Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
Bài Viết Của
Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
THIÊN CHÚA BA NGÔI
GIÓ VÀ LỬA LÀ BIỂU TƯỢNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
CHÚA THÁNH THẦN LÀ TRẠNG SƯ BIỆN HỘ
TA LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ SỰ SỐNG
CHÚA CHIÊN LÀNH VÀ ƠN CỨU CHUỘC
CON ĐƯỜNG EMMAUS VÀ NIỀM TIN CHÚA GIESU PHỤC SINH
CUỘC SỐNG NGƯỜI KITO HỮU
NHÌN MÀ KHÔNG THẤY..... ĐỨC GIÊSU ĐẾN TỪ THIÊN CHÚA
NƯỚC HẰNG SỐNG
CHÚA GIESU BIẾN HÌNH & Ý NGHĨA SỰ VIỆC
HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
TA ĐẾN ĐỂ KIỆN TOÀN LUẬT, KHÔNG PHẢI ĐỂ PHÁ HỦY
CHÚA GIESU VÀ ÁNH SÁNG ISAIAH (Tết Quý Mão 2023)
LỄ HIỂN LINH
MARIA MẸ THIÊN CHÚA
LỄ THÁNH GIA Chúa GIESU, Mẹ MARIA và Thánh GIUSE
THIÊN CHÚA SINH RA ĐỜI (Lễ Giáng Sinh-Bình Minh)
CHÚA SINH RA ĐỜI - Lễ Đêm
THIÊN CHÚA XUỐNG THẾ LÀM NGƯỜI (LỄ GIÁNG SINH-Lễ Ban Ngày)
LỊCH SỬ MÙA VỌNG
CHÚA GIESU MANG BẤT HÒA ĐẾN THẾ GIAN
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
HÃY GIỮ VỮNG NIỀM TIN
PHẢN ỨNG CỦA TGM NAUMANN VỀ VIỆC ĐGH FRANCIS CHO BIDEN VÀ PELOSI RƯỚC MÌNH THÁNH CHÚA
MỘT TRƯỜNG TRUNG HOC Ở WORCESTER, HOA KỲ BỊ MẤT DANH HIỆU CÔNG GIÁO
AI LÀ NGƯỜI ANH EM TÔI?
PHƯƠNG CÁCH MỤC VỤ CỦA CHÚA GIÊSU
ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀ MÔN ĐỆ CHÚA GIESU
THIÊN CHÚA BA NGÔI
CHÚA VỀ TRỜI CHÚNG TA CÓ TƯƠNG LAI
ĐỨC TGM CORDILEONE CẤM CHỦ TỊCH QUỐC HỘI HOA KỲ PELOSI RƯỚC MÌNH THÁNH CHÚA
ĐỂ NHỚ ĐẾN TA
ĐỨC GIESU PHỤC SINH VÀ BIẾN CỐ LỊCH SỬ
MỘT HY SINH VĨ ĐẠI VÀ CAO CẢ NHẤT
THIÊN CHÚA CÓ THA NHỮNG TỘI MÀ TA PHẠM NHIỀU LẦN KHÔNG?
NGHỆ THUẬT SỐNG HẠNH PHÚC
HÒA GIẢI
VÂNG LỜI VÀ TỰ DO
TÌNH TRẠNG NGA XÂM LĂNG UKRAINE
NHỮNG BÀI HỌC TRÊN ĐỈNH NÚI TABOR
NƯỚC HẰNG SỐNG

 

 

QUÀ TẶNG TIN MỪNG:

Chúa Nhật 3A Mùa Chay

Xh 17:3-7. Rm 5:1-2, 5-8. Ga 4:5-42

Bác sĩ NGUYỄN TIẾN CẢNH, MD.

Kính mời theo dõi video tại đây:

https://bit.ly/3Ts6jwP

 

Chúng ta cùng nhau tìm hiểu và suy niệm về hai bài đọc 1 và 2 và bài Tin Mừng thánh Gioan của Chúa Nhật này để rồi rút ra bài học cho mùa Chay Thánh.

Trung tâm điểm của bài đọc 1 này (Xh 17:3-7) là nước. Nước là  chất chính mang lại sự sống. Không có nước, cây cỏ sẽ khô héo, rừng sẽ cháy. Không có nước, súc vật và loài người sẽ yếu, bị bệnh tật và chết. Nhưng khi có nước đầy đủ, tất cả mọi tạo vật đều tươi nở bừng sống. Nếu bạn nói nước là một chất nhân tạo thì bạn nghĩ sao về Nước Hằng Sống với tất cả những hình thức khác nhau của nó đã liên hồi chảy ra từ Thiên Chúa đến với đời sống chúng ta?

Qua bài đọc 1 hôm nay, chúng ta học được bài học là dân Israel đã chạy trốn thoát khỏi cảnh nô lệ của Ai Cập lại phải đối diện với một thực tế khắc nghiệt về sự sống trong hoang địa. Thời gian này coi như là một trắc nghiệm mà Thiên Chúa đưa ra để thử xem lòng trung thành của họ đối với Thiên Chúa như thế nào? Có hai cái thử thách trong bài đọc 1 này. Thử thách thứ nhất xẩy ra ở Marah trong hoang địa Shur. Dân chúng khát, ở đó có nước nhưng họ không thể uống được, vì nước quá đắng (Marah có nghĩa là đắng trong tiếng Hebrew). Mose kêu cứu Thiên Chúa và Thiên Chúa ban cho ông một khúc gỗ, thả xuống nước thì nước sẽ trở nên ngọt mát (Xh 15:22-27). Thử thách thứ hai cũng tương tự như vậy. Lần này trong hoang địa Sin/Zin nằm giữa Elim và Sinai, dân chúng đói. Họ lại than trách ông Mose. Lúc này Thiên Chúa không khiển trách họ. Ngài đã gửi từ trời xuống manna và chim cút cho họ ăn để khỏi đói (Xh 16).

Thử thách thứ ba, được chuyển đổi trong bài đọc 1, cũng xẩy ra trong hoang địa Sin tại một nơi gọi là Rephidim. Không tìm thấy nước, dân Israel càu nhàu và cãi lộn với Mose. Lần này Mose đối đầu với họ. Sau khi làm sáng tỏ vấn đề, ông nói sự việc không phải là do ông mà từ Thiên Chúa: “Tại sao các ngươi lại thử thách Thiên Chúa?” Lại một lần nữa, Thiên Chúa không trách dân chúng, nhưng biểu Mose lấy cái gậy mà ông đã dùng để thực hiện 10 tai hoa cho dân Ai Cập đập vào hòn đá ở Horeb cho nước chảy ra để dân Israel có nước uống cho hết khát. Sự việc đó có các bô lão đại diện dân chứng kiến việc làm của Thiên Chúa.

Mục đích của ba thử thách này đã được thể hiện rõ ràng trong câu kết của bài đọc này, “Thiên Chúa có ở giữa chúng ta hay không?” Khi chúng ta nổi giận với Thiên Chúa và muốn thử xem Thiên Chúa có để ý lo lắng cho ta không, chúng ta có thể tin rằng Thiên Chúa sẽ không trách móc chúng ta mà còn để cho tâm trí chúng ta chứng kiến lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với chúng ta?

Bài đọc 2 (Rm 5:1-2, 5-8) lấy từ thư thánh Phaolo gửi cho giáo đoàn Roma. Trong những chương trước của thư này, Phaolo đã đưa ra một giảng huấn khá mạnh nhưng có phần trừu tượng khó hiểu về việc công chính hóa do niềm tin. Phaolo nhắm vào những tặng phẩm mà sự công chính hóa mang lại cho những ai tin tưởng vào quyền lực của Thiên Chúa đối với họ.

 Nhưng trước tiên, Phaolo muốn nói gì khi nói về sự công chính hóa do niềm tin? Từ công chính hóa sự công chính thì có cùng nghĩa với từ dikaiosune trong tiếng Hy Lạp. Theo một nghĩa rất rộng thì nó có nghĩa là: Điều kiện có thể đón nhận Thiên Chúa”. Nhưng Phaolo có vẻ muốn từ này có một nghĩa rõ ràng hơn. Khi ngài nói về sự công chính của Thiên Chúa, thì ngài có ý nói điều gì giống như Thiên Chúa ứng xử như Thiên Chúa ở trong chính Thiên Chúa”. Và khi Phaolo nói về sự công chính của con người/công chính hóa, thì ngài muốn một điều gì giống như “được trở nên công chính đối với Thiên Chúa.” Tại sao loài người lại cần phải công chính với Thiên Chúa? Phaolo nói, bởi vì bản tính của tội nguyên thủy đã ảnh hưởng và tiếp tục ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, cụ thể là từ chối nhận biết Thiên Chúa là Thiên Chúa và từ đó thờ phượng Thiên Chúa. (x. Rm 1:18-23). Nhưng công chính hóa thì không phải là điều mà con người có thể làm cho mình được. Thực ra, đó là tặng phẩm cho không nhờ hiệu quả qua cái chết và sống lại của Chúa Giesu cho tất cả những ai tin tưởng và muốn nhận nó. Như vậy là một ân huệ của Thiên Chúa.

Vì vậy, qua bài đọc 2 này, Phaolo nói rằng tất cả chúng ta, những ai đã được công chính hóa nhờ niềm tin thì có thể an hưởng bình an với Thiên Chúa như một tặng phẩm cho không. Chúng ta được tha bổng mọi ti lỗi và không còn là kẻ xa lạ mà bây giờ lại được hòa giải với Thiên Chúa. Tặng phẩm này là một bảo đảm cho chúng ta trước mọi khó khăn, bởi lẽ những phấn đấu này làm triển nở sức chịu đựng của chúng ta được biểu hiện qua hy vọng. Và suối nguồn của hy vọng này là gì? Nó không phải do chúng ta làm ra -thánh Phaolo nói- mà do tình yêu vô biên của Thiên Chúa đổ ra cho chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Chúa Kito đã chết cho chúng ta; dù chúng ta không xứng đáng với tình yêu hy sinh cao cả đó thì Ngài cũng sẵn sàng tặng cho chúng ta để chúng ta có thể có được tình liên đới công chính với Thiên Chúa. Thật là một tặng phẩm lạ lùng và huyền diệu biết bao!

Bài Phúc Âm. Bài đọc này lấy từ Tin Mừng thánh Gioan (Ga 4:5-42). Trọng điểm của bài này là một người đàn bà vô danh xứ Samarita đã từng xuất hiện đâu đó trong Phúc Âm. Tuy nhiên nếu đào sâu câu chuyện,  chúng ta sẽ thấy người phụ nữ này có một quá khứ thật khó quên vì cuộc hành trình đức tin của bà.

Bối cảnh của câu chuyện là giếng nước Jacob ở thị trấn Sychar. Theo truyền thống Kinh Thánh, giếng được coi là nơi gặp gỡ lần đầu giũa người nam và người vợ sắp cưới. Người đầy tớ của Abraham đã kiếm được vợ cho Isaac là Rebekah tại một giếng nước (St 24), và Mose đã có được vợ là Zipporah cũng tại một giếng nước (Xh 2:15-22). Nhưng giếng nước trong bài Tin Mừng hôm nay là một sắp đặt cho một loại gặp gỡ khác.

Câu chuyện gặp gỡ giữa Chúa Giesu và người đàn bà Samarita thì phức tạp. Cả hai bên Do Thái và người Samarita đều có liên hệ với Jacob là con của Isaac là tổ tiên của 12 chi tộc Israel. Nhưng người Samarita và người Do Thái lại không hợp nhau. Thực tế họ chia rẽ nhau một cách cay đắng từ sau cuộc lưu đày đi Babylon vào thế kỷ 6 trước CN. Vấn đề đi tới tình trạng rất tệ hại là dân Samarita đã thiết lập một đền thờ riêng ở trên núi Gerizim vào thế kỷ 4 trước CN thay vì sinh hoạt chung với người Do Thái ở Jerusalem. Buồn thay sự thù nghịch đó vẫn còn kéo dài tới ngày nay.

Người kể chuyện đã xác định thời gian cuộc gặp gỡ là vào giờ ngọ, thời gian sáng sủa nhất trong ngày. Phúc Âm thánh Gioan thì có tính cách biểu tượng. Ở đây chúng ta thấy tác giả dùng cách nói kiểu nhị nguyên, đối diện lưỡng cực như đúng với sai, thực với giả, trên với dướidấu hiệu tin và không tin. Theo Tin Mừng Gioan, niềm tin không phải là một hoạt động tâm thần có thể đưa tới việc đồng ý cả một bộ giáo lý. Nó phải là tin tưởng vào và liên minh với Chúa Giêsu và Chúa Cha. Vậy thì câu chuyện này xẩy ra giữa Chúa Giêsu và người đàn bà Samarita không phải là đúng thời khắc mà là đúng lúc niềm tin vào Chúa Giesu Kito được hoàn toàn trọn vẹn.

Vì câu chuyện này đã được mở ra rõ ràng, Chúa Giêsu đã đưa ra hai lệnh cho người đàn bà: (1) “Hãy cho Tôi uống.” (2) “Hãy đi gọi chồng bà, rồi trở lại.” Sau mỗi mệnh lệnh Chúa Giesu và người đàn bà bắt đầu đối thoại. Về lệnh thứ nhất, người đàn bà biết được Chúa Giêsu đã không chấp nhận tất cả những gì mà người Samarita đang có, và bà ta chẳng cần phải tế nhị lẩn tránh để tỏ lộ cái thiên kiến của họ: “Ông là người Do Thái, lại có thể xin tôi là người Samarita, nước để uống sao?” Khi Chúa Giesu tỏ ý muốn cho bà ta Nước Hằng Sống thì bà ta trả lời một cách có vẻ kênh kiệu: “Ông lại lớn hơn cả tổ phụ Jacob của chúng tôi sao?” Dĩ nhiên, Chúa Giêsu thì lớn hơn Jacob! Và bà ta đã đáp ứng lời mời của Chúa và nói, vậy thì “thưa Thầy, xin hãy cho tôi nước đó để tôi không còn khát nữa và không phải đến đây để kéo lấy nước giếng nữa.” Lúc này giọng nói và kiểu nói của bà đối với Chúa Giêsu đã thay đổi.

Khi Chúa Giesu đưa ra mệnh lệnh thứ hai, thì bà ta nói bà ta không có chồng mà Chúa đã quả quyết bà đã có tới 5 chồng và người mà bà hiện đang sống với thì lại không phải là chồng bà. Qua cuộc đàm thoại ngắn ngủi này cho thấy người đàn bà này là một người tội lỗi. Nhưng bản văn lại không nói tới việc này. Chúa Giêsu cũng đã không kết án bà ta hoặc biểu bà ta ngừng phạm tội. Và sau này dân chúng trong thành ngay lập tức đã lắng nghe lời minh chứng của bà về Chúa Giesu, và những người hàng xóm của bà cũng không còn tỏ dấu hiệu gì muốn xa lánh bà nữa. Bà có phải là nạn nhân của nhiều lần ly dị không? Bà có phải là góa phụ hay đã bỏ chồng nhiều lần không? Hay 5 người chồng là biểu hiệu niềm tin của người Samarita của bà ta là chỉ có 5 cuốn sách Torah là sách Kinh Thánh? Sau khi được ơn mc khải để hiểu biết về Chúa Giêsu thì giọng nói của người đàn bà lại chuyển động nữa khi bà ta trả lời Chúa: Thưa Thầy, Thầy chính thật là một Ngôn Sứ.”

Người đàn bà này không còn sợ sệt khi bày tỏ tâm tư mình, ngay cả khi nền văn hóa của bà không cho phép. Đó cũng là một người có học hiểu theo nghĩa thần học. Bà ta đã lợi dụng cơ hội này để hỏi về nơi thờ phượng chính thức: Đền Thánh Jerusalem hay đền thờ của họ ở trên núi Gerizim? Khi Chúa Giêsu trả lời, nói rằng những nơi thờ phượng này chẳng có nơi nào có giá trị vào thời tận cùng, bởi vì thời đó sẽ đến khi: Những kẻ thờ phượng Chúa thực sự sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha trong Thánh Thần và Sự Thật.” Bà ta kết luận là Chúa Giêsu đang nói về thời đại của Đấng Thiên Sai tức Chúa Giêsu Kito. Câu trả lời của bà được coi là một lời tuyên bố: “Tôi biết rằng Đấng Thiên Sai đang tới.” Nhưng hãy lắng nghe cẩn thận và bạn có thể nghe được điều bà ta đang thầm nghĩ trong lòng: “Vị đó có phải là người này không?” Chúa Giêsu đã trả lời bà: Chính là Tôi.” Đó cũng là câu trả lời mà Mose nhận được khi ông xin Thiên Chúa tỏ lộ cho biết danh Ngài: Ta là Đấng Hiện Hữu (Xh 3:14).    

Hầu như ngay lập tức, người đàn bà Samarita để lại thùng nước của bà và đi vào trong làng để nói cho mọi người biết bà đã gặp Chúa Giêsu. Khi dân làng thấy Chúa Giêsu và nghe Lời Ngài thì họ tuyên xưng Chúa là “Đấng Cứu Chuộc Muôn Dân”  Hãy để ý đến sự tiến triển của các danh hiệu được đặt cho Chúa Giêsu trên tuyến đường hành trình đức tin của người đàn bà này. Bà đã được biến đổi từ một người đi lấy nước ở giếng làng đến một người tuyên xưng Tin Mừng và chia sẻ sứ điệp về nước giếng đến đời sống vĩnh cửu.” Hãy để ý xem người đàn bà này có thể dạy chúng ta điều gì về chính cuộc hành trình đức tin của chúng ta không?  


Sống Mùa Chay Thánh

 1- Trong Mùa Chay, chúng ta khao khát những gì và tìm kiếm những gì?

 2- Suy niệm lời của Jean Vanier dựa vào bài Tin Mừng hôm nay: “Những đổ vỡ của chúng ta như là những vết thương qua đó sức mạnh của Thiên Chúa có thể xâm nhập con người chúng ta và biến đổi chúng ta. Cô đơn không phải là điều chúng ta phải xa lánh, nhưng từ đó chúng ta có thể kêu van lên Thiên Chúa, nơi mà Thiên Chúa sẽ tìm thấy chúng ta và chúng ta tìm thấy Thiên Chúa. Vâng, đúng vậy, qua những vết thương của chúng ta, quyền lực Thiên Chúa có thể xâm nhập chúng ta và trở thành như những giòng sông có Nước Hằng Sống để tưới dội trái đất khô cằn trong chúng ta để rồi chúng ta có thể tưới mát trái đất khô cằn của những người khác cho hy vọng và tình yêu được tái sinh.”

 3- Đọc các đoạn #97 và #98 “Lời Chúa và chứng nhân Kito hữu” trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng các Giám Mục về LỜI THIÊN CHÚA (Verbum Domini)

 4-Tuần này chúng ta hãy đến với những người sống bên lề xã hội vào giữa trưa, đúng giờ ngọ, khi trời còn sáng tỏ, không phải ở giếng nước nhưng trong một quán café, lúc giải khát, tại bàn ăn, nơi công viên hay khu thương mại của thành phố. Hãy lắng nghe một câu chuyện tang thương, đau khổ, kinh hãi của một người nào đó. Hãy để cho Nước Hằng Sống là lòng trắc ẩn của Chúa Kito chảy qua bạn rồi chảy sang tưới ướt cuộc sống sa mạc của một ai đó.

Fleming Island, Florida

March 9, 2023

NTC - Hẹn gặp lại

 

Tác giả: Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!