Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
Bài Viết Của
Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
HÃY GIỮ VỮNG NIỀM TIN
THẾ GIAN GIẢ TRÁ
CẦU NGUYỆN CỦA ABRAHAM VÀ CỦA CHÚA GIESU
NGHỆ THUẬT TIẾP ĐÃI KHÁCH
CÂU CHUYỆN NGƯỜI SAMARITANO TỐT LÀNH
CHÚA GIÊSU SỬA SOẠN NHÂN CHỨNG
ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀ MÔN ĐỆ CHÚA GIESU
CUỘC XUẤT HÀNH CỦA DÂN ISRAEL RA KHỎI AI CẬP VÀ NHỮNG TAI ƯƠNG THIÊN CHÚA ĐỔ XUỐNG DÂN AI CẬP
THÁNH THỂ LÀ BÍ TÍCH BẤT BẠO ĐỘNG - Lễ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITO
LỄ BA NGÔI THIÊN CHÚA: CÁM TẠ CHÚA VÌ VINH QUANG CAO CẢ CHÚA
CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG - MỘT THỜI ĐẠI MỚI BẮT ĐẦU
HỘI ĐỒNG JERUSALEM VÀ NHỮNG Ý KIẾN BẤT ĐỒNG.
JERUSALEM LÀ GÌ?
TIẾNG GỌI CỦA CHÚA CHIÊN LÀNH
CHÚA GIESU TRAO QUYỀN CHO PHERO
LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT: BÓNG HÌNH PHERO VÀ NGÓN TAY TOMA
ĐỨC GIESU PHỤC SINH VÀ BIẾN CỐ LỊCH SỬ
THEO CHÚA TRÊN ĐƯỜNG THẬP GIÁ (CHÚA NHẬT LỄ LÁ)
CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH
HỐI CẢI VÀ THA THỨ
NÀY TÔI ĐÂY LÀ TÔI TỚ CHÚA - LỄ TRUYỀN TIN
GIỚI LUẬT VÀ TỰ DO
VINH QUANG CHÚA TRÊN NÚI TABOR
CÁM DỖ VÀ CẠM BẪY
LỄ TRO: Ý NGHĨA MÙA CHAY THÁNH -
CÂU CHUYỆN NGƯỢC ĐỜI
PHÚC LỢI VÀ CÔNG BẰNG CỦA THIÊN CHÚA
KHỦNG HOẢNG DI DÂN BẤT HỢP PHÁP
HÃY CHÈO THUYỀN RA CHỖ NƯỚC SÂU VÀ THẢ LƯỚI
ĐẰNG SAU NHỮNG BẤT ỔN Ở TRUNG ĐÔNG
LỜI THẬT MẤT LÒNG - CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO LỜI TIÊN TRI
ĐỨC MẸ DÂNG CHÚA GIESU TRONG ĐỀN THÁNH
GIẢNG HUẤN CỦA THÁNH PHAO LO (Lễ Thánh Phaolo trở lại)
HÃY TÁI TẠO NIỀM TIN
GIỜ CỦA CHÚA LÀ GÌ?
KẾ HOẠCH VỀ TRUNG ĐÔNG CỦA THIÊN CHÚA
CHÚA GIESU CHỊU PHÉP RỬA - BÍ TÍCH THANH TẨY
ISRAEL VÀ HÒA BÌNH Ở TRUNG ĐÔNG
LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH MỘT VÌ SAO VÀ MỘT TRÁI TIM TINH TUYỀN
ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA
BÀI HỌC THA THỨ

Chúa Nhật IV Mùa Chay-Năm C

(Joshua 5:9a, 10-12; 2Corinthians 5:17-21; Luke 15:1-3, 11-32)

 

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

 

 

Tin Mừng thánh Luca đoạn 15 nói về “những gì bị mất được tìm thấy” như ngụ ngôn chiên đi lạc (c.1-7), đồng bạc bị mất (c. 8-10), rồi tuyệt đỉnh là câu chuyện người cha nhân hậu và đức con hoang đàng trong bài Phúc Âm hôm nay (c.11-32).

 

Câu chuyện đứa con hoang đàng là một câu chuyện rất đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa của nó mà còn vì tài kể truyện của thánh Luca. Thánh Luca kể chuyện rất điêu luyện, giống như một họa sĩ tài ba biết dùng mầu sắc một cách linh động để gây cảm súc của người coi tranh. Màu sắc, hình ảnh và vẻ uyển chuyển của câu chuyện đã đánh động, gây từ hồi hộp đến ngỡ ngàng cho người đọc cũng như người coi tranh. Tuy nhiên, tác dụng đó nhiều hay ít còn tùy vào kinh nghiệm sống và tài văn chương, mắt nghệ thuật của đương sự. Vì vậy câu chuyện đã gây tranh cãi khá sôi nổi. Có người khen kẻ chê người cha cũng như có người ghét kẻ tỏ lòng khoan dung đối với đứa con hoang đàng. Còn về người anh cả thì sao?

 

Thực vậy, cuộc sống của mỗi chúng ta có nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi người đều cố sống để thích hợp với từng giai đoạn. Khi còn ở tuổi vị thành niên chắc chắn ta phải sống khác với tuổi thanh niên, lúc đã lập gia đình rồi có con, lúc đứng tuổi, và lúc tuổi đã xế chiều… Trong câu chuyện đứa con hoang đàng này, ta thấy người con út đã bê bối, đi hoang, ăn chơi trác táng đến không còn đồng xu dính túi, đói khổ phải đi ở đợ. Người cha, xem bề ngoài có vẻ lẩm cẩm, tỏ ra quá dễ dãi, tha thứ một cách vô tội vạ. Người con cả thì tỏ ra có trách nhiệm, biết cần cù chăm chỉ làm ăn, thấy người cha đối xử quá ân cần quảng đại với thằng em đi hoang, thì nổi sùng trách móc cha mình vì không thể chịu nổi cái bế bối của thằng em.

 

Mỗi người chúng ta chắn hẳn cũng có những tâm trạng như trên. Nhưng câu chuyện ngụ ngôn này chủ ý nhắm vào tâm tư con người vào thời Chúa Giêsu lúc đó. Họ cảm thấy bất nhẫn trước hành động của người cha. Chúng ta thử tìm hiểu xem chúa Giêsu muốn nhắn nhủ chúng ta điều gì qua chuyện ngụ ngôn này.

 

Trong tông huấn 1984 về “Hòa Giải và Thống Hối/Reconciliatio et Paenitentia”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã viết: “Câu chuyện ngụ ngôn đứa con hoang đàng là câu chuyện nói về tình yêu tuyệt vời không thể nào diễn tả nổi của Thiên Chúa Cha đối với người con khi nó trở lại với mình; Người đã cho hắn một tặng phẩm là sự hòa giải hoàn toàn. (….) Vì vậy câu chuyện nhắc nhở chúng ta là cần phải cải đổi tâm hồn vì lòng khoan dung của Người Cha rồi quyết tâm lướt thắng bỏ qua mọi thù nghịch, oán hận đối với mọi người.”

 

BA HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG

 

Theo truyền thống xưa của Do Thái, người “con cả” có quyền được thừa hưởng hai phần gia tài của cha mình. Như vậy, người con thứ chỉ được hưởng chừng 1/3 gia sản của cha mà thôi. Nhưng dù sao đi nữa, hành động của người con thứ đòi chia gia tài (c.12) là một xúc phạm nặng nề đối với người cha, vì hắn nghĩ là cha mình “còn lâu mới chết”, hắn không còn nhẫn nại đủ để đợi đến khi ông già qua đời.

 

Thế là khi được chia phần cho mình rồi, người con thứ đã thoát ly gia đình (c.13), không còn coi trọng gia phong tập quán của quê hương mình nữa. Anh ta đã đi quá xa, nghĩ rằng mình có thể tìm thấy hạnh phúc lạc thú kỳ lạ ở phương trời xa mà ở gia đình tổ quốc mình không có. Kết quả đã ngược lại. Khi tiêu sài hết cả tiền bạc, hắn phải đi ở đợ, trở thành nô lệ, đi chăn heo, một loại súc vật được coi là dơ bẩn không được xếp vào loại thức ăn[1], đến độ quá đói khổ chỉ mong có được thức ăn heo (c.17) mà ăn cho no bụng cũng không có.

 

Câu chuyện kể rằng anh chàng “ăn tiêu phung phí hết cả phần tài sản của mình” (c.13). Ở đây ngoài nghĩa đen ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là tư cách của chính hắn” cũng bị tiêu tan. Không phải anh chàng chỉ tiêu sài tiền bạc bất kể đời mà còn trác táng không cần biết đến nhân cách, mình là ai và là cái gì nữa!

 

Đến đây anh chàng “hồi tâm lại” (c.17), nghĩ đến thời gian ở với gia đình được sung sướng biết bao. Quả là mình đã quá điên khùng mới đi đến “nông nỗi này”. Đó là bước đầu của sự hối hận, cho dù tự nó chưa phải là thống hối thực sự.

 

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

 

Quang cảnh nổi bật nhất ở “người cha” là, ông đã đi bước trước, khi vừa nhìn thấy con mình từ xa đang đi lại, thất thểu, bệ rạc, sợ hãi (c.20), ông liền chạy lại ôm chằm lấy con mà hỏi han, thay vì đợi con lê lết vào nhà.

 

Cứ lẽ bình thường, cử chỉ của người cha như vậy xem ra không thích hợp và có vẻ kỳ cục, bởi vì hành xử như vậy là quá đáng đối với một đứa con hư. Nhưng đó lại là cử chỉ chứng tỏ tình yêu thương của một người cha, tình yêu đầy âu yếm với lòng trắc ẩn. Ông“ôm con, hôn con lên trán, lên cổ, lên má, vuốt ve mặt mũi con tỏ vẻ lo âu sao con mình gầy gò ốm yếu, xanh sao dơ bẩn thế này”. Ông lại truyền cho gia nhân đem quần áo mới ra mặc cho cậu, giày mới cho cậu đi như không có chuyện gì xẩy ra cả (c.22). Đó là dấu hiệu của Tự Do, hình ảnh của Gia Đình, của cái gì mất bây giờ tìm lại được !

 

Thực ra, người cha có quyền đuổi người con đi, không cho vào nhà, vì đã hư đốn không nghe lời cha, tự mình bỏ nhà đi hoang, không chỉ làm mất danh giá gia đình, đồi bại gia phong mà còn nêu gương xấu cho xóm làng. Họ sẽ chê trách, thù oán cha mình vì con họ có thể sẽ bắt chước gương xấu đó mà hư thân như vậy.

 

BỆNH TỰ KỶ ÁM THỊ

 

Đối với người anh cả, phản ứng của anh (c.25-29) không có gì là sai trái. Đó là một phấn nộ hợp lý. Phát ngôn của anh rõ ràng cho thấy, anh đã chu toàn đầy đủ bổn phận làm con, mà cha anh không tỏ lộ gì là yêu thương quảng đại với anh. Trái lại, anh cảm thấy anh bị lạm dụng,“làm thân trâu ngựa” cho cha từ bao năm nay mà không được đền đáp thưởng công gì cả. Điều anh có ý nói cho cha anh biết là: không phải anh kể công những điều anh đã làm, nhưng anh cảm thấy anh thiếu thốn cái gì ấy. Anh đau khổ vì bệnh tự kỷ ám thị !

 

Quả vậy, người con cả rất thực tế khi kết án tư cách của người em đã “tiêu sài hết tiền bạc của cải với bọn đĩ điếm” (c.30). Trước hai nghịch cảnh đó, thiên hạ sẽ nghĩ sao, đồn đãi gì về đứa con út của ông chủ trại đi hoang, nay tàn tệ lại trở về với gia đình và xóm làng? Hay người con cả chỉ biết nghĩ xấu cho em mình, cho hắn là loại người tồi tệ nhất với những cáo buộc cay đắng nhất?

 

Người con cả đã nhất quyết “đá văng em mình ra khỏi lòng mình” và cho rằng nó là “con của người cha thôi”, không phải là em của mình. Đúng vậy, như chúa Giêsu đã từng nói: Bề ngoài là con đấy, nhưng trong tâm thực sự lại không phải là con, như người anh cả đã biểu lộ qua cử chỉ và tâm tư ý nghĩ của anh.

 

Giống như kiểu lý luận, một người nghĩ là mình không có tự do, thì tự cảm thấy mình giống như nô lệ? Và người nào sống trong gia đình với cha mình mà lại cảm thấy không vừa ý, coi mình như người xa lạ, thì sẽ không cảm thấy mình là con, là người nhà ?

 

 

 

NỚI RỘNG PHẠM VI

 

Nhân mùa chay, tôi có đọc một quyển sách nhan đề “Love Alone is Credible” của Hans Urs Von Balthasar (Ignatius Press, 2004), thấy có ít lời khá ý nghĩa, đáng cho chúng ta suy nghĩ nên xin được trích ra đây để bạn đọc cùng đọc và suy niệm, nhân câu chuyện ngụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay.

Có lần kia, một người tìm học cách đọc những dấu hiệu của tình yêu và rồi tin như vậy, tình yêu đã dẫn đưa anh ta vào khung trời rộng mở ở bất cứ đâu mà anh ta có thể yêu.

“Nếu người con hoang đàng không tin rằng cha mình đã sẵn sàng chờ đón hắn thì hắn sẽ không trở về -ngay cả khi cha hắn đón hắn một cách mà hắn không bao giờ dám nghĩ tới.

“Vấn đề quyết định là người có tội đã nghe biết về tình yêu là thứ có thể và thực sự đang dành cho hắn; Hắn không phải là người phải tự mình đi đến để đứng vào hàng ngũ với Thiên Chúa; Thiên Chúa thì luôn luôn nhìn hắn như một kẻ tội lỗi không có tình yêu, một đứa trẻ đáng được yêu và Ngài ngước mắt nhìn hắn,ban cho hắn được ơn xứng đáng yêu dưới ánh sáng của tình yêu ấy”. (p.103)

 

MỤC VỤ HÒA GIẢI LÀ BỔN PHẬN CỦA CHÚNG TA

 

Bài đọc 2 thư thánh Phaolo gửi giáo dân Corinthians (2Cr 5:17-21) tóm gọn một cách rất tài tình câu chuyện ngụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng. Thánh Phaolo cho biết cử chỉ hòa giải của Thiên Chúa được thể hiện bằng nhiều cách, đúng như kiểu hành văn của ngài thật uyển chuyển, tiến lui rất nhẹ nhàng từ hành động của Thiên Chúa đến công tác mục vụ của chính ngài.

 

Nếu chúng ta hòa giải được với Thiên Chúa, với chính chúng ta và với tha nhân, và rồi mang cái “tâm hòa giải” của mình và sự hòa giải của Thiên Chúa áp dụng vào xã hội, trong cộng đồng của chúng ta, thì có thể nói được chúng ta là sứ giả của Hoàng Tử Hòa Bình. Bởi vì Thiên Chúa đã sai con một Người xuống trần để hòa giải với loài người thì Ngài cũng muốn chúng ta bắt chước Người cải đổi thế gian cho mọi sự được hòa điệu giữa một thế giới đổ nát, gia đình tang thương và Giáo Hội chia rẽ.

 

Chớ gì, Chúa Nhật 4 Mùa Chay này, chúng ta là những người được tha thứ nhiều, hãy đến với những người anh chị em, hàng xóm láng giềng, bạn bè, những kẻ tội lỗi, vui với họ, hân hoan hòa giải cùng họ, tha thứ cho nhau trong bí tích hòa giải và bí tích Thánh Thể.

 

Trên đường hành trình Mùa Chay đi về nhà Cha, chớ gì bài ca tạ ơn và niềm vui 

hòa giải bùng lên trong những tâm hồn hoang dại, sa mạc hận thù, lòng trai đá và ác quái của chúng ta. Xin Thiên Chúa chỉ dạy chúng ta biết đọc và nhận ra những dấu chỉ của tình yêu, biết vui trong lòng khi Lời Chúa đến với chúng ta trên đường đi tới hòa giải và an bình.

 

ĐÔI  LỜI  KẾT: THIỆN CHÍ HÒA GIẢI

 

Câu chuyện ngụ ngôn này của thánh Luca có hai điểm đặc biệt: 1-Thiên Chúa hoan nghênh, đón chào những kẻ tội lỗi và những kẻ mà xã hội, tôn giáo coi như không thể chấp nhận được. 2-Ca ngợi, Vui mừng là những cử chỉ tiếp theo hành động đón chào. Đó là một hồi đáp cho sự ăn năn thống hối mà Thiên Chúa luôn luôn mời gọi, khuyến khích mỗi người chúng ta thực hành.

 

Người cha quảng đại hân hoan đón chào đứa con hoang đàng, nhưng không từ bỏ người con cả, vẫn còn ở với hắn và trung thành với hắn, yêu thương hắn, dù hắn đã phản đối tính nhân hậu của mình. “ Con à! -Người cha nói với anh ta- lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con” (c.31). Sửa đổi em con là đứa “đã chết nay sống lại”, “đã mất nay tìm lại được”(c.32) không làm giảm giá trị lòng trung thành của con đối với cha. Người em, nay được sát nhập trở lại gia đình, phải khởi sự cuộc sống trung tín từ đầu. Người cha ở đây tượng trưng cho Thiên Chúa. Hòa giải với người cha, tức hòa giải với Thiên Chúa, cả hai người con phải dàn xếp với nhau và hòa giải với nhau trước.

 

Nguời anh sau cùng có làm hòa với em mình và đón chào hắn trở về không? Anh ta có thực sự trong lòng muốn tha thứ cho người em không? Có chia sẽ niềm vui hân hoan với cha mình không? Hay là, kết thúc câu chuyện, anh ta cũng coi mình như người xa lạ còn hơn em mình nữa? Trong câu chuyện này, người mẹ ở đâu? Phản ứng của người mẹ thế nào? Chúng ta chờ mong ở kết thúc của câu chuyện, nhưng Chúa Giêsu đã không cho biết. Đó là tất cả câu chuyện ngụ ngôn về người cha nhân lành. Nó mời gọi tất cả chúng ta đào sâu vấn đề để tìm ra những giải đáp cho chính cuộc sống của chúng ta, ở thời đại của chúng ta.

 

Câu chuyện “Người Con Hoang Đàng” hay “Người Cha Nhân Hậu” hoặc “Người Anh Phẫn Nộ” có thể gây thắc mắc cho chúng ta như là nó xẩy ra cho chính chúng ta vậy? Có phải người cha nhân lành đã vung vãi tình yêu của mình vào những việc nhỏ nhặt, những cái ác quái, đa nghi và kiêu hãnh của chúng ta? Bài học tha thứ !

 

Fleming Island, Florida

March 11, 2013 –

NTC


[1] Theo tục lệ và luật Do Thái, một số súc vật bị cấm không được ăn thịt như heo, gà, lạc đà, dê, ếch nhái…vì coi là đồ dơ bẩn. Trường hợp này, đứa con hoang đàng lại đi chăn heo, ăn cả đồ ăn heo…là lỗi luật vô cùng.

Tác giả: Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!