Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Thánh Kinh Công Giáo
Lời Chúa Mỗi Ngày
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Video Giảng Lời Chúa

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, GP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Maria Hồng Hà CMR
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nguyễn Thụ Nhân
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Giáo Sĩ Việt Nam
TÁC PHẨM KÍNH CHÀO NỮ VƯƠNG RẤT THÁNH - MẸ THIÊN CHÚA QUA LỜI CHÚA (CHƯƠNG 5)


Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Xin giới thiệu bản dịch tác phẩm KÍNH CHÀO NỮ VƯƠNG RẤT THÁNH.

Đây là tác phẩm Thánh Mẫu được một giáo sư thần học viết. Ông trước đây là một mục sư Tin Lành, nên những dẫn chứng và toàn bộ tác phẩm có nền tảng Thánh Kinh rất vững vàng. Sách có thể dùng làm sách giáo khoa hay dùng trong những đề tài trao đổi Thánh Kinh và Thánh Mẫu.

Nguyên tác: Hail, Mary Queen; Tác giả: SCOTT HAHN là giảng sư thần học và Thánh Kinh tại Đại Học Phanxicô ở Steubenville, và gần đây được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI chỉ định Khoa Trưởng Thần Học Thánh Kinh và Tuyên Ngôn Phụng Vụ tại Đại Chủng Viện Saint Vincent. Ông là tác giả của hơn một tá tác phẩm, bao gồm The Lamb’s Supper; Hail, Mary Queen; Swear to God; và Understanding the Scriptures. Tiến sỹ Hahn còn là người sáng lập và chủ tịch của the St. Paul Center for Biblical Theology, ở Steubenville, Ohio, cũng là nơi ông đang sống với vợ ông là Kimberly, và sáu người con của họ.

Tác phẩm gồm 8 chương ngoài lời tựa, lời giới thiệu, phụ bản và kê cứu. Đặc San GSVN sẽ hân hạnh phổ biến mỗi kỳ một chương.

 

CHƯƠNG 5

TỪ GHI CHÉP ĐẾN DẠY DỖ

MẸ LÀ THÔNG ĐIỆP

Nghiên cứu về cấu trúc Thánh Kinh có thể một cách dễ dàng thu hút độc giả nhiệt tâm - hoặc người tìm hiểu tài tử. Một trong cách hấp dẫn của những phương pháp tìm hiểu như Thánh Augustinô đã nói, Tân Ước được bao gồm trong Cựu Ước, và Cựu Ước được mặc khải qua Tân Ước. Tìm hiểu về nguồn gốc sẽ giúp khai mở chiều kích ẩn dấu tại mỗi trang của Thánh Kinh. Nghiên cứu một cách cẩn thận cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa viết lịch sử qua cách thức và ngôn ngữ của con người, và chính Ngài là tác giả của tác phẩm tuyệt vời tinh vi cùng bản nháp tinh xảo. Ngài không phí phạm một từ nào trong việc mặc khải, không có gì là vô tình hoặc là một tai nạn trong quan phòng của Thiên Chúa.

Khoa khảo cứu về cấu trúc Thánh Kinh rất bao quát. Nó giúp tránh được việc đòi hỏi phải chú tâm vào từng trang sách đang đọc, nhưng phải có sự liên kết với những trang khác trong toàn bộ Thánh Kinh, cũng như thái độ cô lập khỏi truyền thống. Khoa khảo này cũng có thể soi sáng, giải thích sự phong phú của những trang sách trước đây xem như tối nghĩa hoặc không quan trọng.

Thực ra, khoa khảo cứu này có cái nguy hiểm của riêng nó, vì khi bị lợi dụng nó sẽ hướng một số nhà khoa bảng lạc xa khỏi con đường tìm hiểu, và một số khác tiến đến tà giáo. Để tránh những thái quá này, điều quan trọng chúng ta cần phải có, là làm sáng tỏ những mục đích mà chúng ta bắt đầu và kết thúc trong tâm trí. Khi chúng ta đọc Thánh Kinh qua phương pháp khảo cứu nguồn gốc, chúng ta không cố gắng tìm hiểu một điều bí ẩn, hoặc giải quyết một trò chơi ghép hình, hoặc sắp đặt những cái nhìn bất thường về lời đã được linh ứng. Chúng ta đang cố gắng gặp gỡ một người. Chúng ta muốn biết về Thiên Chúa, những đường lối của Ngài, chương trình của Ngài, dân Ngài lựa chọn - và Mẹ của Ngài.

Cho nên, chúng cần tránh một nguy hiểm, tôi gọi là thuyết atomism (theo triết học Hy Lạp, một ý tưởng cho rằng vật chất được cấu tạo bằng những phần nhỏ xoay quanh một không gian trống) – một triết thuyết chú trọng đến những hình thức của Thánh Kinh trong cô lập, như những ẩn ý không liên kết hoặc những mẫu thức cá biệt của một mẫu thí nghiệm. Chúng ta cũng không dùng một số hệ thống bí mật của những biểu tượng khi chúng ta nghĩ đến khoa khảo cứu nguồn cội của Evà, Hòm Bia giao ước, và mẫu hậu. Chúng ta đang nhìn vào những tạo vật được phát sinh do quan phòng để biến thành con người hiện thực, con người lịch sử. Cũng như Isaác, Maisen, và Đavít là những con người thật, những người biểu tượng Đấng Cứu Tinh thần linh, Chúa Giêsu, cũng thế Evà, và Hòm Bia, và mẫu hậu được ban cho chúng ta những cái nhìn thoáng qua của sự thật lớn lao, đó là Đức Maria.

Và rồi, Người sẽ phải là mục đích của chúng ta khi chúng ta khảo sát về những đặc trưng của Người. Vì Người chính là và sẽ tiếp tục là một con người thực sự, sống động; con người của mầu nhiệm không thể giảm bớt, dù một phần hay toàn thể những biểu tượng. Phaolô đã xúc động qua cách thế Chúa Giêsu đã được báo trước qua Adong; nhưng Phaolô đã yêu Chúa Giêsu Kitô. Vì thế chúng ta phải tiến đến sự hiểu biết và yêu mến chính Đức Maria như Người được diễn tả qua những hình ảnh Thánh Kinh.

Đây không phải là những gì tùy ý đối với các Kitô hữu. Nó cũng không phải là những thứ trang trí trong Kinh Thánh. Đức Maria là - trong ý nghĩa thực tế, sống động, và thần thiêng - Mẹ chúng ta. Để hiểu về tình anh em của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải tiến đến sự hiểu biết về Mẹ, người Mẹ mà chúng ta cùng chia sẻ với Chúa Giêsu Kitô. Ngoài Mẹ ra, sự hiểu biết của chúng ta về Phúc Âm khá lắm cũng chỉ là phiến diện. Ngoài Mẹ, sự hiểu biết của chúng ta về ơn cứu độ sẽ không bao giờ là sự mật thiết gia đình. Nó sẽ căn cứ vào giao ước cũ, ở đó thiên chức người cha của Thiên Chúa được coi như là ẩn dụ, và chức vụ làm con của con người giống như thân phận tôi tớ.

Người nữ này là ai - và người Mẹ này, chiếc bình quí được chọn của Thiên Chúa này và của mọi kẻ tin nhận? Người là một con người lịch sử, và Giáo Hội đã giữ gìn một cách cẩn thận những dữ kiện lịch sử về Người trong những dữ kiện Thánh Kinh và trong những mô thức của tín lý.

 

Giữ Lấy Đức Tin

Tín lý là gì? Một định nghĩa đúng đắn của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, người đã viết “tín lý được định nghĩa không gì hơn một sự chuyển dịch của Kinh Thánh.”

Ý tưởng của vị Hồng Y đã được xác định do Ủy Ban Thần Học Thế Giới trong tài liệu xuất bản năm 1989 về việc giải thích của các Tín Điều: “Trong tín lý của Giáo Hội, đó là điều có liên quan với một giải thích đúng nghĩa của Thánh Kinh”. Vì thế, tín lý là lời chú giải không sai lầm về Thánh Kinh của Giáo Hội.

Có những việc rõ ràng về đời sống Đức Maria mà Thánh Kinh dạy một cách minh bạch: Mẹ đồng trinh khi thụ thai Chúa Giêsu, thí dụ, được nhắc đến một cách rõ ràng và minh bạch trong Phúc Âm của Luca (1: 34-35). Những gì xảy ra khác thì hiểu ngầm trong Thánh Kinh mà đã được Giáo Hội giảng dạy, thí dụ, Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác, và việc Người vô nhiễm nguyên tội. Sự thật về những điều hiểu ngầm này cũng không kém quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về Thánh Kinh. Thực vậy, những chi tiết hiểu ngầm thường quan trọng hơn để tường thuật, bởi vì chúng cho ta biết những gì nhà tường thuật đã dùng để ghi lại. Qua những chi tiết này - về trời, nếu bạn muốn - giữ không nói, chúng làm nên tấm vải mà người tường thuật đã mặc. Không có những hiện diện âm thầm, bản tường trình vỡ mảnh.

Vì vậy, qua các thế kỷ, Giáo Hội đã cẩn thận bảo vệ, che chở, và bênh vực những lời giảng dạy về Đức Maria, bởi vì nếu sao nhãng cũng có nghĩa là sao nhãng Phúc Âm. Để ngăn cấm những điều này sẽ là cướp đoạt người mẹ của gia đình Thiên Chúa. Nếu không có những tín lý, Đức Maria sẽ trở nên không thực tế: một thân thể người phụ nữ nào đó từ Nadarét, một cá nhân  không quan trọng, không giá trị đối với tường thuật Phúc Âm. Và khi Đức Maria trở nên không thật sự, thì việc nhập thể của con Thiên Chúa, là điều tùy thuộc vào việc ưng thuận của Đức Maria, việc Chúa Kitô chịu đau khổ trong thân xác, thân xác mà Ngài lấy từ trong lòng Mẹ của Ngài, việc vai trò Kitô hữu như con Thiên Chúa, điều tùy thuộc vào sự chia sẻ của chúng ta qua hình ảnh người nhà của Chúa Giêsu, người con của Đavít, con của Đức Maria cũng không thật.        

Tất cả cùng với những trần thuật Thánh Kinh, những tín lý về Đức Maria của Giáo Hội đem chúng ta gần với thực tại nhập thể của gia đình Thiên Chúa. Một lần nữa, đối với những Kitô hữu tin tưởng, thì những tín điều cũng như những sự xuất hiện ấy không phải là trìu tượng hoặc bí ẩn. Chúng là những gì đã xảy ra cho một người sống động, người Mẹ của chúng ta.

Liên quan đến tấm gương Kitô hữu của Thánh Gioan thành Đamátcô, vị Giáo Phụ của Giáo Hội, người yêu mến Thánh Kinh đến nỗi đã rời về Giêrusalem để sống trong khung cảnh của nó. Ngài biết một cách chắc chắn, tất cả mọi hình ảnh của Cựu Ước về Đức Maria và Chúa Giêsu. Và ngài biết những việc xảy ra về cuộc đời của Đức Maria, bao gồm những điều mà không được công bố như những tín điều. Khoảng năm 740 A.D., ngài đã giảng ba bài về sự lên trời của Đức Maria, và ngài đã pha trộn những tín điều của Giáo Hội và những cách thức chúng ta đã trình bày trong sách này: Tân Evà, Hòm Bia Giao Ước, mẫu hậu. Đúng vậy, tuy Thánh Gioan chưa bao giờ giảng về những tư tưởng này; nhưng ngài đã trình bày trong Thánh Kinh khi nói về một người, người được đưa về trời do Thiên Chúa.

Lời cầu xin của ngài khi Đức Maria được đưa về trời là một lời kể đặc biệt: “Đavít là hình ảnh người cha của mẹ, và cha của mẹ trong Thiên Chúa, múa nhẩy vui mừng.” Ông nói: “Các thiên thần ca múa với ông, và các tổng thần vỗ tay.” Tưởng tượng quang cảnh này, Gioan đã không thấy Vua Đavít nhảy múa quanh một tín điều, hoặc quanh một ý tưởng trìu tượng về Hòm Bia Giao Ước (2 Sm 6:14). Hơn thế nữa, Gioan đã thấy Đavít múa nhảy vì tình yêu đối với một người, người đó là ái nữ và cũng là mẹ của nhà vua.

Tuy nhiên, đó là tín lý - sự giải thích Thánh Kinh không sai lầm của Giáo Hội - là điều có thể cho chúng ta thấy người Mẹ thật này một cách rõ ràng như Đavít đã thấy. Vì những tín lý là những dữ kiện của Đức Tin gìn giữ một viễn ảnh chắc chắn của gia đình Thiên Chúa.

 

Dự Án Cứu Độ Của Thiên Chúa:

Đầu Thai Vô Nhiễm

Đầu thai vô nhiễm là giáo lý dạy rằng Thiên Chúa gìn giữ Đức Maria khỏi mọi dấu vết của nguyên tội ngay từ giây phút đầu tiên Người được hoài thai trong lòng thân mẫu. Nhờ thế, Người sống trong tình trạng ơn thánh đã được chiến thắng bởi công phúc của Con mình, Chúa Giêsu. Vì vậy lời chào mừng của thiên thần đối với Đức Maria: “Kính mừng, đấng đầy ơn phúc”, đã được vang lên nhiều năm trước khi Chúa Giêsu chiến thắng sự chết đem lại ân sủng cho nhân loại. Vâng, Đức Maria là, và ngay cả sau đó “đầy ơn phúc”.

Đức Hồng Y John Newman đã dạy rằng, đầu thai vô nhiễm tội là điều theo sau quan trọng đối với vai trò của Đức Maria như Evà Mới. Ngài đã hỏi: “Nếu Evà được nâng lên trên bản tính nhân loại nhờ tặng ân luân lý mà chúng ta gọi là ân sủng, thì có quá đáng để nói rằng Đức Maria còn có cả một hồng ân cao cả hơn thế nữa? … Và nếu Evà đã nhận được ân huệ cao quí này được ban cho ngay từ giây phút đầu tiên bà hiện diện trong thân xác, thì có thể nào chối bỏ việc Đức Maria cũng đã được ơn ấy ngay từ lúc đầu tiên của Người?”

Newman cũng tìm thấy điều hợp lý đối với Chúa Kitô được sinh bởi người Mẹ vô nhiễm tội.

“Đức Maria không chỉ là dụng cụ trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Lời của Thiên Chúa… không chỉ đi qua Người, như Ngài đã đi qua chúng ta trong Thánh Thể. Nó cũng không phải là thân xác bởi trời mà Người Con Muôn Thuở đã vay mượn… Không, Ngài đã hấp thụ, Ngài đã uống máu của Mẹ, và bản thể của Mẹ đã hòa trộn vào trong Con Người Thiên Chúa của Ngài. Ngài trở thành con người từ Mẹ, và nhận lãnh những đường nét khuôn mặt từ Mẹ, và hình hài của mẹ như ngoại diện và thái độ mà qua đó Ngài có thể làm sáng tỏa chính mình cho thế giới. Ngài được biết đến, không nghi ngờ, bằng sự rập khuôn của Ngài với Mẹ, là người Con của Mẹ… Như vậy không đủ chứng tỏ… rằng Người Cha Muôn Thuở chẳng đã chuẩn bị Mẹ cho sứ vụ này bằng sự thánh hóa siêu vời đó sao?”

Đầu thai vô nhiễm nguyên tội là quan niệm thông thường của Giáo Hội tiên khởi. Thánh Ephrem thành Syria đã làm chứng điều này vào thế kỷ thứ tư, cũng như Thánh Augustinô vào thế kỷ thế năm. Thánh Augustinô đã đặt giáo lý này vào một văn mạch rõ ràng, qủa quyết, nói rằng nó có thể là một điều phạm đến Chúa Giêsu khi nói rằng Mẹ của Ngài là một tội nhân. Thánh Augustinô đã nói, tất cả chúng ta ai cũng có tội, “ngoại trừ Đức Thánh Trinh Nữ Maria, liên quan đến đấng, để vinh danh Thiên Chúa, Tôi hy vọng sẽ không có câu hỏi nào được nêu lên khi chúng ta nói về tội lỗi. Sau cùng, chúng ta hiểu thế nào về mức độ lớn lao ân sủng đối với một chiến thắng toàn diện trên tội đã được ban cho Người, đấng mang thai và sinh ra Ngài, cũng là Đấng tất cả thừa nhận là vô tội.”

Trong khi các nhà thần học Đông Phương, một cách nào đó, đã dạy về giáo lý mang ý nghĩa tiêu cực, nhấn mạnh đến việc Đức Maria vô nhiễm tội, thì thay vào đó, các giáo hội Tây Phương lại luôn luôn dạy về sự thánh thiện dư thừa của Người. Một từ ngữ thông dụng được có ảnh hưởng về Mẹ là Panagia, hoàn toàn thánh thiện; tất cả mọi sự trong Người là thánh thiện.

Dầu vậy, Giáo Hội đã không tuyên bố tín điều Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội cho đến năm 1954. Trong lúc đó, một số Kitô hữu - ngay cả một số thánh nhân - quan ngại khi cho rằng nói Đức Maria vô tội trước cả ngay giây phút đầu thai có thể một cách nào đó chối bỏ bản tính con người của Mẹ hoặc công việc cứu độ của Chúa Kitô. Do vậy, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã bày tỏ sự quan tâm này một cách đầy đủ khi ngài, một cách trang trọng, định nghĩa tín lý “Đức Thánh Trinh Nữ Maria, ngay trong giây phút đầu tiên hoài thai của mình, bởi ơn đặc biệt, và đặc ân được Thiên Chúa Toàn Năng ban cho, trong tầm nhìn về công trạng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, đã được gìn giữ thoát khoải mọi dấu vết của Nguyên Tội.”

Nó ngắn hơn một câu viết đơn giản, nhưng nó bao hàm một cách đầy đủ mọi lời giảng dạy. Đức Giáo Hoàng Piô làm cho nó trở nên sáng sủa hơn rằng đầu thai vô nhiễm tội là một biệt lệ (“số ít”) ân sủng của Thiên Chúa, cũng giống như việc nhập thể của Chúa Giêsu là một biến cố duy nhất trong lịch sử. Tiếp theo, ngài tuyên bố một cách không nghi ngờ rằng ơn huệ duy nhất này đã được Chúa Giêsu Kitô chiến thắng cho Đức Maria, Đấng Cứu Độ của Mẹ. Và sau cùng, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng đầu thai vô nhiễm nguyên tội là một hành động quyền năng để ngăn ngừa - một việc làm của Thiên Chúa, và không phải là hành động của chính Đức Maria.

Đầu thai vô nhiễm nguyên tội, vì thế, là hoa trái của ơn cứu độ ứng dụng cho Đức Maria bằng một cách thức nói lên rằng; ơn cứu độ luôn luôn ở trong ý định của Thiên Chúa hằng sống, Đấng không bị giới hạn bởi thời gian như chúng ta. Và do vậy, ơn cứu chuộc của Chúa Kitô ứng dụng cho bạn và cho tôi, mặc dù chúng ta không ở đó trên đồi Calvary - và nó đã ứng dụng đối với Đức Maria ngay giây phút người được hoài thai, nhờ vào cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô sau này. Ơn cứu độ của Người là một hành động ngăn ngừa, trong khi đối với nhân loại là hành động giải thoát.

Ngay cả hôm nay, chúng ta có thể nhìn thấy rằng Chúa Kitô, qua một hình thức so sánh, giải thoát một số tội nhân bằng cách cứu họ và bằng cách ngăn ngừa họ. Một số người quay đầu trở lại với thói quen tội lỗi, thí dụ, ăn cắp trong các siêu thị, xử dụng cần sa ma túy, hoặc ngoại tình, sau khi họ nhận được hồng ân trở lại. Nhưng số khác từ chối thói quen phạm tội ngay khi còn rất trẻ vì Chúa đã ban cho họ một ân huệ là được nuôi dưỡng trong một gia đình Kitô giáo đạo hạnh. Bất cứ cách nào, do ngăn ngừa hoặc giải thoát, ơn cứu độ là một tác động của Thiên Chúa. Trong dự án quan phòng của Ngài, Ngài đã thấy đường lối thích hợp đối với Đức Maria là ngăn ngừa khỏi tội một cách hoàn toàn, suốt mọi ngày trong cuộc sống của Mẹ.

Nếu Đức Maria không có tội, vậy người có thật sự cần Chúa Giêsu cứu độ không? Có. Người cần được cứu độ. Sự ngăn ngừa đặc biệt đã không loại bỏ vai trò không cần ơn cứu độ được chiến thắng cho mọi người bởi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, cũng thế, Ngài vừa là Đấng tạo dựng, là Đấng cứu chuộc chúng ta. Trong việc tạo dựng Đức Maria, Chúa đã giải thoát cho Người khỏi bất cứ những giới hạn thuộc bản tính con người hoặc sự yếu đuối đối với tội lỗi. Người là một tạo vật, nhưng lại là Mẹ của Ngài, và Ngài đã hoàn tất một cách tuyệt vời giới răn tôn kính Người. Ngài đã tôn kính Người trong một cách thế đẹp đẽ siêu việt.

 

Sức Hấp Dẫn Thai Nhi

Khi chúng ta đọc kinh Kính Mừng, chúng ta vang vọng một trong những danh hiệu cổ xưa nhất mà các Kitô hữu đã xưng tụng Đức Maria: Mẹ Chúa Trời (trong tiếng Hy Lạp, Theotokos, một cách văn chương có nghĩa “người mang Thiên Chúa”), Vào khoảng thế kỷ thứ ba (có thể là sớm hơn), Giáo Hội tại Ai Cập đã cầu: “Chúng con chạy đến sự chở che của Mẹ, Ôi, Mẹ thánh thiện của Thiên Chúa…” Những Giáo Phụ sớm hơn trước đó như các Thánh Clêmentê thành Alexandria, Origen, và Alexander đã kêu cầu Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa”, hoặc tương tự như “Mẹ của Chúa”. Lời cầu xin này của các tín hữu dựa theo lời khởi hứng của Isave chào mừng Đức Maria, người chị em của bà: “Và tại sao tôi được Mẹ của Chúa tôi đến với tôi?” (Lc 1:43).

Với lời mang ý nghĩa Thánh Kinh, tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” đã loan truyền không bị ngăn cản vào những thế kỷ đầu của Giáo Hội. Thêm vào đó, là sự bày tỏ theo sau một cách hợp lý từ kiến thức cần thiết của Kitô giáo về thiên tính của Chúa Kitô. Nếu Ngài là Thiên Chúa và Đức Maria là mẹ Ngài, thì người là Mẹ của Thiên Chúa.

Việc xử dụng truyền thống từ “Mẹ Thiên Chúa” tùy thuộc vào một nguyên tắc thần học được gọi là thông tri của những ngữ pháp đặc biệt của một ngôn ngữ (communication of idioms). Theo nguyên tắc này là sự trọn vẹn của chính Chúa Kitô với hai bản tính, thiên tính và nhân tính được hòa nhập trong Ngài, ở nơi một con người. Do đó, các Kitô hữu có thể nói một cách chắc chắn rằng, Thiên Chúa Ngôi Con chết trên thập giá tại Canvariô, cũng là Thiên Chúa không bao giờ chết. Và cũng vậy, người Kitô hữu luôn tin rằng, Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ ở Belem, cũng là Thiên Chúa hằng sống.

 Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ năm, một số các nhà thần học bắt đầu nêu lên những giá trị của danh hiệu “Mẹ Thiên Chúa” - hoài nghi được áp dụng vào Đức Maria liên quan đến “nguồn gốc” của Thiên Chúa. Những nhà thần học này có thể chấp nhận danh xưng “Mẹ Đức Kitô”, nhưng không phải là “Mẹ Thiên Chúa”. Các ngài còn tranh luận xa hơn nữa chống lại sự kết hợp hai bản tính của Chúa Kitô, cho rằng Đức Trinh Nữ sinh ra nhân tính nhưng không sinh ra thiên tính của Ngài.

Giáo Hội đã không chấp nhận, và danh xưng của Đức Maria đã được biện minh một cách hiệu quả bởi Đức Giáo Hoàng Celestine I, người đã dùng lời biện hộ của Thánh Cyrilô thành Alexandria, một nhà thần học dẫn đầu của lúc bấy giờ. Thánh Cyrilô chỉ ra rằng một người mẹ không chỉ sinh ra bản tính một người, nhưng là sinh ra một người. Đức Maria sinh ra Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã và là người Thiên Chúa. Dù Đức Maria đã không tạo ra Thiên Chúa, nhưng Người rõ ràng đã sinh ra Ngài. Người là “mẹ” Ngài.

Với chúng ta, việc tranh luận có thể coi như trừu tượng và hàn lâm, nhưng tiến trình bao gồm sự chú ý ngay ở các Kitô hữu bình thường thuộc thế kỷ thứ năm, đã thôi thúc họ lòng tôn sùng nhiệt thành. Lịch sử cho chúng ta biết rằng khi Đức Giáo Hoàng Celestine triệu tập Công Đồng Êphêsô (A.D. 431) để xác định bàn định về “Mẹ Thiên Chúa”, các tín hữu bao quanh thành phố, để chờ đợi quyết định của các giám mục. Khi các nghị phụ công bố quyết định của công đồng rằng Đức Maria thật vậy, là Mẹ Thiên Chúa, dân chúng hân hoan vui mừng và cung nghinh các giám mục (tất cả gồm 200 vị), tung hô và rước quanh trên các đường phố.

Hãy dừng lại giây phút để nghĩ về cường độ của những xúc cảm mà những tín hữu này đã cảm nhận về Rất Thánh Đồng Trinh Maria - từ khách hành hương tới những cư dân thành phố của công đồng, đang chờ ngoài cửa để lắng nghe tuyên tín của các giám mục, rồi ăn mừng cả đêm, tất cả chỉ vì người nữ ấy đã nhận được vinh dự đích thực của bà. Dân chúng không hành động như vậy vì yêu thích sự tranh luận uyên bác. Họ cũng không ăn mừng một chiến thắng do giải thích chữ nghĩa. Tôi dám nói rằng họ đã không thực hiện một cuộc lữu hành gian nan đến Êphêsô nhân danh bất cứ bà mẹ nào, ngoài người Mẹ của chính họ. Vì người Mẹ của chính họ cũng là Mẹ Thiên Chúa.

Khi chúng ta gọi Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa”, chúng ta chia sẻ niềm vui từ xa xưa. Vì được gói ghém trong một cụm từ bao gồm dữ kiện kinh ngạc đó là chúng ta là con cái Thiên Chúa. Chúng ta là anh chị em của Con Đức Maria-Thiên Chúa làm người-và không chỉ nguyên về phần nhân tính.

 

Một Lần Đồng Trinh, Đồng Trinh Trọn Đời 

Không có chỗ nào trong Phúc Âm của Mátthêu và Luca đã nghi ngờ về sự đồng trinh của Đức Maria khi mang thai Con Thiên Chúa (Mt 1:18; Lc 1:34-35; 3:23). Dĩ nhiên, các vị Giáo Phụ đầu tiên và trong các Kinh Tin Kính tất cả đã bảo vệ sự thật về việc đồng trinh khi mang thai. Tại sao Giáo Hội luôn luôn nhấn mạnh rằng, các Kitô hữu tin Chúa Giêsu “sinh bởi Đức Maria Đồng Trinh”? Bởi vì thiên chức Mẹ Đồng Trinh của Đức Maria được bảo đảm bởi thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu. Thánh Tôma Aquinas tóm lược: “Để thân xác Chúa Giêsu được tỏ hiện là một thân xác thật, Ngài được sinh ra bởi một người nữ, Để Thiên tính Ngài được tỏ hiện, Ngài được sinh ra bởi một trinh nữ.” Như chúng ta đã đọc trong những chương trên, sự đồng trinh của Đức Maria là rõ ràng đối với hiểu biết truyền thống về Người như một Evà Mới.

Vì thế, ngay từ khởi đầu của Giáo Hội, tên Maria đã luôn luôn xuất hiện với một chữ đặc biệt “đồng trinh”. Trong Kinh Tin Kính các Tông Đồ, Kinh Tin Kính Nicene, và trong những Kinh Tin Kính thanh tẩy trước đó của Rôma, và Phi Châu, các tín hữu phải một cách đồng loạt tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu “sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria”. Với các Kitô hữu tiên khởi, tin vào Chúa Giêsu là tin vào sự đồng trinh của Đức Maria.

Thật vậy, nhận thức về Đức Maria sẽ không được trọn vẹn nếu thiếu chữ “đồng trinh”. Mẹ là “Maria Đồng Trinh”. Sự đồng trinh không chỉ là thái độ cá nhân của Người, hoặc cách diễn tả về tình trang thể lý của Người. Đồng trinh đã trở thành một phần của Người để trở nên như tên gọi. Khi văn chương hoặc thi ca liên quan đến “Đồng Trinh” hoặc “Thánh Nữ Đồng Trinh”, thì điều ấy có thể được hiểu là chỉ duy nhất nói về một người: Đức Maria.

“Đồng trinh” một lần và mãi mãi, đó chính là Người. Vì thế, Giáo Hội đã mạnh mẽ dạy rằng Đức Maria đã gìn giữ sự đồng trinh của Người không chỉ trước khi mang thai Chúa Giêsu, nhưng mãi mãi về sau nữa. Mặc dù Người đã kết hôn với Thánh Giuse, thì hai đấng không bao giờ có hành động vợ chồng trong đời sống hôn nhân. Giáo lý này được hiểu như sự “Trọn Đời Đồng Trinh” của Đức Maria.

Những tà giáo trong Giáo Hội sơ khai đôi khi thách đố về lời giảng dạy này, nhưng họ đã không bao giờ thắng cuộc. Những lý luận về sách thánh một cách giả định của họ đều bị đánh bại bởi những người như Thánh Giêrônimô, một học giả lẫy lừng về Thánh Kinh của Giáo Hội sơ khởi. (Giêrônimô còn là một tên gọi quen thuộc, và ngài xứng đáng với những gì mà ngài đã gây tổn hại cho những kẻ dám nêu lên câu hỏi về sự trọn đời đồng trinh của Đức Maria). Vậy những câu hỏi của những người tà giáo kia là gì?

Cả khối những lý luận của họ nhằm thách thức về những trang Tân Ước liên quan đến “anh em”  Chúa Giêsu. Chúng ta thấy trong Phúc Âm Thánh Máccô chẳng hạn: “Đây không phải là anh thợ mộc, con của bà Maria và anh em với Giacôbê, Gioxuê, Giuđa, và Simon sao? Chị em của ông chẳng ở đây với chúng ta sao? (6:3). Trong Phúc Âm Thánh Mátthêu, chúng ta cũng thấy: “Này, mẹ Người và anh em Người đang đứng ngoài kia, hỏi để nói chuyện với Người” (12:46). Và trong Phúc Âm Luca, chúng ta đọc thấy rằng Chúa Giêsu là “con đầu lòng” của Đức Maria (2:7).

Điều này rõ ràng không có vấn đề đối với những ai quen thuộc với phong tục của người Do Thái. Trong tiếng Do Thái, chữ “anh em” là một từ ngữ có ý nghĩa tổng quát, áp dụng cho cả những anh em họ. Thật ra, trong cổ ngữ Do Thái không có từ họ hàng. Đối với một người Do Thái thời Chúa Giêsu, anh em họ của một người cũng được coi như anh em của người đó. Nguyên tắc thân thuộc này cũng áp dụng trong những ngôn ngữ gốc Do Thái như Aramaic, là ngôn ngữ mà Chúa Giêsu nói. Hơn nữa, một cách khẳng định bởi vì Chúa Giêsu là con duy nhất, những anh em họ của Ngài cũng giả định là họ hàng hợp lý đối với Ngài, như họ là những người thân cận nhất đối với Ngài. Sau cùng, chữ “con đầu lòng” không nêu lên những khó khăn gì, bởi vì nó là từ ngữ của luật pháp trong Do Thái cổ xưa được áp dụng cho đứa trẻ “đi ra từ dạ mẹ” không nhất thiết phải có những đứa con được sinh ra sau đó.

Những người tà đạo cũng lập lại những tài liệu mà xem như - một lần nữa, đối với những ai không quen thuộc với những hình thức diễn tả của người Do Thái - để ám chỉ rằng Maria và Giuse đã có sự gần gũi thân xác sau này. Họ muốn trích dẫn Mátthêu 1:18: “Chúa Giêsu sinh ra trong hoàn cảnh sau đây. Mẹ Ngài là Maria đã đính hôn với Giuse, trước khi họ về với nhau, bà đã có thai bởi Chúa Thánh Thần”. Phản biện của Thánh Giêrônimô với Helvidius và đã đặt câu hỏi của ngài một cách thẳng thắn về chữ “trước” trong câu nói đó, phản bác rằng Mátthêu đã chẳng bao giờ áp dụng “trước khi họ về với nhau” đối với một cặp vợ chồng mà họ chẳng bao giờ ăn ở với nhau. Helvidius cũng trích dẫn đoạn sau đây của Mátthêu đã xác định rằng Giuse “không biết bà cho đến khi bà sinh con” (1:25). Một lần nữa, Helvidius nói rằng Mátthêu dùng từ “cho đến khi” ám chỉ rằng Giuse sau đó đã “biết” Đức Maria.

Đó là một thí dụ cổ điển của một nhà chú giải tài tử. Một cách rõ ràng và dễ dàng được nâng lên bởi một học giả Thánh Kinh chuyên nghiệp. Trả lời cho Helvidius, Giêrônimô đã chứng minh rằng Thánh Kinh “thông thường dùng một thời gian xác định… để chỉ rõ thời gian vô giới hạn, như khi Thiên Chúa dùng miệng các tiên tri nói với những người nhất định, ‘Cho dù đến tuổi già, Ta vẫn là Người” (Is 46:4). Giêrônimô đã lớn tiếng: “Ngài sẽ thôi là Thiên Chúa khi họ đã già?” Câu trả lời, dĩ nhiên là không. Rồi Giêrônimô tiếp tục trưng dẫn lời Chúa Giêsu, Đấng đã nói: “Này, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).

Wryly, Giêrônimô đã hỏi Helvidius nếu ông ta nghĩ liệu Chúa sẽ bỏ quên các môn đệ của Ngài sau khi tận thế! Giêrônimô đã đưa ra nhiều thí dụ như vậy, nhưng chúng ta không cần nhắc lại ở đây. Nó đủ để nói rằng những kẻ nêu lên câu hỏi về sự đồng trinh của Đức Mẹ không có lấy một chỗ trong Thánh Kinh để dựa vào - và Truyền Thống Kitô Giáo đã chống lại họ một cách đồng nhất.

Nếu họ muốn tìm một dẫn chứng ứng dụng trong Thánh Kinh, họ có thể khảo cứu chương đầu của Phúc Âm Thánh Luca. Ở đó, tổng thần Gabirien hiện đến cùng Đức Maria - người đã đính hôn với Giuse - và nói rằng người sẽ thụ thai một con trai. Đức Maria đã trả lời: “Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1:27-34).

Trong tình huống ấy, có thể là một câu hỏi ngớ ngẩn nếu muốn biết liệu Đức Maria có ý định quan hệ vợ chồng trong một cuộc hôn nhân bình thường với người phối ngẫu của Người. Thiên thần đã chỉ nói với Người rằng Người sẽ thụ thai một con trai, mà điều này là một biến cố công khai trong cuộc đời hôn nhân của Người. Nếu Helvidius đúng, thì Đức Maria đã biết rõ ràng “điều này sẽ như thế nào?”  Nó sẽ xảy ra trong tương quan tự nhiên.

Nhưng điều này, rõ ràng vượt ra ngoài phạm vi có thể đối với Người. Giả thiết không được đề cập tới bên trong câu hỏi của Người là, ngay cả khi đã đính hôn, Người phải chăng không có cơ hội để thụ thai sao? Một số các nhà bình luận suy luận rằng Đức Maria đã phải thề giữ đồng trinh khi còn rất trẻ, và rằng Giuse đã biết và đã chấp nhận lời thề ấy. Chính ngài cũng thực hành như vậy. Những người phản đối đáp lại rằng lời thề độc thân hầu như không nghe thấy trong dân Do Thái cổ xưa. Tuy nhiên, chúng ta đã tìm thấy những thí dụ ấy vào thời của Chúa Giêsu, rõ ràng trong Tân Ước là trường hợp của chính Chúa Giêsu, của Thánh Phaolô và nhiều người khác. Những Cuộn Sách Biển Chết xác nhận rằng đời độc thân là một thực hành thông thường của một số tôn giáo ở Do Thái. Vì thế không cần phải suy nghĩ về trường hợp Đức Maria đã khấn đồng trinh.

Tóm lại, rất rõ ràng từ trong Thánh Kinh và Tuyền Thống Giáo Hội, Người đã sống đời đồng trinh của mình - đến độ, đối với mọi thời đại, Người đã trở thành nhân cách hóa về điều này. Thánh Epiphanius đã phủ nhận mọi tranh luận ngược lại với sự đồng trinh của Đức Maria với nhân chứng của danh Người. Ngay cả trong thời ngài (thế kỷ thứ tư), Người đã được xác định rõ ràng chính là “Đấng Đồng Trinh”. Một người con tốt lành bênh vực một cách vững vàng cho danh dự mẹ của mình - mặc dù trong mọi lúc Ngài không cần phải làm thế với một cuộc tranh luận, khảo cứu dài dòng. Ngoài ra, vẫn có những dẫn chứng nữa, và những người con của Đức Maria, nếu được tranh luận, cũng có thể dùng Thánh Kinh để bênh vực như Giêrônimô đã làm.

 

Hồng Ân Về Trời

Trước đây chúng ta đã khẳng định rằng Đức Kitô yêu kính mẹ của Ngài bằng cách ngăn ngừa cho Người khỏi tội ngay từ giây phút đầu tiên trong đời của Người.

Điều này là một vinh dự lớn lao, nhưng chúng ta biết rằng Ngài không dừng lại ở đó. Vì Mẹ đã lãnh nhận ơn cứu chuộc như hoa trái đầu mùa của Chúa Kitô. Do đó, Người cũng được sống lại trong thân xác và vinh quang nước trời. Chúng ta thấy điều này trong Thánh Kinh: “Và một điềm vỹ đại xuất hiện trên trời, một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12:1). Chúa Kitô đã đặt Hòm Bia của Giao Ước Mới làm nơi cư ngụ trong nơi cực thánh của đền thờ Giêrusalem trên trời. Điều này chúng ta tuyên xưng như việc Lên Trời của Rất Thánh Đồng Trinh Maria. Vào lúc cuối của thời gian trên mặt đất, Đức Maria đã được cất lên trời cả hồn lẫn xác.

Những tài liệu dẫn chứng về việc lên trời xuất phát từ thế kỷ thứ tư. Cuối thế kỷ thứ sáu, giáo lý về ngày lễ này đã được thiết lập trên toàn Giáo Hội.

Không có chứng cớ phản đối một cách thách đố hoặc bác bỏ trong thời gian các Giáo Phụ. Cũng không có giáo hội địa phương hoặc thành phố nào tuyên bố mình đã lưu giữ thánh tích của Thánh Nữ Đồng Trinh. Điều này tự nó là một cái gì phi thường. Trong thời Giáo Hội sơ khai, các thành phố, các thánh đường đã tranh đua nhau chiếm hữu các xương của những tông đồ cả và các vị tử đạo. Nếu xương thánh của Đức Maria còn lưu lại trên mặt đất, dĩ nhiên, sẽ trở thành những thánh vật vô giá. Người ta sẽ đi tìm kiếm các thánh tích này, và việc di chuyển từ thành này qua thành khác sẽ được chứng nhận tỏ tường. Nhưng, một lần nữa, lịch sử đã không chứng minh được bất kỳ dấu hiệu nào về hộp đựng thánh tích của Đức Maria - ngoài ngôi mộ trống của Người. (Và hai thành phố đã xác nhận nơi an táng này).

Những chứng cớ sống động đáng tin nhất về việc được đưa về trời của Mẹ có từ thế kỷ thứ sáu - Thánh Grêgôriô thành Tour. Những tài liệu trước đó, thí dụ, thế kỷ thứ tư Đức Maria Ly Trần, làm chứng về sự lên trời của Người. nhưng với lời diễn giải rằng có thể có quá ngoại thường và vô lý để tin. Chúng ta có thể chấp nhận điều này như một lời chứng cho giáo lý mà không chấp nhận như thẩm quyền trong những chi tiết nhỏ nhặt.

Nhà học giả Thánh Kinh và thần học gia lẫy lừng, Thánh Gioan thành Đamátcô đã để lại một tặng vật đáng tin tưởng và tồn tại về vấn đề này. Chúng ta đã suy niệm trước đó rằng ba bài giảng của Thánh Gioan đều quyện lẫn tất cả những dấu chứng của Thánh Kinh được thảo luận trong sách này thành hình ảnh đơn thuần của một người Mẹ trên thiên đàng. Ngài nối kết một cách đặc biệt với những bài đọc phụng vụ cho ngày lễ và đêm canh thức của nó. Nó cũng là những bài đọc mà Giáo Hội dùng hôm nay.

Những bài đọc này chỉ cho chúng ta những gì? Chúng nói lên rằng các Kitô hữu luôn luôn tôn kính Đức Maria như Hòm Bia của Giao Ước. Thánh Gioan dẫn chứng một cách xác thực dựa vào Biên Niên Sử quyển I, chương 15, trong đó Vua Đavít triệu tập tất cả con cái Israrel đem Hòm Bia của Chúa đặt vào Giêrusalem. Mặc dầu Gioan thành Đamátcô không bao giờ trích dẫn Khải Huyền 11:19-12:17, ngài vẫn liên tục gọi Đức Maria là Hòm Bia, và diễn tả việc Đavít nhẩy múa quanh Người khi Người về trời. Nối kết này tiếp tục được thánh vịnh nhắc tới trong lễ Vọng Đức Mẹ Lên Trời: “Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với Hòm Bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi” (Tv 132:8). Có thể tìm đây một dòng nào tóm lược cách đầy đủ hơn việc Vua Đavít di chuyển Hòm Bia - hoặc Con của Đavít đặt Hòm Bia vào nơi mới của nó?

Thánh Gioan thành Đamátcô cũng dẫn chứng cách suy diễn về Evà và vườn Diệu Quang để chỉ rằng việc lên trời đã xảy ra trong những ngày cuối đời của Đức Maria:

“Hôm nay, Vườn Diệu Quang của Adong Mới đón chào Thiên Đường sống động của mình. Trong Người bản án của chúng ta đã được hủy bỏ… Evà đã nghe lời con rắn… và, cùng với Adong, đã bị phạt tội chết và đã đem lại cho toàn thế giới sự tối tăm. Nhưng làm sao sự chết có thể nuốt được linh hồn rất thánh này, Người đã vâng lời Thiên Chúa?... Làm thế nào sự hư hỏng dám đụng chạm đến thân xác đã mang trong mình Sự Sống? Tư tưởng này đáng khinh tởm và hoàn toàn không xứng hợp với thân xác và linh hồn của Mẹ Thiên Chúa.”

Vì thế cho nên, những Giáo Phụ cuối cùng này làm cho rõ ràng những gì đã được áp dụng trong giáo lý của những vị tiền nhiệm của ngài ở thế kỷ thứ hai: Vai trò của Đức Maria như Evà Mới đòi hỏi niềm tin của chúng ta vào việc thân xác Người được về trời.

Những bài đọc của thánh lễ cũng chỉ cho chúng ta việc lên trời xác định Đức Maria như Hoàng Hậu đến muôn đời như thế nào. Đáp ca trong thánh lễ tự nó vẽ lại quang cảnh tiệc cưới của triều đình Đavít: “Hoàng hậu đứng bên hữu đức vua, trang điểm vàng dòng” (Tv 45:9). Đúng vậy, vị trí như diễn tả triều đình thiên quốc của vương triều Đavít cuối cùng, Chúa Giêsu Kitô, Đấng thống trị với Mẫu Hậu của Ngài ở bên hữu Ngài - như Salômon ngự trên ngai củng với Bathsheba ở bên. “Như vậy là xứng hợp”, Thánh Gioan Đamátcô tuyên bố - sau khi gọi Chúa Kitô là Salômon Mới - rằng người Mẹ phải được nâng lên trong nơi ở của bà trong Kinh Thành của Con bà”.

Tại sao trên thiên đàng Thiên Chúa lại thiết lập một Hoàng Hậu như thế? Người hơn cả vai trò của Ngài? Người là Mẹ của Ngài. Thánh Gioan Đamátcô suy niệm chữ cuối như sau: “Những vinh dự Ngài dành cho Người - Ngài là Đấng dạy chúng ta phải tôn kính cha mẹ chúng ta”.

 

Kiểu Nói Thần Thánh        

Một số người không phải là Công Giáo cho rằng, tất cả những giáo lý về Thánh Mẫu được thêm vào cho việc tôn sùng Đức Maria - hoàn toàn ảo tưởng và ngây thơ.

Đã ít nhất một lần tôi cũng nghĩ như vậy. Là một người trẻ theo phái Phúc Âm, tôi đã bị choáng ngợp với những câu trích dẫn Thánh Kinh coi Đức Maria như nữ thần Ishtar của dân Babylon, mà việc tôn sùng được tiên tri Giêrêmia nhắc đến (7:18;44:15-17). Tôi đã tin rằng việc tôn kính Đức Maria không gì hơn là việc tôn sùng một nữ thần được đưa vào Kitô giáo do những dân ngoại từ xa xưa đã bị dụ dỗ trở lại.

Dĩ nhiên, tôi đã sai - trên tất cả là trong niềm tin của tôi rằng, người Công Giáo “thờ phượng” Đức Maria. Nhưng thực tế, Giáo Hội chỉ tôn kính và vinh danh Người như một vị thánh cao cả nhất trong các thánh, còn việc thờ phượng và tôn thờ chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi. Thực tế, những Kitô hữu tiên khởi là những người nhiệt thành nhất trong việc tôn sùng Đức Maria. Và họ cũng là những Kitô hữu từ chối bất cứ dấu vết địa phương nào còn lại trong việc tôn thờ các nữ thần.

Một lần nữa, tôi đã sai khi lên án danh hiệu “Nữ Vương Thiên Đàng” bởi vì danh hiệu này có lúc đã được áp dụng cho những nữ thần dân ngoại. Những phản Kitô đã dùng nó trong những tranh luận để làm giảm giá trị việc tôn vinh Chúa Giêsu Kitô. Họ cho đó là một hình thức tiếp cận so sánh tôn giáo. Thực ra nó như thế này: nhiều huyền thoại dân ngoại cổ xưa đã nói về một người “con của một vị thần” được sinh ra bởi một trinh nữ, người này đã đến trên thế gian, đã chết, đã sống lại từ cõi chết. Vì vậy, “mầu nhiện về Giêsu” sau này được coi như không gì khác hơn là một bản sao.

Ngược lại, từ những Kitô hữu trổi vượt như C.S. Lewis, tôi đã học thấy rằng những so sánh giữa Kitô giáo và dân ngoại phải được hiểu như một cách chuẩn bị cho Phúc Âm - Con đường của Thiên Chúa đã ban cho, ngay cả các dân ngoại một dấu chỉ (Lewis gọi những dấu hiệu báo trước là “những giấc mơ lạ”) về một tương lai vinh quang mà một ngày nào đó sẽ là của chính họ.

Tác giả:  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!