Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
Bài Viết Của
Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
TRONG GIÁO HỌI CÔNG GIÁO, TRUYỀN THỐNG KẾ VỊ TÔNG ĐỒ LÀ GÌ?
TẠI SAO PHẢI XƯNG TỘI VỚI MỘT LINH MỤC?
LINH MỤC: ĐỨC KITÔ THỨ HAI (ALTER CHRISTUS), PHẢI LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
BÍ TÍCH THÁNH TẨY và ƠN CỨU ĐỘ
NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI SỐNG ĐỨC TIN CÁCH NÀO ĐỂ MƯU ÍCH CHO PHẦN RỖI CỦA MÌNH VÀ GIÚP NGƯỜI KHÁC NHẬN BIẾT CHÚA NHỜ GƯƠNG SỐNG CHỨNG NHÂN CỦA MÌNH?
TẠI SAO CÓ SỰ DỮ, SỰ ĐAU KHỔ TRONG TRẦN GIAN NÀY?
NGUY CƠ CỦA TIỀN BẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN và ƠN CƯU ĐỘ
CÔNG ĐỒNG ĐẠI KẾT HAY CÔNG ĐÔNG CHUNG LÀ GÌ TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO?
BÍ TÍCH THÁNH TẨY (RỬA TỘI) QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO CHO HY VỌNG ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI MAI SAU?
TẠI SAO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TÔN KINH THÁNH GIÁ CÓ HÌNH CHÚA KITÔ BỊ ĐÓNG ĐANH (Crucifix) TRONG KHI CÁC PHÁI TIN LÀNH CHỈ TRƯNG THÁNH GIÁ KHÔNG CÓ HÌNH CHÚA BỊ ĐÓNG ĐINH?
CÔNG NGHIỆP CỨU CHUỘC CỦẢ CHÚA KITÔ ĐÃ ĐỦ CHO TA ĐƯỢC CỨU RỖI CHƯA?
GIÁO HỘI CÓ CHẤP NHẬN HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH KHÔNG?
MỌI BỔ NHIỆM CÁC VỊ LÃNH ĐẠO TRONG GIÁO HỘI CÓ THEO Ý CHÚA HAY THEO Ý CON NGƯỜI?
TAI SAO ĐỨC TIN PHẢI CÓ HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ TƯƠNG XỨNG ĐI KÈM THÌ MỚI CÓ GIÁ TRỊ CỨU RỖI?
NÓI THÊM VỀ TỘI PHẠM ĐIỀU RĂN THỨ SÁU
ĐỨC TIN LÀ GÌ và PHẢI SỐNG ĐỨC TIN THẾ NÀO ĐỂ ĐÁNG ĐƯỢC CỨU RỖI?
CÁC THÁNH GIÁO PHỤ VÀ TIẾN SĨ HỘI THÁNH LÀ NHỮNG AI?
GIẢI ĐÁP THÊM THẮC MẮC
SỐNG ĐỨC TIN và CHU TOÀN MỌI GIỚI RĂN CỦA CHÚA QUAN TRỌNG RA SAO CHO PHẦN RỖI CỦA NGƯỜI TÍN HỮU CHÚNG TA?
TẠI SAO PHẢI TRÁNH GƯƠNG XẤU, DỊP TỘI?
XIN NÓI LẠI NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO VÀ TIN LÀNH
TẠI SAO PHẢI CÓ VÀ THỰC THI ĐỨC KHIÊM NHU VÀ KHÓ NGHÈO NỘI TÂM ĐỂ MỞ MANG NƯỚC CHÚA VÀ MỜI GỌI THÊM NHIỀU NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA QUA GƯƠNG SỐNG NHÂN CHỨNG CỦA MÌNH?
PHẢI SỐNG ĐỨC ÁI CÁCH NÀO CHO ĐẸP LÒNG CHÚA VÀ MƯU ÍCH THỰC SỰ CHO NGƯỜI KHÁC?
CÁC BÍ TÍCH THÀNH SỰ HAY HỮU HIỆU VÌ YẾU TỐ NÀO?
CÁC BÍ TÍCH của GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CÓ NGUỒN GỐC KINH THÁNH KHÔNG?
LINH MỤC PHẢI SỐNG VÀ GIẢNG DẠY CÁCH NÀO CHO XỨNG ĐIA VỊ VÀ SỨ VỤ CỦA MÌNH?
PHẢI DÙNG TIỀN CỦA THẾ NÀO ĐỂ VỪA THỎA MÃN NHỮNG NHU CẦU CHÁNH ĐÁNG CỦA THÂN XÁC MÀ VẪN KHÔNG QUYÊN MỤC ĐÍCH ĐI TÌM SỰ GIẦU SANG PHÚ QUÍ CỦA NƯỚC TRỜI?
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI và SỐNG HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI VƠI CHÚA TRÊN NƯỚC TRƠI MAI SAU.
GIUĐA CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI HAY PHẢI PHẠT ĐỜI ĐỜI?
HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH LÀ GÌ? VÀ TÍN HỮU CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC PHÉP THAM DỰ NGHI LỄ VÀ TIỆC CƯỚI CỦA CÁC CẶP HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH KHÔNG?
THIÊN ĐÀNG, LUYỆN NGỤC và HỎA NGỤC LÀ GÌ, ở đâu và dành cho ai?
ĐỨC MẸ CÓ TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH KHÔNG?
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI và SỐNG HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI VƠI CHÚA TRÊN NƯỚC TRƠI MAI SAU.
CÓ ĐƯỢC PHÉP ĐỐT PHÁO VÀ MÚA LÂN TRONG NHÀ THỜ ĐỂ MỪNG TẾT VN KHÔNG?
NHÂN MÙA CHAY THÁNH, CẦN NÓI QUA VỀ NGUY CƠ TO LỚN ĐẾN TỪ MA QUỈ KẺ THÙ LUÔN CÁM DỖ CON NGƯỜI LÀM SỰ DỮ, SỰ TỘI KHIẾN MẤT HY VỘNG ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI HƯỞNG PHÚC THIÊN ĐÀNG
THUYẾT TƯƠNG ĐỐI (RELATIVISM) LÀ GÌ VÀ NGUY HIỂM RA SAO?
CÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG LÀ AI VÀ Ở ĐÂU?
NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BIẾT CHÚA KITÔ và KHÔNG GIA NHẬP GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG?
BÍ TÍCH THÁNH TẨY (RỬA TỘI) QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO CHO HY VỌNG ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI MAI SAU?
CỘNG TÁC VỚI ƠN CỨU ĐỘ CỦA CHÚA QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO NẾU MUỐN ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯƠC TRỜI HƯỞNG PHÚC THIÊN ĐÀNG?
CÁC THÁNH GIÁO PHỤ VÀ TIẾN SĨ HỘI THÁNH LÀ NHỮNG AI?


LM.F.X Ngô Tôn Huấn

Để trả lời câu hỏi trên của một số độc giả, tôi xin được trả lời vấn gọn như sau

A- Trước hết là các THÁNH GIÁO PHỤ (Church Fathers

Danh  xưng  này được dùng để chỉ các Giám mục hay giáo dân   đã có những tác phẩm hay bài viết,  bài giảng  có nội dung  giáo lý, (doctrines)  tín lý  (dogmas) và  thần học (Theology ) sâu sắc, tinh tuyền,  phản ảnh trung thực các chân lý của Đức Tin  mà chính Chúa  Kitô đã giảng dạy, đã mặc khải và truyền lại cho các Tông  Đồ tiên khởi. Như thế, các  Giáo Phụ là những người  không những có đời sống thánh thiên gương  mẫu  mà còn  giảng dạy,  quảng bá  và bênh  vực   các  chân  lý của Phúc Âm  để chống lại các bè  rối  (heretics) và những  kẻ  dạy sai  lạc giáo lý  tinh  tuyền  do các Tông Đồ   truyền  lại,  như  Thánh Phaolô đã  nhắc nhở  môn đệ của  ngài là Ti-mô-Thê  như  sau:

"Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp  với Đức Kitô-Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực  những lời lành  mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh  hãy  bảo toàn,  nhờ đó Thánh Thần ngự trong chúng ta." (2 Tm 1: 13-14)

Lại nữa, Thánh Phaolô  cũng lưu  ý môn đệ của  ngài về nguy  cơ  có những  người dạy giáo lý  sai  lạc như sau:

"Thần khí phán rõ ràng: vào những thời cuối cùng,  một số người sẽ bỏ đức tin và theo những thần khí   lừa dối, những giáo huấn của ma quỉ, đó là trò  giả hình  của những tên  nói  dối  mà lương  tâm như  bị thích  dấu  sắt  nung." (1 Tm 4: 1-2)

Trước   nguy cơ đó,  các Thánh Giáo Phụ của Giáo Hội là những  người  từ thời  sơ  khai   đã  đóng  góp phần quan trọng vào việc gìn giữ và giảng  dạy giáo lý  tinh tuyền đã được  truyền lại  từ các Thánh  Tông Đồ cho  các người  kế  vị các ngài  để tiếp tục  loan báo  Tin Mừng .và giảng dạy những chân lý của đức tin Kitô Giáo  Cho mọi nước ,mọi dân tộc cho đến ngày mãn thời gian tức là ngày tận thế khi không còn ai sinh sống trên mặt đất này nữa.

Trong  hàng ngũ  các Thánh  Giáo Phụ  tiên  khởi, người ta phân biệt:  các Giáo Phụ Hy Lạp (Greek Fathers) tức các Giáo Phụ giảng dạy ở Đông Phương  (trước năm 1054 là năm hai Giáo Hội Công Giáo  Đông và Tây chấm dứt hiệp thông với nhau vì một số bất đồng về tín lý, phụng vụ và quyền bính)    trong  khi các Giáo  Phụ Latinh (Latin Fathers)  giảng dạy ở Phương Tây,

 nơi  tiếng  Latinh  là ngôn ngữ chính  được dùng   trong Phụng  vụ, học hành và giảng  dạy.

Các  Giáo Phụ được phân chia  theo thởi  gian  sống  và giảng  dạy  như  sau

I- Trước hết là Các Giáo Phụ Tông Đồ (Apostolic Fathers)  tức  các Giáo Phụ sống  rất  gần  các Thánh Tông Đồ  tiên  khởi  trong  khoảng  giữa  thế kỷ  thứ  nhất và  đầu  thế kỷ  thứ  hai.

II-  

                  Có 6 vị được biết đến như sau:  

     1- Thánh Barnabas (cuối thể kỷ 1 và đầu thế kỷ 2).

     2- Thánh Clement of Rome (sống vào  thế kỷ 1).

     3- Thánh Ignatius of Antioch (thế kỷ 1).

     4- Thánh Polycarp of  Smyrna (mất  năm 156).

      5- Thánh Hermas (đầu thế kỷ 2).

      6- Thánh Papias (đầu thế kỷ 2).

II- Thời  Trường phái Alexandria tức là vào khoảng cuối  thế  kỷ thứ hai cho đến năm  315.

III- Thời Hoàng  Kim (Golden Age) là thời  các Giáo Phụ  sống và giảng  dạy trong  khoảng   từ Công Đồng  Nicea  (325) cho đến  năm 444  A.D   với các Giáo Phụ  tiêu  biểu là  thánh Basil (mất t năm 379) Thánh  Gregory Nazianzen  (390), Thánh  John Chrysothom  (407),  Thánh  Anathasius (373). Các Giáo Phụ  này  thuộc Giáo Hội Hy Lạp (Greek Church). tức  thuộc Giáo Hội Công Giáo Đông Phương.  Các vị  thuộc  Giáo Hội Latinh,  tức  Giáo Hội Công Giáo Phương Tây,  gồm có: Thánh  Ambrose  (mất  năm  397), Thánh Jerome (420) Thánh Augustine (430)

IV- Thời cuối cùng,  từ năm 450 cho đến A.D 750.

Sau đây là các  đại Giáo Phụ đã được xưng tụng trong  toàn Giáo Hội :

      1- Thánh Ambrose thành Milan (mất năm 397).

      2- Thánh Augustine, Giám Mục Hippo cũng là Thánh  Tiến  Sĩ  Hội Thánh (mất năm 430).

      3- Thánh Jerome (mất năm 420).

      4- Thánh Gregory of Nazianzen  (mất năm 390).

     5- Thánh Basil the Great  (mất năm 379).

     6- Thánh John Chrysostom ( mất năm 407)

     7- Thánh Athanasius (mất năm 373).

Muốn được phong  danh hiệu  Giáo Phụ, các Giám mục hay các nhà văn giáo dân  phải có những  điều kiện sau  đây:

1- Thứ nhất, phải sống trong khoảng 6 thể kỷ đầu của Kitô Giáo, nghĩa là sống gần với  thời các  thánh Tông  Đồ tiên khởi, hay gần các người kế vị  theo sau các Tông Đồ;   và do đó,  được hiểu  biết  rõ hơn về những chân  lý  của Đạo thánh  mà các Tông Đồ  đã trực  tiếp lãnh nhận  từ Chúa  Kitô.

2- Có đời sống thánh  thiện, đáng làm gương  mẫu cho người khác.

3- Có  viết sách  hay bài giảng  nhiều ít  để lại cho mục đích bảo vệ, gìn giữ và  dạy dỗ   giáo lý  đức tin  đich thực  đã  được mặc khải và  truyền lại từ các Tông Đồ  tiên  khởi.

4- Được Giáo Hội công  nhận và phong thánh  với danh  hiệu Thánh  Giáo Phụ (Church Fathers).

 

                       B- Các Tiến sĩ Hội Thánh (Doctor  of  the Church)

Danh  hiệu  Tiến  Sĩ ở đây (Doctor) không  đồng  nghĩa với  học vị  tiến sĩ được  trao cho các sinh  viên đã đạt trình  độ kiến  thức  cao nhất  về một  ngành chuyên  môn nào  ở các  Đại  học  trên thế giới. Trong Giáo  Hội Công Giáo,  ngược lại, danh  xưng Tiến Sĩ (Hội Thánh), bắt nguồn  từ nguyên  ngữ Latin "docere" có nghĩa là dạy dỗ.  Danh  hiệu  này được trao tặng cho các vị   nay đã  được phong  thánh,  vì có đời sống thánh  thiện  và  có   tác phẩm  hay bài viết, bài giảng góp phần quan  trọng  cho việc học hỏi  các  chân  lý  đức tin  vững  chắc và con đường  nên  thánh. thực dụng.

Nghĩa là, các Thánh Tiến Sĩ  là những  người, khi còn sống,  không  những đã có đời  sống   thánh  thiện,  có  linh đạo (spirituality) sâu  sắc  và có ít nhiều chứng từ  để  lại với nội dung dạy dỗ  và   bảo vệ đức tin chân  chính, cũng như  chỉ dẫn con đường   nên thánh, đáng làm  khuôn vàng  thước  ngọc cho mọi  người  trong Giáo  Hội  noi  theo để  được  nên  thánh  và  sống  hạnh   phúc đời  đời với  Thiên Chúa trên Nước Trời.

Như thế, các Thánh Tiến sĩ cũng  là các  thầy dạy  đức tin vững chắc, tức là dạy con đường  nên thánh   với gương sống thánh  thiện  của các ngài cho  mọi người  trong Giáo Hội   noi theo để  được  nên  thánh như  các ngài.

Cụ thể, thánh Thérèse  Giêsu  Hài Đồng (Thérèse of Lísieux, 1873-1897) mới có 15 tuổi, chưa học hết   bậc  trung học, và  đã được  đặc  cách  thâu  nhận vào   Dòng  kín Lisieux ( Pháp ) năm 1888. Nhưng  sau chín  năm  sống ở đây  và mất  năm 1897  khi   mới 24 tuổi,  đã để  lại cho Giáo Hội một di sản thiêng liêng  hiêm quý. Vì thế,  bà  đã  được phong Tiến Sĩ  Hội Thánh  năm 2000,  vì Giáo Hội  nhìn  nhận con đường tu đức  đơn sơ nhưng  sâu sắc và gương  sống  thánthiên,  khiêm  nhu  của bà,  đáng  làm  khuôn  mẫu  cho mọi  người  trong Giáo Hội  noi theo  để được  nên  thánh  bằng "con đường thiêng liêng nhỏ bé (Little

 Way)" mà bà đã sống   và thực hành  suốt  9 năm  trong  Dòng  kín Lisieux.

Như vậy, các Thánh Tiến Sĩ  không  phải là những  người,  khi còn  sống,   đã  dạy  những  kiến thức  của người  đời  mà  là dạy con đường  nên thánh với  gương  sống và ảnh  hưởng tinh  thần  có sức  lôi  kéo  người khác  học  theo để nên  thánh,  nên  trọn lành  như Chúa Giêsu  đã  kêu gọi "Anh  em hay nên hoàn thiện   như Cha anh  em trên Trời là Đấng hoàn  thiện." (Mt 5: 48

Danh  xưng Tiến Sĩ Hội Thánh phải được Đức Thánh Cha hay một Công  Đồng Đại  kết  (ecumenical Council)  nhìn  nhận và công  bố cho toàn Giáo Hội  học hỏi  và noi  theo để  sống

và thực hành   đức tin  tinh tuyền cùng  với  đời sống thánh thiện    mà Chúa Kitô đã giảng dạy và được lưu truyền  từ các Thánh Tông Đồ cho đến các  thế hệ  tiếp theo trong  Giáo Hộ cho đến ngày nay.i.

Về phía Tây phương, có bốn Thánh Tiến Sì  được   tuyên  phong năm 1298  là các Thánh Ambrose  thành Milan (Ý), Thánh Jerome, Thánh  Augustine of Hippo và Gregory the Great   thuộc Giáo Hội Phương Tây. Bên  Đông  phương, cũng có bốn  vị  được tuyên  phong năm 1568  là các thánh Athanasius,  John Chrysotom (Miệng Vàng),    Basil the Great và  Gregory of  Nazianus.

Sau đây là danh sách các Thánh Tiến Sĩ Hội Thánh  xếp theo thứ  tự  năm được phong Tiến Sĩ  Hội Thánh:

1- Thánh Thomas Aquinas năm 1567.

2- Thánh Bonaventure, năm 1588.

3- Thánh Anselm of Canterbury năm 1720.

4- Thánh Isidore of Serville, năm 1722.

5- Thánh Peter   Chrysologus, năm 1729.

6- Thánh Leo the Great, năm 1754.

7-  Thánh Peter Damian, năm 1828.

8- Thánh Bernard of Clairvaux, năm 1830.

9- Thánh Hilary of Poitiers, năm 1851.

10- Thánh Alphonsus Liguori, năm 1871.

11- Thánh Francis de Sales năm 1877.

12- Thánh Cyril of Alexandria, Cyril of Jerrusalem, năm 1882.

13- Thánh John of Damascus, năm 1890.

14- Thánh The Venerable Bede, năm 1899.

15- Thánh Ephraem the Serian, năm 1920.

16- Peter Canisius, năm 1925.

17- Thánh John of the Cross, năm 1926.

18-  Thánh Robert Bellarmine năm 1931.

19- Thánh Albertus Magnus, năm 1932.

20- Thánh Anthony of Padua, năm 1946.

21- Thánh Lawrence of Brindisi, năm 1959.

22- Thánh Teresa of Avila, Catherine of Siena, năm 1970

23 Thánh Therese of Lisieux (Child Jesus)  năm  2000.

Chúng  ta cầu  xin  cùng các Thánh Giáo Phụ và Tiến Sĩ  cách riêng  phù  trợ chúng ta trong đời  sống  thiêng liêng  và noi  gương các  ngài  để trở  nên  thánh, vì "Cha chúng ta ở trên trời  là Đấng Thánh".

 

Lm Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn, DMin (Doctor of Ministry-Tiến sĩ Sứ Vụ)

 

 

Tác giả: Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!