Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
Tủ Sách CGVN

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
Bài Viết Của Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

THIÊN CHỨC LÀM CHA MẸ (5)
Những quan niệm của một đứa trẻ bị ảnh hưởng rất nhiều bỡi vị thế của nó trong gia đình. Trong cuộc đời của đứa con, khuôn mặt bố mẹ là những nét quan trọng nhất trong suốt những năm đầu của cuộc sống. Phản ứng của bố mẹ đối với những cố gắng thực nghiệm của đứa trẻ điều khiển hành vi của đứa trẻ mặc dầu không luôn luôn trong cách thế được ước muốn vì ý tưởng của đứa trẻ về thành công không luôn phù hợp với ý tưởng của bố mẹ. Nó có thể nghĩ rằng họ phải phục vụ nó.

THIÊN CHỨC LÀM CHA MẸ (4)
Để cảm thông được đứa trẻ, người ta cần biết đầy đủ những điều kiện cho sự phát triển của nó. Có những đặc nét đáng chú ý như đứa trẻ cố gắng để có một chỗ đứng trong gia đình hoặc tìm cách mang lại nhận thức và chứng tỏ là có hiệu quả trong bối cảnh đặc biệt của môi trường. Nếu không có khích lệ và hướng dẫn, đứa trẻ mất thời giờ trong việc tìm những phương cách được xã hội chấp nhận để đối đầu với những người khác. Thái độ sai lầm và gặp nhiều rắc rối là một kết quả đương nhiên.

THIÊN CHỨC LÀM CHA MẸ (3) - NHỮNG PHƯƠNG CÁCH THÍCH HỢP ĐỂ ĐIỀU KHIỂN CON CÁI
Thật là cần thiết để thiết lập vài nguyên tắc cho việc ảnh hưởng con trẻ. Bố mẹ cần sự cố vấn vì mẫu mực sống của họ không bảo đảm sự phát triển đứa trẻ. Ở đây không bàn thảo chi tiết về những phương cách giáo dục gia đình. Một ít nguyên tắc trong chương Cùng Chung Sống cống hiến một loạt phương pháp thích hợp. Nguyên tắc đầu tiên là hiểu biết và kính trọng phẩm giá con người. Trong việc ứng phó với con trẻ, người lớn phải kính trọng phẩm giá của đứa trẻ cũng như phẩm giá của chính mình. Quên phẩm giá riêng của một người có nghĩa là ban cho. Quên phẩm giá của đứa trẻ có nghĩa là đàn áp. Cả hai đều tiêu hủy sự cộng tác. Cả hai thiết lập những bạo chúa và nô lệ...

THIÊN CHỨC LÀM CHA MẸ (2)
Cung cấp và cưng chìu một đứa trẻ không ngăn cản được sự xung khắc và đi đến chỗ chiến tranh. Bên dưới sự bày tỏ tình yêu và sự dịu dàng, chúng ta có thể tìm thấy sự biểu lộ của sự thù nghịch cách công khai hay ẩn kín. Rất ít bố mẹ nhận ra được sự thù nghịch và chiến trận khủng khiếp mà trong đó bố mẹ và con cái đi vào. Tất cả những trục trặc về hành vi của con trẻ là triệu chứng của sự hận thù. Thật rất khó để làm cho bà mẹ ý thức được điều đó. Bà không thể hiểu rằng đứa trẻ có thể giận bà trong khi bà vững tin rằng bà cho nó mọi sự và yêu nó nhiều. Tuy nhiên có biết bao nhiêu bà suy sụp tinh thần khi các bà không thể ngăn cản con mình đòi bỏ nhà ra đi. Có biết bao nhiêu bi kịch đã xảy ra, đặc biệt suốt thời tuổi trẻ, lúc mà đứa trẻ cần phải lớn lên nên người hoặc trở thành một đứa trẻ hư hỏng, một sự kiện mà người mẹ nào cũng phải quan tâm lo lắng.

THIÊN CHỨC LÀM CHA MẸ (1)
Với ảnh hưởng của nền văn hóa Khổng Mạnh, hầu hết những người Việt Nam đều cho rằng người cha là người có bổn phận gánh vác trọng trách lo cho nền kinh tế gia đình, và người mẹ thường đảm trách những công việc nội trợ cũng như vấn đề chăm lo giáo dục con cái. Nhưng trong xã hội kỷ nghệ hóa ngày hôm nay, cuộc sống gia đình cũng như xã hội của con người có phần thay đổi. Trước khi bàn thảo về vấn đề giáo dục và những vấn đề khác, chúng ta cần làm sáng tỏ vai trò đặc biệt của người cha cũng như người mẹ trong gia đình.

QUAN NIỆM VỀ PHÁI TÍNH (4)
Nhân tình thì rất phức tạp. Chúng ta học yêu như chúng ta học đi, học nói, làm sao phát triển bước đi riêng của chúng ta cũng như  ngôn ngữ riêng của chúng ta. Ngôn ngữ của chuyện tình ái được định nghĩa bỡi những khơi động về dục tính của thời thơ ấu và được hình thành bỡi những kinh nghiệm trong cuộc sống. Cách cư xử hiện tại của chúng ta trong tình yêu đã được huấn luyện và phát triển bỡi những kinh nghiệm trong quá khứ.

QUAN NIỆM VỀ PHÁI TÍNH (3)
Ấn tượng về tình ái được củng cố bỡi cách thức trong đó con trẻ được cắt nghĩa để hiểu về những sự việc của cuộc đời. Sự cắt nghĩa về tình ái thường đi kèm với sự lúng túng về tâm lý vì ở đây sự phát triển tự nhiên của đứa trẻ bị ngăn trở bỡi sự do dự chu toàn những bổn phận tự nhiên của cha mẹ. Không may, cha mẹ được nuôi dưỡng lớn lên trong sự chế ngự liên quan đến những vấn đề tình ái nên bị lúng túng bỡi những câu hỏi của đứa trẻ

QUAN NIỆM VỀ PHÁI TÍNH (2)
Khi sự quân bình giữa hai phái bị phá vỡ và phái bị đàn áp có cơ hội vươn lên, họ bắt chước hành vi và phong cách của phái có quyền ngày xưa. Chúng ta có những mẫu gương của khuynh hướng nầy trong những cộng đoàn tiên khởi. Đó có thể là suốt thời kỳ cơ cấu mẫu hệ đi xuống, một số hình thức đặc biệt trong cách xử sự được quan sát mà thường được gọi là tập tục của những cộng đoàn đầu tiên: sau khi đứa trẻ được sinh ra, người cha mang đứa trẻ vào giường và nằm với nó nhiều ngày để chăm nom nó, trong khi người mẹ phải làm những bổn phận trong nhà để chăm sóc người cha và đứa bé. Dường như là đàn ông cố gắng bắt chước vai trò đàn bà. Ở đâu các bà thống trị, những gì thuộc các bà xem ra được các ông ước muốn. Người ta lấy làm lạ không biết các ông trong thời kỳ đó có cố gắng nuôi con hay không?

QUAN NIỆM VỀ PHÁI TÍNH
Chúng ta thường nghe những câu phê bình châm biếm: “Anh chàng nầy giống đàn bà. Cô kia y như đàn ông.” Những câu nói đó phản ảnh cho thấy quan niệm của chúng ta về phái tính rất là rõ ràng. Hầu hết mọi người đều cho rằng người đàn ông bao giờ cũng phải hùng mạnh, tự tin, can đảm trong khi người đàn bà tiêu biểu sự yếu ớt, sợ sệt, nhút nhát. Những quan niệm nầy chúng ta có được, đến từ chính nền văn minh xã hội chúng ta đang sống.

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (7)
Nên biết rằng không phải mọi người đều hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt cả đâu. Cái khả năng có thể trở nên tốt hay xấu đều hiện hữu trong mỗi con người chúng ta. Chính người chồng cũng như người vợ đều có khả năng để làm cho cái tốt hoặc cái xấu của người bạn mình chổi dậy. Nhưng họ biết gì về người bạn của mình?

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (6).
Đằng sau những rắc rối và những xung đột của hôn nhân là những thái độ và những quan niệm sai lầm. Nhiều chán nản đến từ việc so sánh hoàn cảnh hiện tại với những mong đợi của quá khứ. Không may cho chúng ta là cả hai thường đã được diễn giải các sai lầm. Ít khi chúng ta ý thức về điều chúng ta đã mong đợi và thường phán đoán sai lầm điều chúng ta có. Kinh nghiệm chúng ta thì thuộc về phía với điều chúng ta trông mong. Chúng ta không nhận ra những mong đợi chúng ta cũng như những đóng góp riêng của chúng ta đã góp phần vào sự chán nản thất vọng hiện tại.

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (5)
Trong tiến trình lịch sử của những hôn nhân như thế, chúng ta thấy có nhiều giai đoạn mà trong đó người vợ đã có thể ngăn chặn được người chồng khỏi vấn đề nghiện ngập. Một sự cứng rắn có thể làm cho chàng ý thức về những hậu quả của tư cách chàng chẳng hạn như mất nàng vào một lúc mà chàng vẫn còn muốn lo lắng cho nàng. Nhưng sau mỗi cuộc cãi vả, mỗi cuộc đe dọa, nàng nhường bước, tin vào những lời hứa mà nàng thừa biết sẽ không bao giờ được giữ. Việc chữa trị người say rượu trước nhất đòi hỏi ảnh hưởng của người vợ. Sự thánh thiện của nàng và sự tệ hại của chàng gắn liền với nhau và là tiêu biểu cho sự tử đạo. Sự mất quân bình ở đây không phải chỉ là lỗi của người nam mà thôi.  

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (4)
Cần phân biệt sự xáo trộn thật và cái có vẻ như là xáo trộn trong việc phân tích các nguồn gốc khác của việc bất ổn trong hôn nhân. Những khó khăn về kinh tế thường bị đổ tội cho sự hủy hoại mối bất hòa trong hôn nhân. Khi sự nghèo đi vào cữa trước, tình yêu đi ra cữa sau. Câu ấy nghe thật xuôi tai nhưng có thật như vậy không? Tôi đã thấy nhiều hôn nhân trong đó sự căng thẳng về kinh tế ngăn ngừa được sự đổ vỡ. Không phải vì họ không thể cung cấp những chi phí, cũng không phải vì có khả năng kinh tế mà nâng số ly dị lên cao. Cái khó nghèo có thể mang hai người gần lại hơn cũng như dễ làm cho sợi giây hôn nhân của họ tan vỡ hơn. Cuộc sống khó khăn đã kết hợp một số hôn nhân nhưng cũng làm tan vỡ một số khác.

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (3)
Người chồng cũng như người vợ một khi ý thức về vấn đề nầy sẽ cố gắng kích thích tình cảm, cố gắng có được sự đáp trả thay vì quan tâm đến quyền lợi riêng mình. Rất nhiều người không bao lâu sau khi kết hôn quên đi khả năng quyến rủ và lôi cuốn của họ. Họ tin rằng giấy chứng nhận hôn phối cho phép họ có quyền hưởng thụ. Và khi những mong đợi của họ không đạt được, họ đòi hỏi nhiều hơn thay vì tìm cách để thu hút hơn

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (2)
Tất cả những vấn đề thuọc về hôn nhân đều có nền tảng xã hội của thời đại chúng ta. Đây là lý do tại sao, như chúng ta đã lưu ý, những vấn đề của hàng ngàn, hàng vạn người đàn ông cũng như đàn bà đều giống nhau...

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN
 “Nhân Vô Thập Toàn.” “Con người là bất toàn.” Đây cũng là chủ trương của Alfred Adler và trường phái của ông. Con người không phải là thần thánh nên vẫn còn có rất nhiều thiếu sót, lỗi lầm mà dẫu cho con người có muốn xa tránh cũng không thể tránh khỏi. Vì thế, trong cuộc sống chung của đời sống hôn nhân, con người không thể nào thoát khỏi những xung đột rắc rối xảy ra trong đời sống gia đình.

MỘT BÀI HỌC QUÍ GIÁ TỪ TIÊN TRI NATHAN VÀ VUA THÁNH DAVÍT
Ở đây chúng ta thấy rõ vai trò ngôn sứ của tiên tri Nathan. Ngài thật sự là một con người can đảm. Ai cũng biết rằng xúc phạm đến nhà vua là “mất đầu.” Nhưng không phải vì thế mà ngài không dám lên tiếng. Ngài không tìm lý do để khước từ. Ngài không tìm cách thế để ngụy biện, nhưng ngài đã tìm cách để gióng lên tiếng nói, để cảnh báo cho vua Đavít biết lỗi lầm của mình. Và Đavít đã nhận lỗi và sửa lỗi. Gióng lên tiếng nói để giúp người khác, ngay cả những vị lãnh đạo trong giáo hội nhận biết lỗi lầm của họ, không phải là chống đối họ và chống đối giáo hội, cũng không phải là ghét họ và ghét giáo hội, nhưng trái lại là thương họ và thương giáo hội, vì chúng ta còn biết quan tâm đến họ và quan tâm đến giáo hội.

GHEN (4)
 Đối với một người bình thường rất quan trọng để biết: chúng ta có thể làm được gì cho sự thích nghi riêng của chúng ta nếu một người đau khổ từ khuynh hướng ghen tương. Thấu hiểu triệt để những khuynh hướng riêng của chúng ta, có thể giúp chúng ta rất nhiều. Chắc hẳn khi cảm xúc xen vào, sự thấu hiểu thì khó khăn và sự thay đổi cũng như vậy. Bao lâu chúng ta biện minh cho hành vi chúng ta dựa trên căn bản cảm giác và cảm xúc, chúng ta loại trừ lý trí như một yếu tố đủ. Cảm xúc củng cố thái độ một cách mạnh mẽ đến nỗi không có một ảnh hưởng nào khác xem ra thành công. Đó là lý do tại sao khó để khắc phục sự ghen tương trong chính chúng ta.

GHEN (3)
Cần thiết để hiểu tâm lý của người ghen, nếu không, chúng ta đui mù với những nguyên nhân hiện hành.Thông tin về tâm lý phải được nắm giữ kỹ lưỡng và nếu thấy tai hại có thể xảy ra, tốt hơn phải nên tránh, phải ngưng trong một lúc để xem đâu là giá trị cần làm. Người ghen không thể nhìn thấy rõ mình vì đầy cảm xúc.

GHEN (bài 2)
Vì cảm xúc của chúng ta gây cho chúng ta một ấn tượng mạnh rằng chúng ta đúng và người kia sai, chúng ta cảm thấy khó chấp nhận một sự cắt nghĩa tâm lý về sự ghen tương của chúng ta. Sự ghen tương có thể có những ý nghĩa khác nhau, tất cả tuỳ vào mục đích mà sự ghen tương được dùng. Cảm xúc ghen chỉ được nhìn thấy nhờ hành vi rối loạn xã hội. Hành vi như thế thường được hướng về một trong 4 chiều hướng sau đây:

[1] 1 2 3 4 5 6 7 8 [2/8]

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!