếm
mấy chục hành khách ngồi gần vị luật sư và đưa ra lời hướng
dẫn cần làm, nếu e rằng bị lây bệnh. Ðó là:
1- Nên tới bác sĩ gia
đình hoặc trung tâm y tế để xin làm thử nghiệm tìm kiếm bệnh
lao. Bác sĩ sẽ tìm hiểu dấu hiệu triệu chứng bệnh, làm thử
nghiệm trên da, Interferon-Gamma Release Assat (IGRA) và nếu
cần chụp quang tuyến phổi.
2- Nếu cần, trở lại bác
sĩ từ 6-8 tuần lễ sau để thử nghiệm tìm lao một lần nữa
3- Cất giữ kết quả thử
nghiệm. Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng bệnh lao như ho,
xuống cân, sốt, đổ mồ hôi
ban đêm thì cần trở lại bác sĩ ngay, dù kết quả thử nghiệm
trước đây tốt xấu ra sao.
4- Dù trước đây đã được
chủng ngừa lao, mà cho rằng đã có tiếp cận với bệnh nhân lao
thì cũng nên đi thử nghiệm lại.
Cuộc tranh cãi còn đang
tiếp diễn. Truyền thông cũng đã nói tới việc có thể có “đáo
tụng đình” về trách nhiệm của vị luật sư nhiễm XDR-TB, của
giới chức y tế liên hệ tới cho phép hoặc không cho phép thầy
cãi ta có bệnh hiếm cưỡi máy bay đi cưới vợ.
Theo cơ quan Kiểm Soát
Bệnh CDC, phẩm chất không khí trong lòng máy bay được thanh
lọc kỹ và tốt hơn ở trong phòng làm việc. Hành khách trên lộ
trình dài quá 8 giờ có thể có nguy cơ nhiễm lao nếu ngồi
cạnh bệnh nhân bị lao phổi. Tiếp xúc trong thời gian ngắn ít
khi bị lây bệnh.
Trong khi chờ đợi kết quả
nội vụ, xin cùng nhau tìm hiểu về bệnh lao này.
Thế nào là “bệnh lao kháng - nhiều-thuốc” Multi
Drug-Resistant -TB
Bình thường, bệnh lao có
thể điều trị khỏi với 4 loại thuốc căn bản hàng đầu.
Nếu các thuốc này bị lạm
dụng hoặc không dùng đúng cách, vi khuẩn lao trở nên quen
nhờn với thuốc và sự điều trị với nhóm thuốc hạng hai sẽ khó
khăn, có nhiều tác dụng phụ không muốn và rất tốn kém. Khi
các thuốc hạng hai này lại bị lạm dụng thì vi khuẩn trở
thành bất trị, cần được nghiên cứu chữa chạy quy mô hơn nữa.
Theo cơ quan Y tế Thế
giới, khi vi khuẩn chống lại được với hai dược phẩm công
hiệu nhất là isoniazid và rifampicin thì là bệnh lao
kháng-nhiều-thuốc (MDR-TB hoặc multidrug-resistant TB).
Ở mức độ trầm trọng hơn,
XDR-TB (Extensively Drug-Resistant-TB) như trường hợp vị
luật sư hành khách hàng không đang được dư luận nhắc nhở
tới, thì vi khuẩn lao chống lại cả với các thuốc uống nhóm
fluoroquinolone và ít nhất là với ba loại thuốc chích hàng
thứ nhì là capreomycin, kanamycin và amikacin.
Sự chống với thuốc kháng
sinh xảy ra khi:
-
bệnh nhân không dùng thuốc theo
đúng liều lượng và thời gian do bác sĩ chỉ định
-
bác sĩ cho không đúng thuốc,
không đúng liều lượng hoặc thời gian quá ngắn
-
khi sự tiếp liệu thuốc bị khó
khăn, gián đoạn
-
khi thuốc có ít công hiệu trị
liệu
Khi gặp trường hợp
XDR-TB, sự điều trị khó khăn hơn, cần được các nhà chuyên
môn có kinh nghiệm, kiến thức cao, phòng thí nghiệm tân
tiến, cần có tất cả các
nhóm thuốc để lựa chọn và thời gian điều trị có thể kéo dài
tới hai năm. Sự thành công tùy thuộc ở mức độ chống thuốc
của vi khuẩn, bệnh nặng hay nhẹ và sức đề kháng của người
bệnh.
Lây lan với MDR-TB cũng
tương tự như lây lan bệnh lao bình thường và tùy thuộc một
số điều kiện như:
- Số lượng bệnh nhân có
mặt tại địa điểm
- Các bệnh đó nặng hoặc
nhẹ
- Thời gian tiếp xúc với
bệnh nhân lâu hay mau
- Không khí nơi tiếp xúc:
thoáng khí ít rủi ro hơn
căn phòng nhỏ bé, không khí ứ đọng
- Khả năng đề kháng của
người tiếp xúc. Thí dụ với bệnh nhân suy miễn dịch vì HIV sẽ
dễ bị lây bệnh lao hơn.
Nói chung, lây XDR-TB ít
khi xẩy ra hơn là lây lan lao phổi bình thường, vì XRD-TB
rất hiếm. Theo cơ quan Y tế Thế giới, vào năm
2004, có khoảng nửa triệu
trường hợp MDR-TB tại các quốc gia. Từ năm 1993 tới 2006,
Hoa Kỳ có 49 trường hợp XRD-TB.
Thường thường XDR-TB xuất
hiện sau MDR-TB. Cũng theo cơ quan Y tế Thế giới, lây lan
bất cứ loại bệnh lao nào ở trên phi cơ đều rất hiếm.
Và xin cùng nhau ôn lại về bệnh Lao
Lao vẫn còn là một bệnh
có sức tàn phá rất mạnh. Toàn thế giới có khoảng 1.6 tỷ
người bị nhiễm, 15 triệu người mang bệnh và số tử vong mỗi
năm lên tới 2.5- 3 triệu.
Tại Mỹ, bệnh lao đã giảm
rất nhiều. Năm 2006 có 13,767 ca mà phần đông thấy ở di dân,
người vô gia cư, người nghiện chích thuốc, bệnh nhân bị liệt
kháng HIV.
Tại Việt Nam, bệnh lao
còn khá phổ biến và đứng hàng thứ 13 trong 22 nước có số
bệnh nhân lao cao trên thế giới. Mỗi năm, Việt nam có khoảng
160,000 ca lao mới đủ loại trong đó lao phổi dương tính với
vi khuẩn Koch là 60,000. Tồng số bệnh nhân lao lưu hành lên
tới trên 260,000 người.
Trong những năm gần đây,
bệnh lao trở nên khó chữa vì sự xuất hiện của các vi khuẩn
lao kháng thuốc.
Nguyên nhân
Lao là một bệnh truyền
nhiễm do trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra. Vi
khuẩn được bác sĩ người Ðức Robert Koch (1843-1910) nhận
diện vào năm 1882.
Vi khuẩn này rất hiếu
khí, cho nên thường tấn công phần đỉnh của phổi, phần đầu và
thân của xương. Gan, dạ dày, thực quản ít bị lao vì dưỡng
khí thấp.
Truyền bệnh
Lao lan truyền hầu như
duy nhất qua không khí từ người bệnh sang người khác. Vi
khuẩn lẫn vào không khí khi người bệnh ho, hắt hơi và sống
khoảng dăm giờ. Người kế cận hít vào và mang bệnh.
Sự truyền lan qua không
khí chỉ xảy ra trong trường hợp lao phổi hoặc họng, chứ
không xảy ra khi bị lao ở các nơi khác như thận, xương
Bình thường cần có sự
chung sống lâu với người lao chưa được điều trị mới mắc
bệnh, chứ chỉ gặp gỡ thoảng qua một vài lần thì ít khi bị.
Chẳng hạn như đi trên cùng chuyến xe bus mà người ngồi cạnh
bị lao thì cũng không đủ thời gian để bệnh truyền sang.
Bệnh không lây lan khi sờ
đụng vào nhau, dùng chung bát đĩa, phòng vệ sinh, phòng tắm
Gần đây bệnh lao xẩy ra
nhiều hơn, một phần vì số người bị liệt kháng HIV tăng mà
những người này lại dễ mắc bệnh lao.
Theo cơ quan Y tế Thế
giới thì 1/3 dân số trên trái đất bị bệnh lao, nhất là ở các
quốc gia kém mở mang vì nghèo đói, ăn ở chật chội, kém vệ
sinh công cộng, thiếu phương tiện phòng ngừa bệnh. Cũng theo
cơ quan này, lao đứng hàng thứ nhì trong số các bệnh nhiễm
với tử vong khoảng hai triệu trên thế giới.
Với sự di chuyển dễ dàng,
di dân du lịch toàn cầu, mọi quốc gia đều có nhiểu khả năng
tiếp nhận bệnh nhân lao, kể cả lao kháng thuốc MDR-TB và
XDR-TB.
Triệu chứng
Người bị lao thường ho cả
mấy tuần lễ, đôi khi đàm lẫn máu, đau ngực, khó thở, nóng
sốt, đổ mồ hôi ban đêm,
gầy ốm mất kí. Ho ra máu xảy ra khi có “lỗ” cavity ở phổi.
Khi có những dấu hiệu vừa
kể, kéo dài vài tuần lễ mà không biết rõ nguyên do, đều cần
đi bác sĩ để được khám nghiệm.
Riêng với trẻ em, các
triệu chứng thường thấy gồm có ốm yếu, sút cân trong 2 tháng
mà không biết rõ nguyên nhân, ho, thở khò khè,
sí ban chiều, đổ mồ hôi
trộm.
Định bệnh
Định bệnh căn cứ vào các
dấu hiệu bệnh lý, thử đàm tìm vi khuẩn lao, chụp quang tuyến
phổi, làm phản ứng tuberculin, soi phế quản.
a- Xét nghiệm tìm trực
khuẩn trong đàm rất chính xác để chẩn đoán lao phổi, nhất là
sau khi nuôi cấy trong môi trường riêng. Thử nghiệm rẻ tiền,
dễ thực hiện, thích hợp với các quốc gia đang phát triển.
b- Thử nghiệm nhiễm lao
bằng tuberculin test chích dưới da với một chút chất đạm đặc
biệt. Sau 48 giờ, chỗ chích hơi sưng đỏ là dấu hiệu nhiễm vi
trùng lao, nhưng còn yếu không đủ gây bệnh.
Thử nghiệm này do bác sĩ
người Pháp Charles Mantoux khám phá, áp dụng vào năm 1910 và
là thử nghiệm chính xác nhất hiện nay.
Những người sau đây cần
thử Mantoux trên da:
- đã tiếp xúc thời gian
lâu với người bệnh lao
- bị nhiễm HIV
- cho rằng mình đã bị
bệnh lao
- sống ở quốc gia mà bệnh
lao thường có, như Ðông Nam Á châu
- nghiện chích thuốc cấm.
c- Thử máu Quanti
FERON-TB để đo khả năng miễn dịch của cơ thể với trực khuẩn
lao. Trong tương lại, thử nghiệm này có thể thay thế cho
phản ứng da.
Hai thử nghiệm sau chỉ
cho biết có bị nhiễm lao hay không chứ không cho biết có
bệnh lao. Cần xác định
bằng X-quang, thử nghiệm đàm.
Cơ quan Y tế Thế giới đưa
ra một hướng dẫn tìm bệnh lao như sau:
- Mọi người bị ho không
lý do kéo dài 2-3 tuần lễ hoặc lâu hơn đều cần được khám
nghiệm coi có bị bệnh lao hay không.
- Mọi bệnh nhân nghi ngở
bị lao phổi cần được thử đàm ít nhất hai, hoặc tốt hơn, ba
lần để coi có vi khuẩn lao. Nếu có thể được, nên lấy một mẫu
đàm vào buổi sáng sớm.
- Mọi bệnh nhân có kết
quả X-quang không bình thường đều cần được thử nghiệm đàm để
kiếm vi khuẩn gây bệnh.
Cần phân biệt nhiễm lao
với bệnh lao.
- Trong nhiễm lao
(TB-infection), vi khuẩn nằm im không tăng trưởng vì bị hệ
miễn dịch của cơ thể khống chế, không gây ra bệnh, không có
dấu hiệu triệu chứng, X-quang phổi bình thường và không
truyền lây bệnh được.Tuy nhiên, nhiễm có thể trở thành bệnh
nếu cơ thể suy nhược, mắc HIV, nghiền chích thuốc cấm, sống
gần gũi với người bị bệnh lao.
Người nhiễm lao cần phải
uống thuốc isoniazid phòng tránh bệnh trong sáu tháng.
- Bệnh lao (TB-Disease)
là khi vi khuẩn đang hoạt động mạnh, tấn công mô bào các cơ
quan, gây ra các triệu chứng dấu hiệu bệnh và có thể truyền
vi khuẩn cho người khác.
Trị liệu
Cách đây trên nửa thế kỷ,
không có thuốc nào có thể trị dứt bệnh lao. Lao đã được liệt
kê vào nhóm bốn nan bệnh trong nền y học cổ truyền dân tộc
Việt Nam, Trung Hoa (Phong, Lao, Cổ, Lại. Tứ chứng nan y).
Nhưng kể từ năm 1950,
nhiều thuốc trị lao rất công hiệu đã được khám phá, sản
xuất. Có hai nhóm thuốc chữa lao:
Nhóm thiết yếu hàng đầu
gồm có Isoniazid, Rifampin, Ethambutol, Pyrazinamide.
Nhóm hàng hai thứ yếu là
streptomycin, ethionamid, prothionamid, PAS, cycloserin,
kanamycin và capreomycin.
Vì lao là bệnh có nhiều ở
các quốc gia đang phát triển, sự điều trị không đồng nhất,
nên cơ quan Y tế Thế giới đã có hướng dẫn chung như sau.
Hướng dẫn này đã được nhiều tổ chức y tế tại các quốc gia
ủng hộ:
- Mọi bệnh nhân, kể cả
người bị nhiễm HIV, mà trước đây chưa nhận điều trị lao, đều
nên dùng các thuốc hàng đầu đã được mọi người công nhận.
Giai đoạn đầu kéo dài hai
tháng với isoniazid, rifampin, pyrazinamide và ethambutol.
Gian đoạn kế tiếp được ưa
thích là bốn tháng với hai thuốc isoniazid và rifampicin. Có
thể thay thế bằng isoniazid và ethambutol trong sáu tháng
nếu người bệnh không tuân thủ điều trị, nhưng e rằng bệnh sẽ
khó lành và nhiều nguy cơ tái phát có thể xảy ra, đặc biệt
đối với người bị nhiễm HIV.
- Mọi bệnh nhân cần được
theo dõi kết quả với thử đàm vào lúc kết thúc kết thúc điều
trị hai tháng của giai đoạn dầu, sau năm tháng và khi hoàn
tất trị liệu. Bệnh nhân dương tính với thử đàm vào tháng thứ
5 đều bị coi như thất bại và cần được xem xét lại phương
thức điều trị.
- Bệnh nhân MDR-TB cần
được điều trị với bốn thuốc hàng hai trong thời gian ít nhất
là 18 tháng.
Nói chung, người mắc bệnh
lao phải uống thuốc trong thời gian lâu, ít nhất là sáu
tháng. Sau hai tuần lễ uống thuốc, nguy cơ lan truyền bệnh
đã giảm đi rất nhiều.
Nếu ngưng thuốc giữa
chừng, bệnh tái phát và rất khó chữa. Điều quan trọng là
phải uống thuốc cho tới khi bác sĩ thử nghiệm, chụp phim
thấy hết bệnh chứ không phải là ngưng khi thấy trong người
khỏe trở lại và lên cân.
Nếu bị bệnh mà không chữa
thì không những sẽ thiệt mạng mà còn rủi ro truyền bệnh cho
người khác.
Phòng ngừa
Phòng tránh lao tập trung
vào các điều sau đây:
a- Loại trừ nguồn gốc gây
lan truyền bệnh.
Bệnh nhân lao phổi và
cuống họng cần được chẩn đoán càng sớm càng tốt, tạm thời để
họ ở riêng và bắt đầu điều trị ngay bằng dược phẩm để tiêu
diệt vi khuẩn gây lao.
Trong thời gian này, bệnh
nhân không trở lại nơi làm việc hoặc trường học, tránh tiếp
xúc với người lành, đặc biệt là trẻ em, người nhiễm HIV,
không lai vãng nơi công cộng nhiều người tụ tập.
Thường thường, sau 2-3
tuần lễ uống thuốc đều đặn, thử nghiệm đàm âm tính thì khả
năng lây truyền bệnh giảm.
b- Phát hiện bệnh sớm.
Khi nghi có bệnh, cần đi
bác sĩ để được khám nghiệm, thử đàm, chụp hình phổi, thử
phản ứng tuberculin ngoài da và điều trị, nếu có bệnh.
c- Ðiều trị trường hợp
nhiễm lao, phản ứng da dương tính và chưa có dấu hiệu bệnh.
d- Tạo sức đề kháng với
vi khuẩn lao bằng vaccin BCG. Ðây là loại vi khuẩn lao sống
nhưng đã giảm độc tính và hiện đang được dùng ở mọi nơi, đặc
biệt là trẻ em tại các quốc gia đang phát triển, lao nhiều.
Vaccin không ngửa bệnh lao nhưng tăng cường sức đề kháng của
cơ thể với vi khuẩn lao.
Nên nhớ là bệnh lao không
di truyền, không gây ra do hút thuốc lá.
Kết luận
Lao được coi như bệnh của
người nghèo, với lợi tức thấp, sống trong điều kiện kém vệ
sinh, nhà cửa chật chội, không thoáng khí, bệnh dễ lây lan.
Nghèo đói lại làm bệnh lao dễ phát triển, khó chữa vì người
dân không đáp ứng được với phí tổn trị bệnh.
Theo tổ chức Y tế Thế
giới, bệnh lao đang có khuynh hướng tái xuất hiện tại các
quốc gia đang phát triển, đặc biệt là khi lao kết hợp với
nhiễm HIV và với các trường hợp vi khuẩn lao kháng thuốc.
Tổ chức này đã đề ra kế
hoạch giảm bệnh lao và số tử vong trên thế giới xuống 50%,
so với năm 1990, bằng cách kêu gọi sự hợp tác của các chính
phủ, cung cấp miễn phí thuốc trị lao cho mọi bệnh nhân, đặc
biệt là tại các quốc gia đang phát triển, dân chùng nghèo
túng, không có tiền mua thuốc. Ðồng thời, tổ chức cũng cố
gắng giúp các quốc gia cải tiến hệ thống điều trị với trực
tiếp theo dõi trị liệu (DOT-directtly observe therapy), bảo
đảm sự tuân thủ của bệnh nhân dùng thuốc.
Cao vọng của tổ chức là
vào thập niên 2050, bệnh lao sẽ không còn là vấn nạn y tế
của mọi quốc gia và tỷ lệ bệnh sẽ là
1/1 triệu người dân.
Và cũng không còn các
trường hợp lao kháng thuốc, di chuyền tiếp cận với người
lành trên máy bay, xe chuyên chở
công cộng cũng như nơi có nhiều dân chúng tụ họp,
để lây truyền căn bệnh nan trị.
Mong vậy thay!
Bác sĩ
Nguyễn Ý-Ðức
Texas-Hoa Kỳ.
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NGHỀ NGHIỆP - Chuyện phiếm của Gã Siêu. |
Ngày xưa còn bé, trong thời gian tiểu học,
mài đũng quần trên ghế nhà trường, thế nào cũng có lần thày cô
bắt làm một bài luận với đề tài :
- Lớn lên em sẽ làm gì ?
Thế là bọn nhóc chúng tôi cắm cúi viết. Đứa
thì mơ làm bác sĩ, đứa thì mơ làm kỹ sư, đứa thì mơ làm thương
gia…Và thậm chí, có đứa cả gan dám mơ làm ông tổng thống nữa. Ôi
! những giấc mơ chưa bị ô nhiễm mới đẹp làm sao !
Còn bây giờ, gặp nhau sau bao nhiêu năm
dài xa cách và nhìn lại quãng đường mình đã đi qua với những vật
lộn và bươn chải , nhất là sau những bầm giập của cuộc sống, hay
nói cách khác, sau những lần bị đời đá lên đá xuống như một trái
bóng, đứa thì cười ha hả với những thành công rực rỡ, đứa thì
ngậm ngùi với những thất bại đắng cay.
Có nhiều yếu tố tạo nên thành công hay thất
bại trên đường đời.
Thứ nhất là cơ may, gặp thời gặp vận. Có
những đứa chỉ với chút tiền còm, đầu tư vào lãnh vực nhà đất,
thậm chí có đứa chẳng bỏ ra đồng bạc nào, chỉ cần làm cò, làm
môi giới mua đi bán lại, nhưng trúng phóc vào lúc nhà đất đang
lên cơn sốt. Và thế là chỉ trong một thời gian ngắn, phất lên
trông thấy. Đúng là :
- Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Làm
bởi ngươi, nhưng ban bởi Ta.
Thứ hai là cố gắng và chắt bóp, vừa chí thú
làm ăn lại vừa tiết kiệm trong chi tiêu, theo kiểu “kiến tha lâu
cũng đầy tổ”, để rồi cuối cùng cũng khấm khớ, như thiên hạ đã
diễn tả :
- Trông lên thì chẳng bằng ai,
Trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình.
Nhưng quan trọng nhất vẫn là phải có một
nghề trong tay. Thực vậy, sống trong bối cảnh của nền kinh tế
thị trường, người ta lại càng cần phải có một nghề chuyên môn,
bằng không thì chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Mà
đã thất nghiệp, thì chỉ còn cách nằm ở nhà, ăn lương vợ và
làm….báo đời.
Chính vì thế, người xưa đã bảo :
- Không có tiền bạc chưa phải là nghèo,
nhưng không có nghề nghiệp mới thực sự là nghèo.
Tiền bạc như núi, nhưng tiêu mãi tiêu hoài,
có ngày cũng sẽ hết. Và khi hết tiền, hết bạc, chắc chắn chúng
ta sẽ lâm cảnh túng thiếu. Chàng trai phung phá ôm cả một gia
tài đi ăn chơi vung vít, phá gia chi tử. Miết rồi cũng rơi vào
tình trạng đói khổ, phải đi chăn heo. Trong cảnh cơ cực ấy,
chàng muốn tọng cám heo cho đầy bụng mà cũng chẳng ai cho.
Trong khi đó, nghề nghiệp sẽ đẻ ra tiền,
thì còn lo gì túng thiếu. Bởi đó, tục ngữ Việt Nam đã bảo :
- Trâu ruộng bề bề, không bằng nghề trong
tay.
Còn người Tàu cũng đã nói :
- Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
Hay như một câu danh ngôn đã xác quyết :
- Ruộng đất thẳng băng, chẳng bằng một nghề
trong tay.
Vì thế, điều quan trọng là phải chọn cho
mình một nghề, rồi ra sức trau dồi, học hỏi nghề mình đã chọn để
có được một chất lượng cao, cũng như để có được một tay nghề
vững.
Vì thế, người ta cũng thường diễn tả :
- Toàn bộ cuộc đời chúng ta tùy thuộc vào
một vài quyết định trong tuổi thanh xuân.
Đúng thế, vào lúc đầu còn xanh và sức sống
còn đang phơi phới, có những quyết định làm xoay chuyển hẳn
hướng đi và ảnh hưởng mãi cho đến khi về già.
Quyết định thứ nhất, đó là chọn cho mình
một bậc sống : Lập gia đình hay ở độc thân. Nếu lập gia đình thì
chọn cho mình một người bạn trăm năm khả dĩ cùng đi với mình cho
đủ ba vạn sáu ngàn ngày. Còn ở độc thân, thì độc thân giữa đời
hay vào nấp bóng trong một dòng tu…
Quyết định thứ hai, đó là chọn cho mình một
nghề, để rồi đầu tư công sức vào đó. Nghề đã chọn sẽ theo mình
trong suốt cả cuộc đời. Nếu có đổi thay chăng nữa thì cũng thật
long đong, vất cả mà nhiều lúc cũng chẳng nên cơm cháo gì.
Chuyện rằng : Nước Trịnh có người học nghề
làm dù che mưa, ba năm mới thành nghề. Trời hạn hán, không ai
dùng đến dù, anh ta bèn bỏ nghề làm dù, đi học nghề làm gầu tát
nước. Lại học ba năm mới thành nghề làm gầu, thì trời mưa mãi
không ai dùng đến gầu.
Bấy giờ anh ta lại quay về nghề làm dù như
trước. Không bao lâu, trong nước có giặc, dân gian nhiều người
phải đi lính, mặc đồ nhung phục, không ai cần đến dù, anh ta
xoay ra nghề đúc bình khí thì đã già quách mất rồi.
Úc Ly Tử thấy anh ta, thương tình, nói rằng
:
- Than ôi ! Bác chẳng đã già đời rồi ư !
Già hay trẻ không phải là tự người, mà là tự trời, điều ấy đã cố
nhiên. Nhưng nghề nghiệp thành hay bại, dù lỡ thời hay không gặp
dịp, cũng chẳng nên đổ cả cho trời, tất có mình ở trong.
Ngày xưa nước Việt có một người làm ruộng,
cấy lúa chiêm ba năm đều thất vì lụt cả. Có người bảo anh ta nên
tháo nước mà cấy lúa mùa. Anh ta không nghe, cứ cấy chiêm như
trước. Năm ấy nắng to, mà nắng luôn ba năm, vụ chiêm nào cũng
trúng, thành ra anh ta kéo lại, chẳng những hòa mấy năm mất mùa
trước, mà còn trở nên giàu có. Cho nên thiên hạ mới bảo rằng :
- Trời đại hạn, nghĩ đến sắm thuyền. Trời
nồng nực, nghĩ đến sắm áo bông.
Đó là một câu thiên hạ nói rất phải.
Tuy nhiên, có một nghề trong tay không
quan trọng cho bằng cách chúng ta hành nghề. Bởi vì có những
cách hành nghề nhằm bóc lột người khác, làm nghèo quê hương và
phá hoại đất nước. Nhưng cũng có những cách hành nghề giúp ích
cho người khác, làm giàu cho quê hương và góp phần xây dựng đất
nước, như một câu danh ngôn đã bảo :
- Giá trị của một nghề không bằng giá trị
của cách hành nghề.
Gã xin đưa ra những thí dụ cụ thể để minh
chứng cho điều vừa mới trình bày.
Chẳng hạn những người sản xuất thuốc, giúp
cho bàn dân thiên hạ trị bệnh, thế nhưng vì lòng tham đã chế
biến những thứ thuốc dổm, làm cho người đau yếu tiền mất tật
mang, bệnh vẫn hoàn bệnh và không chừng vì để lâu, còn mỗi ngày
một trở nên trầm trọng hơn.
Chẳng hạn những người bán hàng, giúp cho
bàn dân thiên hạ giải quyết được những nhu cầu cần thiết cho bản
thân và gia đình, thế nhưng vì lòng tham, đã chế tạo ra những
chiếc thước thiếu, những chiếc cân non, để móc túi người mua mà
người mua chẳng hề hay biết.
Mới đây tại Việt Nam, có một anh chàng đi
mua lúa tại tỉnh Kiên Giang, đã mày mò chế tạo ra một chiếc cân
với bộ phận điều khiển từ xa. Anh ta chỉ cần đứng ở đâu đó và
nhấn nút một phát là chiếc cân tăng giảm theo ý muốn của mình.
Quả là quỉ khóc thần sầu.
Chẳng hạn những người thầu khoán, giúp cho
bàn dân thiên hạ xây dựng nhà cửa để có một nơi cư trú vừa ấm
cúng lại vừa khang trang đẹp mắt, thế nhưng cũng vì lòng tham,
nên đã bớt cừ trong lúc đóng móng, đã bớt sắt trong lúc đổ
đà…khiến cho ngôi nhà chưa hoàn tất đã bị nghiêng đổ, hay mới sử
dụng được ít ngày, đã bị sụp lún và nứt nẻ tùm lum khiến cho khổ
chủ mặt mũi buồn xo !
Hầu như trong bất cứ ngành nghề nào, người
ta cũng đều có thể lươn lẹo và luồn lách, gian dối và xảo trá để
vơ vét về cho đầy lòng tham của mình. Nhưng khốn nỗi, lòng tham
của người ta lại thường vô đáy, nên biết thế nào mà lấp cho đầy.
Có người nước Sở làm nghề vừa bán mộc, lại
vừa bán giáo. Ai hỏi mua mộc, thì anh ta khoe:
- Mộc này thật chắc, không gì đâm thủng.
Còn ai hỏi mua giáo, thì anh ta to miệng
quảng cáo :
- Giáo này thật sắc, đâm cái gì cũng thủng.
Nghe vậy, người ta bèn hỏi :
- Thế bây giờ lấy giáo của bác đâm vào mộc
của bác thì sao ?
Và thế là anh ta tịt ngòi.
Tác giả sách Cổ Học Tinh Hoa bèn góp lời
bàn như sau :
“Chẳng qua vì mối lợi mà thành ra nói dối.
Thế nhưng khi bị người ta hỏi đến lẽ, thì liền không đối đáp
được nữa.
Có khác gì kẻ đem tượng gỗ ra chợ bán và
khoe rằng :
- Ai mua tượng về nhà thì được giàu sang.
Đến lúc có người bắt bẻ :
- Sao bác không để ở nhà cho được giàu
sang, mà lại mang ra chợ bán làm gì ?
Lập tức tắt khẩu, mà đành vác tượng ra về”.
Vắt tay lên trán mà suy gẫm chuyện đời, lắm
người đã phải dài hơi than thở cả tiếng :
- Có những nghề thấp đã nuôi dưỡng những
nhân cách lớn và ngược lại nhiều nhân cách tồi lại ngự trị trong
những nghề cao.
Nghe xong lời phát biểu trên, gã bèn vỗ đùi
đánh đét một cái và nói :
- Thật là tuyệt vời, tuyệt vời !
Rất nhiều lần khi đọc những bài phóng sự về
những phu hốt rác, những phu quét đường, hay những người thông
ống cống thành phố…gã đã phải khẩu phục tâm phục những người
phu, những người thợ này. Nghề của họ thật khiêm tốn, nhưng nhân
cách của họ lại thật cao. Họ chẳng gian tham, chẳng mánh mung,
nhưng âm thầm làm việc khi mọi người đang ngủ yên, hay chui rúc
dưới những đường cống tăm tối và hôi thối, cốt để phục vụ dân
phố và đem lại những thoải mái cho mọi người.
Trái lại, thực là vô phúc và đại họa khi
những kẻ có nhân cách tồi lại chễm chệ ngự trị trong những nghề
cao.
Chẳng hạn như những ông tổng thống, những
ông bộ trưởng, những ông giám đốc…Nhãn hiệu trình tòa của họ
thật là đẹp, nhưng nhân cách của họ lại tồi vì bị lòng tham lôi
kéo và thúc đẩy, khiến họ đã nuốt trửng hàng trăm, hàng ngàn tỷ
đồng mà vẫn cứ phây phây, làm cho đất nước đã nghèo lại càng
nghèo hơn.
Vì thế, yếu tố con người bao giờ cũng vẫn
là yếu tố căn bản và đi hàng đầu. Nếu con người mà đã hỏng, thì
mọi lãnh vực khác cũng sẽ bị sụm bà chè.
Trong phạm vi nghề nghiệp cũng vậy :
- Chẳng có nghề hèn, mà chỉ có kẻ hèn.
Ở Hàng Châu có người bán các thứ trái cây,
khéo để dành cam, lâu mà không ủng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp
như vàng, như ngọc đem ra chợ bán giá đắt, mà người ta tranh
nhau mua. Ta cũng mua một quả. Đem về bóc ra, hơi xông lên mũi,
múi xác như bông nát. Ta liền đem ra chợ hỏi người bán cam :
- Anh bán cam cho người ta để làm của cúng
lễ, đãi khách khứa hay là chỉ làm cho choáng bề ngoài để đánh
lừa người ta ? Tệ thật ! Anh giả dối lắm.
Người bán cam cười và nói :
- Tôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền
nuôi thân, Tôi bán, người ta mua, chẳng ai nói gì, chỉ có ông
kêu ca ! Thiên hạ giả dối nhiều chẳng phải một mình tôi ? Ông
thật không chịu nghĩ đến nơi…Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi
da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm, kỳ thực không biết
có giỏi được như Tôn Tẩn, Ngô Khởi không ? Người đội mũ cao,
đóng đai dài, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, nhưng kỳ
thực không biết có giỏi được như Y Doãn, Cao Dao không ? Giặc
nổi không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng
không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi
không ăn lương, không biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường,
đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của quí, oai vệ, hách dịch vô
cùng! Đó bề ngoài chẳng như vàng, như ngọc, mà bề trong chẳng
như bông nát là gì ? Ông không chịu xét những hạng người ấy mà
đi xét quả cam của tôi !
Ta nghe nói, nín lặng, không trả lời được
ra làm sao. Ta nghĩ người ấy nói có giọng khôi hài. Dễ chừng
người ấy ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục mới thác ra truyện
bán cam để dạy người đời chăng ?
Qua truyện trên, tác giả muốn lấy quả cam
đẹp vỏ, thối ruột mà châm chích cái hách dịch, cái oai vệ bề
ngoài của những bậc quan lớn một đời suy đốn, để phơi bày cái
thực chất bất tài, bất trí, bất dũng ở bên trong.
Nói rộng ra, bài này có ý dạy ta không nên
tin bề ngoài, cũng như những bài ngụ ngôn nói : Cái thùng không,
bông lúa lép, hay những câu ca dao :
- Trông em, anh ngỡ sao mai,
Biết rằng trong có như ngoài hay không ?
- Nhác trông ngỡ tượng tô vàng,
Nhìn ra mới biết chẩu chàng ngày mưa.
Không có nghề hèn, mà chỉ có kẻ hèn. Chính
kẻ hèn đã bôi tro trát trấu vào nghề nghiệp và làm cho nghề
nghiệp cũng trở nên hèn, như một câu danh ngôn đã bảo :
- Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho
con người, mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp.
Viết tới đây, gã xin mượn lại một lần nữa
mẩu chuyện trong sách “Cổ Học Tinh Hoa”. Mẩu chuyện ấy mang tựa
đề là “Người bán thịt dê” :
Vua Chiêu Vương nước Sở bị mất nước, phải
bỏ chạy. Có người bán thịt dê tên là Duyệt, cũng chạy theo vua.
Thời gian sau, vua Chiêu Vương trở về, lấy
lại được nước. Vua bèn thưởng cho những người chạy theo mình khi
trước, trong số đó có cả người bán thịt dê nữa.
Ai cũng nhận phần thưởng, chỉ một mình
người bán thịt dê từ chối và nói :
- Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán
thịt dê. Nay nhà vua còn nước, tôi còn nghề bán thịt dê. Thế là
tôi giữ được nghiệp cũ đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng.
Vua cố ép. Người bán thịt dê thưa rằng :
- Nhà vua mất nước không phải là tội tôi,
nên tôi không dám liều chết. Nhà vua lấy lại được nước, không
phải do công tôi, nên tôi không dám lĩnh thưởng.
Vua bảo :
- Để rồi ta đến nhà ngươi chơi vậy.
Người bán thịt dê nói :
- Theo phép nước Sở, phàm người nào có công
to, được trọng thưởng thì vua mới đến nhà. Nay tôi xét mình tôi
mưu trí không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được
giặc. Quân giặc vào trong nước, tôi chạy đi lánh nạn, phải theo
nhà vua, chớ có phải là cốt ý theo nhà vua đâu ! Nay nhà vua
muốn bỏ phép nước đến chơi nhà tôi, e thiên hạ nghe thấy lại chê
cười chăng.
Chiêu Vương thấy nói, ngoảnh lại bảo Tư Mã
Tử Kỳ rằng :
- Người bán thịt dê này tuy làm nghề vi
tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời
được người ấy ra nhận chức tam công cho ta.
Người bán thịt dê nghe thế bèn nói :
- Tôi biết chức tam công là quí hơn cửa
hàng bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt
dê. Nhưng tôi đâu dám tham tước lộc mà để nhà vua mang tiếng là
gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho về giữ
lấy nghề bàn thịt dê.
Nói đoạn, người ấy lùi ra ngay.
Tác giả sách “Cổ Học Tinh Hoa” đã góp thêm
lời bàn như sau :
“Vua Chiêu Vương muốn thưởng, là lấy cái ý
khí mình gặp bước lưu vong mà người ta đi theo mình là người ta
có lòng trung thành với mình. Người bán thịt dê không nhận
thưởng là lấy cái nghĩa không đáng nhận, vì không có công cán
gì.
Nếu ai cũng biết an phận thủ thường, quí
trọng nghề nghiệp như người bán thịt dê, thì còn ai là kẻ ham mê
phú quí, quyền thế và sự thưởng phạt ở đời chẳng là công minh
lắm ru ! Thực đáng làm gương cho những kẻ không biết liêm sỉ,
tài năng công đức chẳng có gì mà cũng cố cày cục, chạy chọt lấy
chút phẩm hàm chức vụ để lòe đời vậy.”
Theo thiển ý của gã, nếu các vị tai to mặt
lớn mà không tham sân si, tiền của, bổng lộc, để cho tệ nạn tham
nhũng lộng lành, thì đất nước này đã phất lên từ lâu.
Như vậy, chính lòng liêm khiết và tự trọng
của người chủ quán đã mang lại vinh quang cho nghề bán thịt dê,
một nghề xem ra rất tầm thường trong bất cứ xã hội nào. Phải
chăng câu chuyện này đã củng cố phần nào cho ý tưởng gã đã trình
bày ở trên, đó là không có nghề hèn, mà chỉ có kẻ hèn.
Một câu chuyện khác cũng đáng cho chúng ta
suy nghĩ, đó là câu chuyện về Alfred Nobel.
Vào một buổi sáng năm 1888, Alfred Nobel,
người phát mình ra chất nổ và đang hái ra tiền như nước, đã thức
giấc trong sự bàng hoàng và sửng sốt : tất cả báo chí trong ngày
đều nói đến cái chết của ông vua chất nổ.
Thực ra, đây chỉ là sự lầm lẫn của một ký
giả nào đó, bởi vì không phải Alfred Nobel qua đời, mà là người
anh của ông. Thế nhưng, dù sao đây cũng là dịp để ông đọc được
cảm nghĩ của người khác đang có đối với ông.
Trên môi miệng mọi người, ông chỉ là ông
vua chất nổ, là người làm giàu trên cái chết của không biết bao
nhiêu sinh mạng. Người ta không hề nhắc tới những nỗ lực của ông
nhằm phá vỡ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc và các ý
thức hệ. Không một ai đã nhắc đến những kiến tạo hòa bình của
ông cả.
Alfred Nobel buồn vô cùng vì hình ảnh của
một nhà kinh doanh trên sự chết chóc mà thiên hạ đang nghĩ về
mình. Ông quyết định làm cho cả thế giới biết lẽ sống đích thực
của ông. Với quyết tâm ấy, ông ngồi xuống bàn làm việc và viết
tờ chúc thư, trong đó ông đã dành tất cả tài sản của mình để
thiết lập nên một trong những giải thưởng có giá trị nhất thế
giới, đó là giải Nobel hòa bình, nhằm tưởng thưởng cho tất cả
những ai có công góp phần vào việc xây dựng hòa bình trên thế
giới.
Ngày nay, biệt hiệu của Alfred Nobel không
còn là vua chất nổ nữa, mà là vua hòa bình.
Và như vậy, không phải nghề nghiệp đã làm
danh giá cho con người, mà chính con người đã làm danh giá cho
nghề nghiệp.
Vì thế, chúng ta cần phải trao cho con cái
một nghề để nó có thể tự mình kiếm sống, bởi vì:
- Tay làm hàm nhai,
Tay quai miệng trễ.
- Có làm thời mới có ăn,
Không dưng ai dễ mang phần đến cho.
Tuy nhiên, việc quan trọng hơn vẫn là phải
đào luyện chính con người của chúng, vì yếu tố con người là yếu
tố quyết định trong mọi lãnh vực. Chẳng thế mà người xưa đã từng
xác quyết:
- Nhất niên chi kế, thụ cốc.
Thập niên chi kế, thụ mộc.
Bách niên chi kế, thụ nhân.
Có nghĩa là :
- Kế một năm không gì bằng trồng lúa.
Kế mười năm không gì bằng trồng cây.
Kế trăm năm không gì bằng trồng người.
Bởi vì :
- Đẻ con chẳng dạy chẳng răn,
Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy lòng.
Vậy thử hỏi chúng ta đã đầu tư thế nào cho
sứ mạng trồng người này ?
Trong phạm vi xã hội, ngân sách nhà nước
dành bao nhiêu phần trăm cho chi phí quốc phòng và bao nhiêu
phần trăm cho công việc giáo dục ?
Khi con người đã rệu rạo thì chắc chắn xã
hội sẽ tuột dốc, bất ổn sẽ xảy ra và người ta sẽ lại đổ tiền
nhiều hơn nữa để ổn định trật tự, cũng như tái lập hòa bình. Quả
là một cái vòng luẩn quẩn chết người, vì đã không chịu “chữa tận
căn”.
Con người là gốc rễ. Gốc rễ đã thối, thì dù
có bón bao nhiêu phân, xịt bao nhiêu thuốc dưỡng, cũng chỉ là vô
ích mà thôi.
Trong phạm vi gia đình, chúng ta đã thực sự
quan tâm và bắt tay vào việc giáo dục con cái chưa ? Hay là
chúng ta lại chủ trương trao phó cho ông trời, như tục ngữ đã
nói :
- Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
- Cha mẹ sinh con, trời sinh tính.
Và cứ để mặc con cái lớn lên như một loài
cỏ dại.
Để kết thúc, gã xin chia sẻ như thế này :
- Đối với con cái,
Để lại tiền của không bằng để lại kiến
thức.
Để lại kiến thức không bằng để lại nghề
nghiệp.
Để lại nghề nghiệp không bằng để lại đức
độ.
Gã Siêu
gasieu@gmail.com
|
VỀ MỤC LỤC |
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quí vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
*************
|
|